Nguyễn Bùi Bảo Hân

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Bùi Bảo Hân
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (2 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Sherlock Holmes trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu. Câu 2. (4 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Câu 1 (khoảng 200 chữ): Trong đoạn trích, nhân vật Sherlock Holmes hiện lên như một hình mẫu tiêu biểu của trí tuệ và khả năng suy luận logic sắc bén. Trước hết, Holmes gây ấn tượng bởi óc quan sát tinh tường, có thể phát hiện những chi tiết nhỏ nhặt mà người khác dễ dàng bỏ qua. Từ những dấu hiệu tưởng chừng không liên quan, ông nhanh chóng xâu chuỗi và đưa ra kết luận chính xác. Bên cạnh đó, Holmes còn thể hiện tư duy phân tích khoa học, luôn tiếp cận vấn đề một cách khách quan, dựa trên bằng chứng cụ thể thay vì cảm tính. Điều này giúp ông giải quyết những vụ án phức tạp một cách thuyết phục. Ngoài ra, nhân vật còn mang nét cá tính độc đáo: lạnh lùng, ít bộc lộ cảm xúc nhưng lại vô cùng say mê công việc. Chính niềm đam mê và tinh thần trách nhiệm đã khiến Holmes không ngừng tìm tòi, khám phá sự thật. Qua đó, Sherlock Holmes không chỉ là một thám tử tài ba mà còn là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần khoa học. Câu 2 (khoảng 400 chữ): Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trở thành một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thế hệ trẻ chính là lực lượng nòng cốt, quyết định tương lai và vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Vì vậy, mỗi người trẻ cần ý thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình để góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Trước hết, trách nhiệm của thế hệ trẻ thể hiện ở việc không ngừng học tập, rèn luyện tri thức và kỹ năng. Trong thời đại toàn cầu hóa, tri thức chính là chìa khóa để cạnh tranh và hội nhập. Người trẻ cần chủ động tiếp cận khoa học – công nghệ, nâng cao trình độ ngoại ngữ, tư duy sáng tạo để có thể thích nghi với môi trường quốc tế. Bên cạnh đó, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cũng là một nhiệm vụ quan trọng. Hội nhập không có nghĩa là hòa tan; thế hệ trẻ cần biết trân trọng giá trị truyền thống, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc. Ngoài ra, thế hệ trẻ còn phải thể hiện trách nhiệm qua ý thức công dân và tinh thần cống hiến. Đó là việc tuân thủ pháp luật, sống có lý tưởng, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, đóng góp vào sự phát triển chung của cộng đồng. Trong bối cảnh đất nước đang đổi mới, người trẻ cần dám nghĩ, dám làm, khởi nghiệp, sáng tạo để tạo ra giá trị mới cho xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên sống thụ động, thiếu mục tiêu, dễ bị cuốn theo những trào lưu tiêu cực. Điều này đòi hỏi sự tự nhận thức và nỗ lực thay đổi từ chính mỗi cá nhân. Tóm lại, trong thời đại hội nhập quốc tế, thế hệ trẻ cần không ngừng học hỏi, rèn luyện, giữ gìn bản sắc và cống hiến hết mình. Chỉ khi làm tròn trách nhiệm của mình, người trẻ mới góp phần đưa đất nước phát triển bền vững và khẳng định vị thế trên thế giới. (4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi: Việt Nam quê hương ta Việt Nam đất nước ta ơi! Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn. Cánh cò bay lả dập dờn, Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều. Quê hương biết mấy thân yêu, Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau. Mặt người vất vả in sâu, Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn. Đất nghèo nuôi những anh hùng, Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên. Đạp quân thù xuống đất đen, Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa. Việt Nam đất nắng chan hoà, Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh. Mắt đen cô gái long lanh, Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung. Đất trăm nghề của trăm vùng, Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem. Tay người như có phép tiên, Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ. Nước bâng khuâng những chuyến đò, Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi. Đói nghèo nên phải chia ly, Xót xa lòng kẻ rời quê lên đường. Ta đi ta nhớ núi rừng, Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ. Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô, Bữa cơm rau muống quả cà giòn tan... (Trích trường ca Bài thơ Hắc Hải, 1958, Nguyễn Đình Thi) Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ. Câu 2. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của bài thơ. Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong khổ thơ sau: Ta đi ta nhớ núi rừng, Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ. Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô, Bữa cơm rau muống quả cà giòn tan... Câu 4. Con người Việt Nam hiện lên trong bài thơ với những phẩm chất nào? Câu 5. Phát biểu đề tài, chủ đề của bài thơ Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát. Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là biểu cảm (kết hợp với miêu tả). Câu 3: Trong khổ thơ: “Ta đi ta nhớ núi rừng, Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ. Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô, Bữa cơm rau muống quả cà giòn tan...” Tác giả sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ (“ta đi ta nhớ”, “nhớ”) kết hợp với liệt kê. Tác dụng: nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, sâu nặng của con người đối với quê hương khi phải rời xa. Điệp ngữ tạo nhịp điệu tha thiết, dồn dập, làm nổi bật cảm xúc trào dâng. Phép liệt kê những hình ảnh quen thuộc (núi rừng, dòng sông, đồng ruộng, khoai ngô, bữa cơm dân dã) gợi lên một quê hương bình dị mà thân thương, qua đó thể hiện tình yêu quê hương chân thành, sâu sắc của tác giả. Câu 4: Con người Việt Nam hiện lên trong bài thơ với nhiều phẩm chất tốt đẹp: Cần cù, chịu khó, giàu đức hi sinh (qua hình ảnh “áo nâu nhuộm bùn”, “mặt người vất vả”). Kiên cường, bất khuất, anh hùng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Hiền hòa, nhân hậu, yêu chuộng hòa bình (“súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”). Thủy chung, tình nghĩa, giàu tình cảm (tình yêu đôi lứa, tình quê hương sâu nặng). Khéo léo, sáng tạo trong lao động (“tay người như có phép tiên”). Câu 5: Đề tài: Quê hương, đất nước Việt Nam và con người Việt Nam. Chủ đề: Ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, truyền thống lịch sử và những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam; đồng thời bày tỏ tình yêu, niềm tự hào và nỗi nhớ quê hương đất nước sâu sắc.


Câu 1. (2 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Sherlock Holmes trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu. Câu 2. (4 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 400 chữ) bàn về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Câu 1 (khoảng 200 chữ): Trong đoạn trích, nhân vật Sherlock Holmes hiện lên như một hình mẫu tiêu biểu của trí tuệ và khả năng suy luận logic sắc bén. Trước hết, Holmes gây ấn tượng bởi óc quan sát tinh tường, có thể phát hiện những chi tiết nhỏ nhặt mà người khác dễ dàng bỏ qua. Từ những dấu hiệu tưởng chừng không liên quan, ông nhanh chóng xâu chuỗi và đưa ra kết luận chính xác. Bên cạnh đó, Holmes còn thể hiện tư duy phân tích khoa học, luôn tiếp cận vấn đề một cách khách quan, dựa trên bằng chứng cụ thể thay vì cảm tính. Điều này giúp ông giải quyết những vụ án phức tạp một cách thuyết phục. Ngoài ra, nhân vật còn mang nét cá tính độc đáo: lạnh lùng, ít bộc lộ cảm xúc nhưng lại vô cùng say mê công việc. Chính niềm đam mê và tinh thần trách nhiệm đã khiến Holmes không ngừng tìm tòi, khám phá sự thật. Qua đó, Sherlock Holmes không chỉ là một thám tử tài ba mà còn là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần khoa học. Câu 2 (khoảng 400 chữ): Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trở thành một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thế hệ trẻ chính là lực lượng nòng cốt, quyết định tương lai và vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Vì vậy, mỗi người trẻ cần ý thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình để góp phần xây dựng và phát triển đất nước. Trước hết, trách nhiệm của thế hệ trẻ thể hiện ở việc không ngừng học tập, rèn luyện tri thức và kỹ năng. Trong thời đại toàn cầu hóa, tri thức chính là chìa khóa để cạnh tranh và hội nhập. Người trẻ cần chủ động tiếp cận khoa học – công nghệ, nâng cao trình độ ngoại ngữ, tư duy sáng tạo để có thể thích nghi với môi trường quốc tế. Bên cạnh đó, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cũng là một nhiệm vụ quan trọng. Hội nhập không có nghĩa là hòa tan; thế hệ trẻ cần biết trân trọng giá trị truyền thống, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc. Ngoài ra, thế hệ trẻ còn phải thể hiện trách nhiệm qua ý thức công dân và tinh thần cống hiến. Đó là việc tuân thủ pháp luật, sống có lý tưởng, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, đóng góp vào sự phát triển chung của cộng đồng. Trong bối cảnh đất nước đang đổi mới, người trẻ cần dám nghĩ, dám làm, khởi nghiệp, sáng tạo để tạo ra giá trị mới cho xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên sống thụ động, thiếu mục tiêu, dễ bị cuốn theo những trào lưu tiêu cực. Điều này đòi hỏi sự tự nhận thức và nỗ lực thay đổi từ chính mỗi cá nhân. Tóm lại, trong thời đại hội nhập quốc tế, thế hệ trẻ cần không ngừng học hỏi, rèn luyện, giữ gìn bản sắc và cống hiến hết mình. Chỉ khi làm tròn trách nhiệm của mình, người trẻ mới góp phần đưa đất nước phát triển bền vững và khẳng định vị thế trên thế giới.




điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:

(Lược một đoạn: Thám tử Sherlock Holmes nhận được một bức thư xin trợ giúp trong một vụ án kì lạ từ hai viên thanh tra của Scotland Yard – Gregson và Lestrade. Trong một căn nhà bỏ hoang tại khu Lauriston Garden bỗng xuất hiện thi thể của một người đàn ông. Nạn nhân khoảng 43, 44 tuổi, người tầm thước, vai rộng, tóc quăn và đen, râu rậm xén ngắn. Trên thi thể không hề có bất kì một thương tích nào nhưng trong gian phòng lại có nhiều vết máu. Tại hiện trường vụ án xuất hiện nhiều điểm đáng ngờ, gần thi thể xuất hiện một chiếc nhẫn cưới của một người phụ nữ, trên một mé tường tối tăm có chữ “Rache” được viết bằng máu. Còn bên ngoài căn nhà có dấu vết để lại của một chiếc xe ngựa, dấu chân của một con ngựa và vết giày của hai người đàn ông. Những manh mối này khiến cho họ phải đau đầu vì không xác định được nghi phạm và động cơ gây án. Thông qua điều tra sơ bộ, các viên thanh tra đã xác định được danh tính của nạn nhân là Drebber. Ngay khi vụ án dần được hé lộ, Lestrade phát hiện một vụ án giết người khác cũng xuất hiện chữ “Rache” được viết bằng máu dưới thi thể của nạn nhân. Nạn nhân lần này là Staggerson – thư kí của Drebber. Cuộc điều tra càng thêm khó khăn và bế tắc vì các viên thanh tra và Holmes không thể xác định được mục đích thật sự của hung thủ là gì. Sau đó, Holmes phát hiện ra manh mối về viên thuốc được tẩm độc trong căn phòng của nạn nhân thứ hai. Bằng sự mưu trí, ông đã dụ hung thủ đến căn hộ của mình và bắt hắn tại đây, trước sự chứng kiến, giúp sức của Gregson, Lestrade và người bạn cùng phòng Waston. Nhờ đó, vụ án được hé mở. Dưới đây là sự diễn giải lại quá trình suy luận của Holmes qua cuộc trò chuyện với bác sĩ Waston.)

– Để giải quyết một vấn đề như vậy, cái quan trọng là lập luận ngược chiều. […] Đây là trường hợp người ta nói cho anh biết cái kết cục và tự anh phải tìm ra tất cả những sự việc đã dẫn đến cái kết cục ấy. Tôi xin kể lại với anh các giai đoạn khác nhau trong cách lập luận của tôi. Như anh đã biết, tôi đã đi bộ khi gần đến hiện trường, đầu óc hoàn toàn không có một dự kiến hay thiên kiến gì. Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà, và ở đó, tôi thấy rõ những vệt bánh xe, loại xe nhỏ hai chỗ chở thuê, và qua một vài câu hỏi, tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước. Tôi biết đây không phải là một chiếc xe nhà mà là xe chở thuê, căn cứ ở khoảng cách hẹp giữa hai bánh xe. Chiếc xe chở thuê thông thường ở London nhỏ hẹp hơn nhiều so với xe nhà. Sau đó tôi đã chầm chậm đi theo lối qua vườn mà nền đất là một loại đất sét, rất dễ nhận thấy vết chân, đối với con mắt nhà nghề của tôi thì mỗi dấu vết mang một ý nghĩa… Tôi đã thấy những vết chân nặng nề của các viên cảnh sát, nhưng tôi cũng thấy những vết chân của hai người đã đi qua khu vườn này trước đám cảnh sát kia: ở một đôi chỗ vết chân của hai người bị những vết chân cảnh sát đè lên, xóa đi. Qua đó, nó cho tôi biết đã có hai người lạ mặt đến đây hồi đêm, một người rất cao lớn – căn cứ theo chiều dài của bước chân và người kia ăn mặc sang trọng, căn cứ theo vết giầy nhỏ nhắn, thanh mảnh. Vào trong nhà, người đi giày sang trọng nằm đó. Vậy thì, người cao lớn là kẻ đã gây ra án mạng. Không có thương tích trên người nạn nhân, nhưng qua những nét kinh hoàng lưu lại trên mặt, tôi đoán hẳn nạn nhân đã được báo về số phận mình trước khi chết. Những người chết vì bệnh tim hoặc vì một nguyên nhân tự nhiên nào khác không bao giờ nét mặt lại nhăn nhúm đến như vậy. Ngửi môi nạn nhân, tôi thấy có mùi chua chua, tôi kết luận nạn nhân đã bị cưỡng bức uống thuốc độc. Chính vẻ căm thù và khiếp sợ biểu lộ trên mặt đã dẫn tôi đến suy đoán ấy. Tôi đi đến kết luận này bằng phương pháp loại trừ vì không có một giả thiết nào khác có thể giải thích được tất cả những chi tiết kia. Cưỡng bức nạn nhân uống thuốc độc hoàn toàn không phải là điều mới trong lịch sử hình sự. Tiếp theo đó là câu hỏi lớn: tại sao có vụ ám sát này? Tiền bạc không phải là động cơ. Vụ này dính đến chính trị hay đến phụ nữ? Trước hết tôi ngả về giả thiết thứ hai. Những kẻ ám sát chính trị một khi làm xong nhiệm vụ thì vội bỏ đi ngay. Ở đây ngược lại, thủ phạm đã để dấu vết trong khắp gian phòng, chứng tỏ y đã lưu lại đây khá lâu. Vậy đây là một vụ thanh toán do hận thù cá nhân chứ không phải là một vụ án chính trị. Khi phát hiện ra những chữ viết trên tường, tôi càng tin chắc sự suy đoán của tôi là đúng, đây quá rõ là một mưu mẹo nhằm đánh lạc hướng. Đến khi tìm thấy chiếc nhẫn thì tôi coi việc xác định giả thiết là đã xong. Rõ ràng thủ phạm đã dùng chiếc nhẫn này để gợi lại với nạn nhân một người phụ nữ đã chết hoặc vắng mặt. Chính là khi đó tôi hỏi Gregson xem trong bức điện gửi đi Cleverland, ông ta có hỏi một chi tiết gì đặc biệt về quá khứ của Drebber không. Chắc anh còn nhớ Gregson đã trả lời tôi là không. Sau đó, tôi xem xét tỉ mỉ gian phòng. Việc này giúp tôi thấy rõ tầm vóc, loại thuốc xì gà và móng tay dài của thủ phạm. Vì không có dấu vết vật lộn nào nên tôi kết luận chỗ máu giây ra trên sàn nhà hẳn là máu mũi của thủ phạm lúc bị quá khích. Tôi thấy những vết máu này trùng hợp với những vết chân của thủ phạm. Không mấy ai, trừ phi là người thuộc tạng rất thừa máu, lại chỉ vì xúc cảm mà chảy máu mũi. Vì vậy, tôi dám nghĩ rằng thủ phạm chắc là một người lực lưỡng, mặt đỏ vì xung huyết. Thực tế đã chứng minh là tôi đoán đúng. Ở ngôi nhà đó ra về, tôi đã vội vàng làm cái việc mà Gregson bỏ qua. Tôi điện cho Sở cảnh sát thành phố Cleverland, hỏi về những tình huống xung quanh cuộc hôn nhân của Drebber. Bức điện trả lời cho biết Drebber đã nhờ cảnh sát thành phố che chở cho mình khỏi bị một kẻ tên là Hope ám hại. Kẻ này là tình địch của Drebber trong một chuyện yêu đương cũ và hiện nay kẻ này đang có mặt tại châu Âu. Đến lúc ấy, tôi biết là đã nắm trong tay tất cả các đầu mối, chỉ còn có việc tóm cổ thủ phạm nữa thôi. Tôi đã tin chắc rằng người ấy đi cùng với Drebber vào ngôi nhà và người đánh xe chỉ là một. Vết chân ngựa day đi day lại trên đường cho thấy không có người giữ cương nó. Vậy thì người đánh xe lúc ấy ở đâu nếu không phải là ở trong nhà? Bởi không có ai dám gây ra một án mạng ngay trước mắt một người thứ ba để về sau người đó sẽ tố cáo mình. Cuối cùng, giả sử thủ phạm muốn theo dõi nạn nhân của mình qua các phố ở London thì liệu y còn tìm được cách nào tốt hơn là đóng vai người đánh xe ngựa không. Tất cả những khía cạnh ấy buộc tôi phải tìm Hope trong số những người đánh xe ngựa ở Luân Đôn. Nếu y làm nghề đánh xe thì không có lý do gì y lại không tiếp tục nghề ấy. Trái lại, theo cách nhìn của y, mọi sự thay đổi đột ngột có thể làm cho người ta chú ý đến y. Chắc y cũng tiếp tục nghề cũ, ít nhất trong một thời gian. Cũng không có lý do gì để giả thiết rằng y sống dưới một cái tên giả. Y cần gì phải đổi tên ở một nước không có ai quen biết? Tôi đã nhờ đến mấy chú bé lang thang, phái chúng đến hỏi tất cả các chủ xe London cho đến khi tìm được người mà tôi tìm. Chúng đã tìm được. Vụ giết Stanggerson là một việc hoàn toàn bất ngờ, nhưng dù sao cũng không thể ngăn ngừa được. Anh thấy không, tất cả những điều đó là một chuỗi sự việc logic móc nối nhau liên tục, không một kẽ hở, không một chỗ nào gián đoạn.

– Thật là tuyệt vời! – Watson kêu lên – Công lao của anh đáng được mọi người biết đến. Phải đăng một bài báo về vụ này. Nếu anh không viết thì tôi sẽ viết thay anh.

(Sherlock Holmes toàn tập, Arthur Conan Doyle, NXB Văn học)

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên.

Câu 2. Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Câu ghép dưới đây là câu ghép đẳng lập hay câu ghép chính phụ? Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép đó.

Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà, và ở đó, tôi thấy rõ những vệt bánh xe, loại xe nhỏ hai chỗ chở thuê, và qua một vài câu hỏi, tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước.

Câu 4. Vì sao vụ án này lại được coi là một vụ án nan giải, hóc búa?

Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của nhân vật Sherlock Holmes trong văn bản.

Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện trinh thám (trích từ tác phẩm của Arthur Conan Doyle về nhân vật Sherlock Holmes).


Câu 2.
Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất (qua lời kể và ghi chép của Bác sĩ Watson, xưng “tôi”).


Câu 3.

  • Đây là câu ghép đẳng lập (các vế nối với nhau bằng quan hệ từ “và”).
  • Quan hệ ý nghĩa giữa các vế: quan hệ liệt kê – nối tiếp các hành động, sự việc (xem xét → phát hiện → hỏi → biết).

Câu 4.
Vụ án được coi là nan giải, hóc búa vì:

  • Nạn nhân chết không có thương tích nhưng lại có nhiều vết máu trong phòng.
  • Hiện trường có nhiều chi tiết mâu thuẫn, khó lý giải (chữ “Rache”, chiếc nhẫn phụ nữ, dấu vết xe ngựa, dấu chân...).
  • Không rõ động cơ gây án (không phải cướp của, chưa rõ thù oán).
  • Xuất hiện vụ án thứ hai tương tự, làm tình hình càng rối rắm.
    → Tất cả khiến cảnh sát lúng túng, không xác định được hung thủ.

Câu 5.
Cách lập luận của Sherlock Holmes:

  • Logic chặt chẽ, khoa học: suy luận theo chuỗi nguyên nhân – kết quả.
  • Sử dụng phương pháp suy luận ngược và loại trừ giả thiết.
  • Quan sát tinh tế, chú ý đến những chi tiết nhỏ nhất (dấu chân, vết máu, mùi...).
  • Kết hợp nhiều dữ kiện để đưa ra kết luận hợp lí.

→ Thể hiện trí tuệ sắc bén, khả năng suy luận bậc thầy của nhân vật.


câu 1

Nhân vật Dung trong đoạn trích *Hai lần chết* của Thạch Lam là hình ảnh tiêu biểu cho số phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội cũ. Sinh ra trong một gia đình sa sút, Dung lớn lên trong sự hờ hững, lạnh nhạt của cha mẹ và cuối cùng bị chính mẹ đẻ bán cho nhà giàu như một món hàng. Về nhà chồng, Dung phải chịu cảnh làm lụng cực nhọc, bị mẹ chồng hành hạ bằng những lời cay nghiệt, bị chồng thờ ơ, em chồng bắt nạt mà không có một chỗ dựa tinh thần nào. Bi kịch của Dung càng trở nên đau đớn hơn khi ngay cả gia đình ruột thịt cũng quay lưng, không hồi đáp những lá thư cầu cứu của nàng. Bị dồn đến bước đường cùng, Dung tuyệt vọng, coi cái chết như một lối thoát duy nhất. Dù được cứu sống, nàng vẫn buồn bã xin trở về, cho thấy sự bế tắc đến tận cùng của kiếp người bị áp bức. Qua nhân vật Dung, Thạch Lam thể hiện niềm xót thương sâu sắc đối với người phụ nữ và lên án xã hội tàn nhẫn đã đẩy họ vào con đường bi kịch.

câu 2

Bình đẳng giới là một trong những giá trị quan trọng của xã hội hiện đại, thể hiện quyền được tôn trọng, được đối xử công bằng giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên, dù xã hội đã có nhiều tiến bộ, vấn đề bất bình đẳng giới vẫn tồn tại và cần được nhìn nhận nghiêm túc.


Trong thực tế, bất bình đẳng giới vẫn biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở một số nơi, phụ nữ vẫn bị coi là phái yếu, gánh vác phần lớn công việc gia đình nhưng ít được ghi nhận. Trong lao động và việc làm, không ít phụ nữ gặp rào cản về cơ hội thăng tiến, thu nhập thấp hơn nam giới dù có năng lực tương đương. Ngược lại, nam giới cũng phải chịu những định kiến như phải mạnh mẽ, không được bộc lộ cảm xúc, dẫn đến nhiều áp lực vô hình. Những quan niệm lỗi thời ấy bắt nguồn từ tư tưởng trọng nam khinh nữ đã tồn tại lâu đời và chưa được xóa bỏ hoàn toàn.


Bất bình đẳng giới gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng. Nó làm hạn chế khả năng phát triển của mỗi cá nhân, tạo nên sự bất công trong xã hội và cản trở tiến trình phát triển bền vững của đất nước. Một xã hội văn minh không thể là xã hội mà ở đó quyền lợi và cơ hội của con người bị quyết định bởi giới tính.


Để thực hiện bình đẳng giới, cần có sự chung tay của cả cộng đồng. Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền bình đẳng. Gia đình và nhà trường phải giáo dục trẻ em ý thức tôn trọng, chia sẻ và công bằng ngay từ sớm. Bản thân mỗi người, đặc biệt là giới trẻ, cần thay đổi nhận thức, xóa bỏ định kiến và sống có trách nhiệm với xã hội.


Bình đẳng giới không phải là đặc quyền của riêng ai, mà là thước đo của sự tiến bộ và nhân văn trong xã hội hôm nay.



Câu 1. Xác định luận đề của văn bản

Luận đề của văn bản là:
Bàn về ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của chi tiết “cái bóng” trong Chuyện người con gái Nam Xương, qua đó khẳng định đây là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần tạo nên tình huống truyện độc đáo và thể hiện tư tưởng lên án thói ghen tuông mù quáng.


Câu 2. Theo người viết, truyện hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo nào?

Theo người viết, truyện hấp dẫn bởi tình huống người chồng đi lính lâu năm trở về, nhưng lại bị chính đứa con ruột phủ nhận là cha, vì đứa trẻ tin rằng “người cha trước kia” chỉ là cái bóng trên tường.
→ Chính lời nói ngây thơ của đứa con đã khiến người chồng hiểu lầm vợ, đẩy mâu thuẫn truyện lên đỉnh điểm, dẫn đến bi kịch.


Câu 3. Mục đích của việc nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản

Việc nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu nhằm:

  • Giới thiệu nhanh nội dung cốt lõi của câu chuyện, thu hút sự chú ý của người đọc.
  • Định hướng vấn đề nghị luận, làm tiền đề để đi sâu phân tích chi tiết “cái bóng” – yếu tố then chốt tạo nên tình huống truyện.
  • Tạo sự liên kết logic giữa phần mở đầu và các phần phân tích sau.

Câu 4. Chi tiết khách quan – chủ quan trong đoạn (2) và nhận xét

  • Chi tiết trình bày khách quan:

    “Ngày xưa chưa có tivi, đến cả ‘rối hình’ cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường…”

  • Chi tiết trình bày chủ quan:

    “Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình…”

Nhận xét về mối quan hệ:
Cách trình bày khách quan giúp tái hiện bối cảnh sinh hoạt đời thường một cách chân thực, còn cách trình bày chủ quanthể hiện cảm nhận, suy luận và thái độ cảm thông của người viết. Hai cách trình bày này bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, làm cho lập luận vừa có cơ sở thực tế, vừa giàu tính nhân văn và sức thuyết phục.


Câu 5. Vì sao người viết cho rằng chi tiết “cái bóng” là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc?

Người viết cho rằng chi tiết “cái bóng” là chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì:

  • Nó được lấy từ một trò chơi dân gian quen thuộc, rất tự nhiên, đời thường.
  • Từ một chi tiết giản dị, tác giả đã xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, làm nảy sinh mâu thuẫn và bi kịch.
  • Chi tiết này còn thể hiện tấm lòng yêu chồng, thương con sâu sắc của Vũ Nương, chứ không phải nguyên nhân gây ra bi kịch.
  • Qua đó, truyện tố cáo thói ghen tuông mù quáng, đồng thời cho thấy tài năng nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Dữ.

câu 1:

Trong đoạn trích vở bi kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, nhân vật Lê Tương Dực hiện lên là hình ảnh tiêu biểu của một ông vua hôn quân, tàn bạo và sa đọa. Là người đứng đầu triều đình nhưng Lê Tương Dực không hề quan tâm đến vận mệnh đất nước hay đời sống của nhân dân. Trái lại, hắn chỉ biết đắm chìm trong tửu sắc, hưởng lạc và coi Cửu Trùng Đài như công cụ để thỏa mãn dục vọng cá nhân. Vì công trình xa hoa ấy, nhà vua sẵn sàng bóc lột dân chúng, tăng sưu thuế, bắt thợ giỏi vào cung, mặc cho bao sinh mạng bị vùi dập. Những chỉ dẫn sân khấu và lời thoại của nhân vật đã phơi bày bản chất ích kỉ, độc đoán và vô trách nhiệm của Lê Tương Dực. Chính sự mê muội và tàn ác của hắn không chỉ đẩy nhân dân vào cảnh lầm than mà còn làm triều đình rơi vào khủng hoảng, loạn lạc. Qua nhân vật này, tác giả đã lên án gay gắt chế độ phong kiến suy tàn, đồng thời cảnh báo hậu quả tất yếu của quyền lực khi bị sử dụng sai mục đích.

câu 2:

Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những thành tựu vượt bậc về khoa học và công nghệ, một thực trạng đáng lo ngại đang dần xuất hiện trong một bộ phận giới trẻ, đó là bệnh vô cảm. Vô cảm là thái độ thờ ơ, lạnh nhạt trước nỗi đau, khó khăn hay bất hạnh của người khác, thậm chí là trước những vấn đề chung của cộng đồng và xã hội.


Biểu hiện của bệnh vô cảm ở giới trẻ ngày nay khá đa dạng. Có người thản nhiên quay clip tai nạn thay vì giúp đỡ nạn nhân; có người dửng dưng trước những mảnh đời bất hạnh xung quanh mình; lại có người sống khép kín, chỉ quan tâm đến thế giới ảo mà quên mất trách nhiệm với gia đình và xã hội. Nguyên nhân của thực trạng này xuất phát từ nhiều phía: lối sống thực dụng, ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội, áp lực học tập – công việc, và cả sự thiếu quan tâm, giáo dục về lòng nhân ái trong gia đình, nhà trường.


Bệnh vô cảm gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Nó làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, khiến con người trở nên ích kỉ, xa cách nhau hơn. Một xã hội mà con người sống thờ ơ, thiếu sẻ chia sẽ khó có thể phát triển bền vững và nhân văn. Đối với bản thân người trẻ, vô cảm khiến họ nghèo nàn về tâm hồn, mất đi khả năng đồng cảm và yêu thương – những phẩm chất làm nên giá trị con người.


Trước thực trạng đó, mỗi bạn trẻ cần tự ý thức rèn luyện lòng nhân ái, biết quan tâm, sẻ chia với người khác từ những hành động nhỏ nhất. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần chung tay giáo dục, tạo môi trường sống lành mạnh để nuôi dưỡng những giá trị tốt đẹp. Chỉ khi biết sống yêu thương và có trách nhiệm, giới trẻ mới thực sự trở thành lực lượng xây dựng một xã hội tốt đẹp và nhân văn hơn.



Câu 1.
Đoạn trích tái hiện sự kiện xây dựng Cửu Trùng Đài dưới triều vua Lê Tương Dực, dẫn đến cuộc nổi loạn của Trịnh Duy Sản, kết cục là vua Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm bị giết và Cửu Trùng Đài bị phá hủy.

Câu 2.
Một lời độc thoại tiêu biểu của nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích là những lời thể hiện khát vọng nghệ thuật lớn lao, chẳng hạn:

“Ta xây đài này cho muôn đời sau, để nước Nam ta sánh ngang cùng thiên hạ.”
(Lời độc thoại cho thấy lí tưởng nghệ thuật cao cả nhưng cũng bộc lộ bi kịch của nhân vật.)

Câu 3.
Những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực thường khắc họa rõ tính cách hôn quân, sa đọa, tàn bạo của nhân vật. Qua hành động, cử chỉ, thái độ (ăn chơi, quát nạt, thờ ơ với vận nước), tác giả làm nổi bật hình ảnh một ông vua ăn chơi vô độ, coi thường sinh mạng dân chúng, góp phần đẩy mâu thuẫn kịch lên cao trào.

Câu 4.
Đoạn văn sử dụng biện pháp liệt kê (Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng, Trần Tuân, Phùng Chương; giết quan lại, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc…).
→ Tác dụng:

  • Làm nổi bật quy mô rộng khắp và mức độ nghiêm trọng của loạn lạc.
  • Khắc họa rõ nỗi khổ cực cùng cực của nhân dân.
  • Tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo không khí xã hội rối ren, u ám, bức bách.

Câu 5.
Từ đoạn trích, có thể nhận xét rằng bối cảnh xã hội lúc bấy giờ vô cùng rối ren, mục nát và đầy mâu thuẫn. Triều đình suy tàn, vua thì hôn quân, chỉ lo hưởng lạc; nhân dân bị bóc lột nặng nề, đói khổ, oán thán khắp nơi. Loạn lạc bùng phát, các thế lực nổi dậy chống triều đình, xã hội rơi vào cảnh điêu linh, bất ổn, tạo nên mảnh đất cho bi kịch của cả người nghệ sĩ tài hoa lẫn quần chúng nhân dân.

Câu 1:

Người chinh phụ trong đoạn trích hiện lên với nỗi nhớ thương chồng da diết và tâm trạng cô đơn, khắc khoải. Từng mùa xuân qua đi, nàng vẫn mong ngóng tin chồng nhưng vô vọng. Những hành động như gieo quẻ bói tiền, dạo hiên vắng, ngồi rèm thưa, nhìn ngọn đèn khuya đều biểu hiện cho nỗi nhớ thương mòn mỏi. Cảnh vật xung quanh dường như cũng lạnh lẽo, buồn theo lòng người. Ngọn đèn được nhân hoá như người bạn biết chứng kiến tâm sự của nàng, càng làm nổi bật nỗi cô độc và khát khao được sẻ chia. Người chinh phụ không chỉ là người vợ thuỷ chung mà còn là hình ảnh tiêu biểu cho thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, chịu cảnh chia ly do chiến tranh phi nghĩa gây ra. Qua nhân vật này, tác giả bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc và tiếng nói tố cáo chiến tranh tàn khốc, đồng thời đề cao giá trị của hạnh phúc lứa đôi và tình yêu con người.

Câu 2:

Chiến tranh luôn để lại những mất mát và đau thương khôn ngôi. Đọc "Chinh phụ ngâm", ta cảm nhận sâu sắc nỗi đau của người vợ trẻ ngóng trông chồng nơi biên ải – đó không chỉ là nỗi cô đơn của một người mà còn là tiếng lòng của biết bao thân phận trong thời chiến.

Chiến tranh cướp đi sự sống, hạnh phúc, tuổi trẻ và tình yêu. Nó khiến bao gia đình ly tán, bao người mẹ, người vợ, người con phải chịu cảnh chờ đợi, mất mát. Không chỉ có đau thương thể xác mà còn là vết thương tinh thần dai dẳng – những ký ức không thể xoá mờ. Vì thế, hoà bình hôm nay là thành quả của biết bao máu xương, là niềm hạnh phúc lớn lao mà chúng ta phải trân trọng.

Trước quá khứ bi thương ấy, thế hệ trẻ hôm nay cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước. Đó là biết ơn các thế hệ đi trước, sống có lý tưởng, học tập và rèn luyện để góp phần xây dựng Tổ quốc giàu đẹp. Thanh niên cần giữ gìn hoà bình, lan toả yêu thương, chống lại bạo lực và hận thù, tích cực tham gia các hoạt động vì cộng đồng, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng **bài học về giá trị của hoà bình vẫn luôn còn đó. Là thế hệ của hoà bình, chúng ta phải biết trân trọng hiện tại, sống xứng đáng với những hi sinh của cha ông – để mỗi ngày yên bình hôm nay thật sự có ý nghĩa.


Câu 1:

Văn bản trên được viết theo thể song thất lục bát

Câu 2:

Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ là:

- “Trải mấy xuân tin đi tin lại,

- Tới xuân này tin hãy vắng không.”

- Nhận xét: Những hành động ấy thể hiện nỗi nhớ thương da diết, sự cô đơn và lòng chung thủy của người vợ đối với chồng đang nơi chiến địa xa xôi.

Câu 4:

Biện pháp tu từ: Nhân hoá – “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng. / Đèn có biết dường bằng chẳng biết.”

Tác dụng: Biện pháp nhân hoá làm cho ngọn đèn trở thành người bạn tri âm, giúp bộc lộ nỗi cô đơn, buồn tủi, khát khao được sẻ chia của người chinh phụ trong cảnh phòng khuê vắng lặng.

Câu 5:

Tâm trạng người chinh phụ: Cô đơn, buồn tủi, nhớ thương và lo lắng cho chồng nơi biên ải; khát khao đoàn tụ, mong chờ hạnh phúc gia đình.

Suy nghĩ:Đọc đoạn ngâm, em càng hiểu rõ giá trị của hoà bình hôm nay – đó là thành quả của bao hi sinh, mất mát trong chiến tranh. Chúng ta cần biết ơn, trân trọng cuộc sống yên bình, sống có trách nhiệm, yêu thương và góp sức xây dựng đất nước ngày càng tươi đẹp.

Câu 1:

Nhân vật bà má Hậu Giang hiện lên là hình tượng tiêu biểu cho người mẹ Việt Nam anh hùng trong kháng chiến. Bà má sống nghèo khổ trong túp lều tranh, nhưng có tấm lòng yêu nước nồng nàn, kiên trung với cách mạng. Khi bị tên giặc tra tấn, đe dọa, bà không hề sợ hãi mà vẫn kiên quyết không khai nơi ẩn náu của du kích, sẵn sàng chấp nhận cái chết. Lời nói của bà trước họng súng – “Các con ơi! Má quyết không khai nào!” – thể hiện ý chí bất khuất, tinh thần hi sinh quên mình vì Tổ quốc. Bà má còn là người mẹ giàu tình thương, luôn hướng về con, tin tưởng và tự hào về thế hệ chiến sĩ đang chiến đấu. Hình ảnh bà má Hậu Giang vừa bình dị, gần gũi, vừa anh hùng, cao đẹp, trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước và sức mạnh tinh thần của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh.

Câu 2:

Trong thời đại hôm nay, khi đất nước đã hòa bình và phát triển, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với Tổ quốc vẫn vô cùng to lớn. Hình ảnh bà má Hậu Giang – người mẹ kiên trung, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ cách mạng – là tấm gương sáng nhắc nhở mỗi người trẻ phải biết sống có lý tưởng, có trách nhiệm với quê hương, đất nước.

Thế hệ trẻ cần tiếp bước cha anh, giữ gìn những giá trị truyền thống quý báu, trân trọng độc lập, tự do mà bao thế hệ đã đánh đổi bằng xương máu. Trong học tập, chúng ta phải chăm chỉ, sáng tạo, rèn luyện tri thức, đạo đức, kỹ năng để trở thành những công dân hữu ích. Trong cuộc sống, cần sống trung thực, nhân ái, tôn trọng pháp luật, biết sẻ chia, giúp đỡ cộng đồng. Mỗi người trẻ hôm nay còn có trách nhiệm bảo vệ môi trường, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, và chủ động hội nhập quốc tế để góp phần đưa Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

Như vậy, kế thừa tinh thần yêu nước kiên cường của những thế hệ đi trước như bà má Hậu Giang, thế hệ trẻ hôm nay phải sống có ước mơ, có hoài bão và hành động thiết thực để xứng đáng là tương lai của đất nước, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.