Phan Vũ Cẩm Nhung

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phan Vũ Cẩm Nhung
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản  văn nghị luận, kết hợp một yếu tố tường thuật giới thiệu vấn đề.


Câu 2: Vấn đề được đặt ra trong văn bản là:

Tại sao chúng ta thường quên đi rất nhiều ý tưởng tuyệt vời trong ngày, làm thế nào để nắm bắt, phát triển những ý tưởng đó để trở nên thông minh, sáng tạo hơn.


Câu 3: Tác giả khuyên chúng ta không nên tin tưởng hoàn toàn vào bộ nhớ vì:

Một người trưởng thành trung bình  tới 50.000 suy nghĩ mỗi ngày, não bộ tự động lọc bỏ hầu hết thông tin không cần thiết để tránh rối loạn thần kinh, khiến chúng ta quên đi một cách tự động rất nhiều ý tưởng tuyệt vời  não bộ đã tạo ra.

Câu 4: Các lời khuyên của tác giả để trở thành người thành công:

  1. Ghi lại những ý tưởng bất chợt nảy ra, thay  để chúng bị quên mất do bộ não tự động lọc bỏ
  2. Xem lại những ý tưởng đã viết khoảng 3 lần mỗi tuần để củng cố  biến chúng thành những dự án to lớn hơn
  3. Lọc ra các ý tưởng  tính hữu ích thấp, sắp xếp  tập trung phát triển những ý tưởng  tiềm năng thành công

Câu 5: Nhận xét về cách lập luận của tác giả:

Tác giả sử dụng cách lập luận ràng, logic mang tính thuyết phục cao:

  1. Bắt đầu bằng con số thực tế (50.000 suy nghĩ mỗi ngày) để tạo ấn tượng mạnh mẽ về khối lượng thông tin não bộ xử 
  2. Sử dụng thuật ngữ khoa học chính xác để giải thích  chế hoạt động của não bộ khi tạo ra ý tưởng sáng tạo
  3. Chia bài viết theo cấu trúc  ràng: từ nêu vấn đề, giải thích nguyên nhân đến đưa ra giải pháp thực tế, dễ hiểu  dễ áp dụng cho người đọc.

Câu 1. 
Hàng trăm di tích lịch sử trên đất nước Việt Nam hiện đang đối mặt với nguy xuống cấp nghiêm trọng, không chỉ do tác động của thiên nhiên còn do sự khai thác quá mức của du lịch thiếu ý thức bảo vệ của cộng đồng. Để hạn chế tình trạng này, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp căn cơ. Trước hết, các quan quản nhà nước cần đầu nguồn lực để số hóa toàn bộ dữ liệu 3D các di tích, đồng thời tiến hành kiểm tra, sửa chữa định kỳ các hạng mục hỏng do thời gian gây ra, như đã thực hiện thành công tại khu di tích Yên Tử (Quảng Ninh) những năm gần đây. Bên cạnh đó, cần tăng cường tuyên truyền để nâng cao ý thức của du khách người dân địa phương: từ việc cấm viết bậy, phá hoại cổ vật, đến khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý, bảo vệ di sản như hình du lịch cộng đồng đang triển khai tại nhiều địa phương. Cuối cùng, cần quy hoạch giới hạn số lượt khách tham quan hàng ngày đối với các di tích nhạy cảm, vừa giữ gìn được nguyên trạng di tích, vừa đảm bảo trải nghiệm của du khách. Chỉ sự chung tay của nhà nước, cộng đồng mỗi nhân, những di sản quý giá của cha ông mới thể tồn tại bền vững với thời gian. Câu 2. 
Bốn khổ thơ ngắn của Hoàng Quang Thuận trong Đường vào Yên Tử đã vẽ nên bức tranh đầy sức sống về vùng đất thiêng Yên Tử, vừa giữ được hồn cốt truyền thống, vừa mang nét thẩm mỹ riêng của thơ ca hiện đại. Về nội dung, tác phẩm không chỉ tôn vinh vẻ đẹp thiên nhiên hùng của dãy núi Yên Tử, còn thể hiện niềm tự hào về sự tiếp nối không ngừng của đời sống văn hóa, tâm linh tại vùng đất này. Ngay từ câu mở đầu “Đường vào Yên Tử khác xưa”, nhà thơ gợi mở sự chuyển động của thời gian: con đường đá vốn kỹ nay đã mòn đi “chân lễ hội mùa”, chứng minh dòng người hành hương, tham quan vẫn không ngừng đổ về, giữ gìn được linh hồn của vùng đất Phật hoàng Trần Nhân Tông. Bên cạnh đó, những hình ảnh như “núi biếc cây xanh lá”, “đàn bướm tung bay trong nắng trưa”, “mái chùa thấp thoáng giữa trời cao” còn thể hiện sự hòa quyện hoàn hảo giữa cảnh quan tự nhiên đời sống văn hóa, tạo nên một Yên Tử vừa thiêng liêng, vừa tràn đầy sức sống của đời thường.

Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật với nhịp điệu thơ lục bát tự nhiên, mềm mại, kết hợp với thủ pháp tả thực pha chút lãng mạn đặc sắc. Nhà thơ sử dụng hàng loạt động từ sống động như “mòn”, “tung bay”, “đong đưa” để làm cho cả bức tranh Yên Tử chuyển động, không còn khung cảnh tĩnh lặng của núi non cổ tích, không gian đang thở, đang sống cùng nhịp đập của cộng đồng. Đặc biệt, hình ảnh so sánh độc đáo “Trông như đám khói người Dao vậy” khi tả lớp mây bao phủ núi rừng đã phá vỡ tính khuôn mẫu của thơ ca viết về Yên Tử: nhà thơ không chỉ nhắc đến không gian tâm linh của chùa chiền, còn lồng vào đó đời sống bình dị của người dân tộc Dao đang sinh sống bền vững trên vùng đất này, làm cho bức tranh Yên Tử thêm đa dạng, giàu bản sắc dân tộc. Tất cả những yếu tố trên đã tạo nên một bài thơ ngắn nhưng đủ sức lay động người đọc, gợi lên niềm yêu thích với vùng đất thiêng Yên Tử.

Câu 1:
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thuyết minh.

Câu 2:
Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là đô thị cổ Hội An.

Câu 3:
Thông tin trong câu văn được trình bày theo trình tự thời gian: từ thế kỉ XVI (hình thành), đến thế kỉ XVII–XVIII (thịnh đạt), rồi thế kỉ XIX (suy giảm).
Cách trình bày này giúp người đọc nhận thấy rõ quá trình phát triển và biến đổi của Hội An một cách logic, mạch lạc.

Câu 4:
Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng là hình ảnh minh họa về Hội An.
Tác dụng: giúp nội dung trở nên trực quan, sinh động, hỗ trợ người đọc dễ hình dung và tiếp nhận thông tin hiệu quả hơn.

Câu 5:
Mục đích của văn bản là giới thiệu và cung cấp thông tin về đô thị cổ Hội An.
Nội dung chính: trình bày về vị trí địa lí, lịch sử hình thành – phát triển, giá trị văn hóa và việc Hội An được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.

CÂU 1 Nhân vật bà má trong bài thơ “Bà má Hậu Giang” của Tố Hữu là hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ nông dân Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Bà hiện lên với vẻ ngoài giản dị, nghèo khó nhưng chứa đựng một tinh thần yêu nước kiên cường, bất khuất. Khi bị tên giặc xông vào nhà tra khảo, bà má vẫn bình tĩnh, gan dạ, kiên quyết không khai nơi ẩn náu của du kích. Dù bị đe dọa, đánh đập tàn bạo, bà vẫn giữ vững niềm tin, thà hi sinh mạng sống chứ không phản bội Tổ quốc. Bà má không chỉ là người mẹ cụ thể trong bài thơ mà còn là biểu tượng cho hàng vạn bà mẹ Việt Nam anh hùng — những người đã âm thầm hi sinh, nuôi giấu cán bộ, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Qua hình tượng ấy, ta càng thêm khâm phục, biết ơn và tự hào về tinh thần yêu nước, lòng trung kiên của phụ nữ Việt Nam trong chiến đấu và bảo vệ quê hương. CÂU 2 :Từ hình tượng bà má trong bài thơ “Bà má Hậu Giang”, ta cảm nhận sâu sắc tinh thần yêu nước và lòng hi sinh cao cả của nhân dân ta trong những năm tháng kháng chiến gian khổ. Họ sẵn sàng hiến dâng cả tính mạng để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Điều đó đặt ra cho thế hệ trẻ hôm nay một trách nhiệm lớn lao: sống sao cho xứng đáng với công lao của cha anh.

Trong thời đại hòa bình, trách nhiệm của tuổi trẻ không còn là cầm súng ra trận, mà là góp phần xây dựng, phát triển đất nước bằng tri thức, ý chí và lòng yêu nước. Mỗi người trẻ cần ra sức học tập, rèn luyện đạo đức, nâng cao tinh thần tự lập, sống có ước mơ và hoài bão. Bên cạnh đó, cần biết quan tâm đến cộng đồng, chung tay bảo vệ môi trường, tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Chỉ khi thế hệ trẻ ý thức sâu sắc được trách nhiệm của mình, sống đẹp, sống có ích và hành động vì tương lai đất nước, thì sự hi sinh của những bà má Hậu Giang năm xưa mới thật sự được đền đáp xứng đáng.

Câu 1: Văn bản được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2: Trong bài thơ Bà má Hậu Giang, một tên giặc Tây xông vào nhà, tra hỏi bà má về nơi ở của du kích. Dù bị tra tấn, đe dọa và đánh đập tàn nhẫn, bà má vẫn kiên cường không khai, chấp nhận hi sinh để bảo vệ cách mạng.

Câu 3: Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc là: đạp đổ liếp mành, tuốt gươm, đạp lên đầu má, kề gươm vào hông, hét lớn đe dọa. Nhân vật này hiện lên là kẻ tàn bạo, vô nhân tính, đại diện cho bộ mặt dã man của thực dân xâm lược.

Câu 4: Hai dòng thơ sử dụng so sánh: “Như rừng đước mạnh, như rừng chàm thơm!”. Biện pháp này làm nổi bật sức sống mãnh liệt, tinh thần gan dạ, kiên cường của con bà má và cũng là của nhân dân Nam Bộ trong kháng chiến.

Câu 5: Hình tượng bà má thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc, lòng căm thù giặc và ý chí hi sinh quên mình vì Tổ quốc. Qua đó, em thấy nhân dân ta thật anh hùng, kiên cường trong mọi thời đại. Là học sinh hôm nay, em càng thêm biết ơn, trân trọng quá khứ và quyết tâm học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước hòa bình, tươi đẹp.

Câu 1 Nhân vật người chinh phụ trong đoạn trích Chinh phụ ngâm hiện lên với nỗi nhớ thương và cô đơn sâu sắc. Chồng đi chinh chiến nơi biên ải, nàng ở nhà mòn mỏi trông tin, “trải mấy xuân tin đi tin lại, tới xuân này tin hãy vắng không”. Từng hành động nhỏ như gieo quẻ bói, ngồi rèm ngóng, thắp đèn chờ đều cho thấy một tấm lòng chung thủy, son sắt. Hình ảnh “đèn có biết dường bằng chẳng biết” làm nổi bật nỗi cô độc của người phụ nữ — đến ngọn đèn vô tri cũng trở thành bạn tâm tình. Qua đó, ta thấy người chinh phụ không chỉ nhớ chồng mà còn đau khổ vì cảnh chia ly, vì chiến tranh đã cướp đi hạnh phúc lứa đôi. Tác giả đã thể hiện thật tinh tế tâm hồn người phụ nữ xưa — dịu dàng, thuỷ chung, nhưng cũng khát khao hạnh phúc. Nhân vật người chinh phụ vì thế vừa đáng thương, vừa đáng trân trọng. Câu 2 Chiến tranh từ xưa đến nay luôn để lại những mất mát, đau thương khôn nguôi. Trong Chinh phụ ngâm, người chinh phụ phải sống trong cô đơn, ngày ngày mong tin chồng, nỗi đau ấy là kết quả của những cuộc binh đao tàn khốc. Ngoài chiến trường, người lính đối diện cái chết, sự chia ly, còn nơi quê nhà, bao người mẹ, người vợ, người con chịu cảnh chờ đợi, lo sợ, nước mắt không nguôi. Chiến tranh không chỉ cướp đi mạng sống mà còn cướp cả tuổi trẻ, hạnh phúc và bình yên của con người.

Ngày nay, đất nước ta đã hòa bình, nhưng ký ức chiến tranh vẫn nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng giá trị ấy. Hòa bình không tự nhiên mà có, đó là thành quả của biết bao máu xương, hi sinh. Là thế hệ trẻ, chúng ta cần biết ơn những người đi trước, sống có trách nhiệm, học tập, rèn luyện tốt để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Bảo vệ hòa bình không chỉ bằng vũ khí, mà bằng tri thức, lòng nhân ái và tinh thần đoàn kết. Chỉ khi biết trân trọng quá khứ, chúng ta mới thật sự xứng đáng với cuộc sống yên bình hôm nay.

Câu 1. Thể thơ: Song thất lục bát.

Câu 2. Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng là:
“Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.”

Câu 3. Người chinh phụ nghe tin, gieo quẻ bói, viết thư, dạo hiên ngóng, ngồi rèm chờ... → Những hành động ấy thể hiện nỗi nhớ thương, lo lắng và cô đơn sâu sắc của người vợ khi xa chồng.

Câu 4. Biện pháp tu từ: Nhân hoá – “Đèn có biết dường bằng chẳng biết” → làm cho ngọn đèn như có tâm hồn, giúp thể hiện nỗi cô đơn đến cùng cực của người chinh phụ khi chỉ còn ngọn đèn làm bạn.

Câu 5. Người chinh phụ mang tâm trạng cô đơn, nhớ thương, buồn tủi và mong mỏi đoàn tụ.
→ Qua đó, em thấy cuộc sống hoà bình hôm nay thật quý giá, giúp mọi người được sống trong hạnh phúc, sum vầy, không còn cảnh chia ly vì chiến tranh.

Câu 1. (2,0 điểm)

Nhân vật Lý Hữu Chi trong truyện Chuyện Lý tướng quân là hình ảnh tiêu biểu cho những kẻ tham lam, độc ác và kiêu ngạo trong xã hội phong kiến xưa. Xuất thân từ một người nông dân, nhờ sức mạnh và tài đánh trận, Lý được tiến cử làm tướng quân. Tuy nhiên, khi có quyền lực, hắn lại tha hóa, lộ rõ bản chất xấu xa, coi thường nho sĩ, dựa dẫm kẻ xấu, cướp bóc dân lành, vơ vét của cải, ép dân phục dịch cực khổ. Lý Hữu Chi còn phủ nhận lời khuyên thiện, ngạo mạn cho rằng có sức mạnh thì “trời cũng phải tránh”. Cuối cùng, hắn bị trừng phạt nơi âm phủ với những hình phạt khủng khiếp. Qua nhân vật này, tác giả muốn phê phán kẻ cậy quyền làm ác, đồng thời khẳng định luật nhân quả nghiêm minh: kẻ ác sớm muộn cũng phải đền tội. Câu 2. (4,0 điểm) Trong cuộc sống, lòng tham là một trong những thói xấu nguy hiểm nhất của con người. Câu chuyện về Lý Hữu Chi trong Chuyện Lý tướng quân là lời cảnh tỉnh sâu sắc: vì lòng tham vô độ mà hắn trở nên tàn ác, cuối cùng phải chịu hậu quả đau đớn.

Lòng tham khiến con người mờ mắt trước danh lợi, sẵn sàng làm điều sai trái để thỏa mãn ham muốn cá nhân. Người tham lam vật chất có thể tham ô, trộm cắp, gian dối để làm giàu. Trong học tập, lòng tham thể hiện qua hành vi gian lận, quay cóp để đạt điểm cao. Khi lòng tham chi phối, con người đánh mất nhân cách, đánh mất cả lòng tin của người khác, gây tổn hại cho xã hội và chính bản thân mình. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều bi kịch trong đời sống.

Để hạn chế lòng tham, mỗi người cần rèn luyện đức tính trung thực, biết đủ, sống giản dị và hướng thiện. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần giáo dục đạo đức, bồi dưỡng lòng nhân ái, tinh thần sẻ chia để con người biết sống vì người khác. Khi ta biết trân trọng những gì mình có, biết dừng lại đúng lúc, thì cuộc sống mới thật sự bình yên và hạnh phúc.

→ Lòng tham nếu không được kiềm chế sẽ trở thành ngọn lửa thiêu rụi nhân cách. Vì thế, hãy sống trung thực, biết đủ và hướng thiện – đó chính là con đường giúp ta giữ được tâm hồn trong sáng và cuộc đời ý nghĩa.

Câu 1:
Văn bản “Chuyện Lý tướng quân” thuộc thể loại truyền kì, là loại truyện kết hợp giữa yếu tố hiện thực và kì ảo để thể hiện tư tưởng đạo đức, nhân sinh.

Câu 2:
Truyện được kể theo ngôi thứ ba, người kể đóng vai quan sát, kể lại khách quan các sự việc và nhân vật.

Câu 3:
Nhân vật chính là Lý Hữu Chi. Ông ta là người tham lam, tàn ác, hách dịch, coi thường người khác, sống buông thả và độc ác, cuối cùng bị trừng phạt đích đáng.

Câu 4:
Chi tiết kì ảo là Thúc Khoản được đưa xuống âm phủ chứng kiến cảnh xử tội của cha mình.
→ Tác dụng: Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, đồng thời thể hiện quan niệm nhân quả: làm ác sẽ bị báo ứng, làm thiện sẽ được thưởng.

Câu 5:
Truyện khẳng định đạo lý ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác, phê phán những kẻ cậy quyền làm điều tội lỗi.
→ Bài học: Mỗi người cần sống ngay thẳng, làm việc thiện, tránh xa tham lam và tàn ác, vì “lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó thoát”.

Đoạn trích trên nằm trong phần "Kiều ở lầu Ngưng Bích" của Truyện Kiều (Nguyễn Du). Đây là đoạn thơ thể hiện sâu sắc nỗi cô đơn, buồn tủi và tâm trạng đau khổ của Thúy Kiều khi bị giam lỏng tại lầu Ngưng Bích sau khi bị Mã Giám Sinh và Tú Bà lừa gạt.

Về nội dung, đoạn thơ miêu tả tâm trạng cô đơn và nỗi nhớ thương của Thúy Kiều. Ở sáu câu đầu, hình ảnh “dạo hiên vắng”, “rèm thưa”, “đèn biết chăng” cho thấy không gian tĩnh lặng, hiu quạnh, gợi nỗi buồn cô độc. Kiều thầm mong có người thấu hiểu, nhưng chỉ có ngọn đèn cô đơn làm bạn. Nỗi nhớ thương người yêu, nhớ cha mẹ cùng với sự tủi hờn khiến lòng nàng “bi thiết mà thôi”. Ở sáu câu tiếp theo, thời gian đêm khuya trôi chậm, tiếng gà gáy, bóng cây hoè, ngọn đèn, cây đàn… tất cả đều góp phần diễn tả nỗi sầu thảm, da diết của Kiều. Đặc biệt, câu “Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng” gợi hình ảnh tan vỡ của mối tình đầu và dự cảm về cuộc đời trắc trở của nàng.

Về nghệ thuật, đoạn trích có nhiều nét đặc sắc. Nguyễn Du sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế: cảnh vật buồn hiu phản chiếu tâm trạng cô đơn của nhân vật. Các biện pháp nghệ thuật như điệp từ (“gượng”), nhân hóa (“đèn biết chăng”) và hình ảnh ước lệ tượng trưng được dùng rất linh hoạt, làm cho cảm xúc trở nên chân thực, sâu sắc. Ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, mềm mại, thể hiện tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Du.

Tóm lại, đoạn trích thể hiện nỗi cô đơn, nhớ thương và đau khổ của Thúy Kiều khi bị giam lỏng. Qua đó, người đọc càng cảm nhận được tấm lòng nhân đạo và tài miêu tả tâm lý tinh tế của Nguyễn Du – “thiên tài của lòng thương người”.