Nguyễn Hồng Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Hồng Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Bài thơ “Bộ đội về làng” của Hoàng Trung Thông là một khúc ca ngợi ngợi ngọt ngào, xúc động về hình ảnh người lính Cụ Hồ trở về quê hương sau những tháng ngày kháng chiến gian khổ. Qua đoạn trích, tác giả không chỉ ca ngợi vẻ đẹp gần gũi, thân quen của người lính mà còn thể hiện tình cảm gắn bó, yêu thương sâu nặng giữa bộ đội và nhân dân. Đó cũng chính là chủ đề chính của đoạn thơ: tình quân dân thắm thiết và niềm vui sum họp của người lính cách mạng với quê hương, làng xóm.

Khung cảnh mở đầu đoạn trích là hình ảnh bộ đội trở về trong niềm hân hoan, náo nức của cả làng quê:

“Các anh về
Mái ấm nhà vui,
Tiếng hát câu cười
Rộn ràng xóm nhỏ.”

Không khí “rộn ràng”, “vui”, “tiếng hát câu cười” gợi lên một không gian tràn ngập yêu thương, chan chứa niềm vui đoàn tụ. Những người lính không chỉ mang theo súng đạn, mà còn mang theo hơi ấm của sự sống, của hòa bình về với quê hương.

Tình cảm quân dân càng trở nên rõ nét hơn trong những hình ảnh gần gũi, đời thường:

“Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau.
Mẹ già bịn rịn áo nâu
Vui đàn con ở rừng sâu mới về.”

Người mẹ già run run nắm áo, đàn em nhỏ chạy theo ríu rít, những hình ảnh ấy gợi lên không khí thân thuộc như người thân trở về sau bao ngày xa cách. Bộ đội không xa lạ mà là con em của làng, nay trở lại trong vòng tay yêu thương của quê hương. Đó là biểu tượng cho sự đoàn kết, thủy chung giữa nhân dân và cách mạng.

Không chỉ ca ngợi cảm xúc, bài thơ còn khắc họa sự giản dị, mộc mạc của cuộc sống làng quê:

“Nhà lá đơn sơ
Tấm lòng rộng mở
Nồi cơm nấu dở
Bát nước chè xanh…”

Dù nghèo, dân làng vẫn mở lòng đón bộ đội bằng những gì chân thành nhất – “nồi cơm nấu dở”, “bát nước chè xanh”, “tấm lòng rộng mở”. Chính sự giản dị đó đã làm nên chất thơ thấm đượm tình người, tình đất.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi. Hình ảnh thơ gần gũi với cuộc sống nông thôn. Cấu trúc điệp từ “các anh về” tạo nên nhịp thơ nhẹ nhàng, tha thiết, đồng thời nhấn mạnh niềm vui sum họp. Tác giả cũng khéo léo sử dụng biện pháp liệt kê (“nồi cơm nấu dở”, “bát nước chè xanh”…), khiến cảnh tượng đời thường trở nên sinh động và đầy cảm xúc. Toàn bài thơ mang âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng, đậm chất trữ tình và nhân văn.

Tóm lại, đoạn trích “Bộ đội về làng” là một bài thơ đặc sắc về đề tài người lính và tình quân dân. Bằng những hình ảnh giản dị và cảm xúc chân thành, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của người lính cũng như nghĩa tình thủy chung giữa họ với quê hương, dân tộc. Bài thơ như một khúc hát yên bình sau những tháng năm bom đạn – đầy chất thơ, chất đời và chất tình.

Câu 1: Thông tin chính mà tác giả muốn chuyển tải qua văn bản: giải thích hiện tượng bão, nguyên nhân và tác hại của bão.

Câu 2:

Sự khác nhau của bão và mắt bão:

– Bão: Không khí bị nhiễu động mạnh, có sức phá hủy lớn.

– Mắt bão: Một vùng có thời tiết đa phần là bình yên, điều này làm cho mắt bão là nơi có gió không lớn, trời quang mây tạnh.

Câu 3:

a. Thành phần biệt lập “mắt bão lỗ kim”: Thành phần phụ chú.

b. Câu kể (trần thuật).

Câu 4:

– Trong phần Nguyên nhân hình thành bão, tác giả đã triển khai thông tin bằng cách đưa ra nhiều góc nhìn khác nhau trong quá trình lí giải nguyên nhân hình thành bão (nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan).

– Hiệu quả của cách trình bày thông tin:

+ Giúp người đọc nhận thức đầy đủ về những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng bão.

+ Giúp bài viết có tính khách quan, khoa học, thể hiện được nghiên cứu sâu rộng của người viết.

Câu 5:

– Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh mắt bão và thành mắt bão.

– Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ: Hỗ trợ biểu đạt thông tin trong văn bản, giúp người đọc tiếp nhận thông tin một cách trực quan.

Câu 6:

Trước những hậu quả khốc liệt mà bão gây ra, là một người trẻ, em nhận thấy cần chủ động nâng cao nhận thức và hành động để hạn chế rủi ro. Trước hết, chúng ta phải thường xuyên cập nhật dự báo thời tiết, tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn an toàn của chính quyền trước khi bão đổ bộ. Bên cạnh đó, việc tích cực tham gia trồng rừng, bảo vệ môi trường và lan tỏa thông điệp sống xanh giúp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu - nguyên nhân chính làm bão gia tăng. Trong quá trình bão, cần tuyệt đối không chủ quan, gia cố nhà cửa và sẵn sàng các phương án di dời khi cần thiết. Cuối cùng, sự đoàn kết, hỗ trợ cộng đồng sau bão cũng là cách để khắc phục hậu quả nhanh chóng nhất.


Bài làm

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra


Đó là những lời dạy của ông cha ta về công cha , nghĩa mẹ. Cha mẹ là người đã hi sinh cả cuộc đời vì con, cũng là người duy nhất trên thế gian này nhường những gì tốt đẹp cho con. Mọi niềm vui của cha là sự khôn lớn ,trưởng thành của con . Cha có thể thiếu thốn nhưng chắc chắc sẽ để con no đủ. Và tình cha cao đẹp ấy đã được tái hiện lại qua câu chuyện “Bát phở” của Phong Điệp.


         Phong Điệp (sinh năm 1976) tên thật là Phong Thị Điệp. Bà là cựu học sinh khoa văn trường chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định. Sau khi tốt nghiệp đại học Luật Hà Nội, Phong Điệp làm phóng viên và sau đó giữ nhiều chức vụ  liên quan đến lĩnh vực văn học. Bà cũng đạt được nhiều thành tựu, giải thưởng như giải ba cuộc thi sáng tác văn học Mùa xuân tuổi hoa, giải Nhì (không có giải Nhất) cuộc thi truyện ngắn hai năm 1996 – 1997 trên báo Văn nghệ Trẻ với truyện ngắn “Ma mèo”… và nhiều giải thưởng khác nữa. Phong Điệp là một nhà văn xuất sắc và tài năng. Các câu chuyện của nhà văn vô cùng gần gũi, giản dị nhưng lại mang nhiều ý nghĩa và  giá trị nhân văn. Qua những câu từ của bà ta dễ dàng đi sâu vào tâm lí nhân vật để hiểu được bài học, lẽ sống được gửi gắm. Và “Bát phở” là một ví dụ


         Truyện ngắn “Bát phở” là câu chuyện về bữa ăn đầy tình thương, sự hi sinh của hai người cha dành cho hai đứa con của mình. Hai đứa trẻ từ quê lên Hà Nội thi cùng hai người cha. Giữa cái chiều hè nóng nực, bốn người dừng lại ở quán phở nhưng lại chỉ gọi có hai bát. Và hiển nhiên hai bát đó là dành cho hai người con, còn hai người cha thì châm điếu thuốc mà lo chuyện sau này.Hai người cha tính sau khi thi xong thì sẽ bắt xe về quê luôn, về quê rồi muốn ăn gì thì ăn chứ Hà Nội đắt đỏ quá. Lên xe chỉ cần mua cái bánh mì ăn tạm là được. Sau khi hai đứa trẻ ăn xong thì hai người cha thanh toán tiền, ba mươi nghìn đồng. Chúng nhìn những đồng tiền đi ra khỏi ví của cha. Trên gương mặt chúng hiển hiện rõ ràng nỗi âu lo, mỏi mệt.  Hôm nay, chúng nợ cha ba mươi nghìn đồng . Cuộc đời này, chúng nợ những người cha hơn thế nhiều.


      Nhan đề ngắn gọn, thân thuộc và cũng là hình ảnh trọng tâm của câu chuyện nhưng lại giúp thu hút sự tò mò của độc giả. Tuy rằng được kể ở ngôi thứ nhất nhưng góc nhìn không hề phiến diện mà rất đa chiều, vừa sâu sắc giúp người đọc như thâm nhập vào tâm trí của người cha và con mà thấu cảm được nỗi lo toan của cha mẹ. Cốt truyện đơn giả nhưng không hề đơn điệu đã tạo nên câu chuyện vô cùng ý nghĩa. Đó là bài học về tình cha con. Cha là người sẵn sàng nhường mọi thứ tốt đẹp nhất cho con, cho con những gì tốt nhất và yêu thương con một cách thầm lặng không bao giờ thể hiện bằng lời nói mà sẽ là  những hành động. Đứa con không chỉ là nợ người cha bát phở ba mươi nghìn mà chúng nợ cha nhiều hơn thế. Bởi cả cuộc đời cha đề là cho con vì con.


      Những người cha trong câu chuyện trên đều là những người cha yêu thương con. Người cha ấy chắc hẳn trong lòng đang bề bộn lo lắng chuyện đồng áng, lợn gà và muôn nỗi lo sau này cho con ăn học nhưng vẫn gọi cho con bát phở như để động viên, để bồi dưỡng. Cha hiểu con cũng thiếu thốn và mình sẽ phải cố gắng nhiều hơn cho tương lai của con nên cha muốn con được no bụng hôm nay, mạnh mẽ và cố gắng vượt qua kì thi này. Vì cha biết học sẽ giúp tương lai con sáng hơn, sẽ không phải như cha bán mặt cho đất, bán lưng cho trời.


      "Bát phở" là một truyện ngắn đặc sắc và đầy tính nhân văn. Qua câu chuyện, những người con càng hiểu thêm những tình yêu thương mà bậc sinh thành dành cho con cái. Mong rằng qua câu chuyện, mỗi người con lại càng thêm yêu thương và hiếu kính cha mẹ

Câu 1: Vấn đề bàn luận: Không gian bức tranh mùa gặt và nỗi lòng của người nông dân trong bài thơ “Tiếng hát mùa gặt” của tác giả Nguyễn Duy.

Câu 2: Câu văn nêu luận điểm ở đoạn (3): Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm: “Mảnh sân trăng lúa chất đầy/ Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình”.

Câu 3:

a. “hình như”: thành phần tình thái.

b. “của một đồng, công một nén là đây”: thành phần phụ chú.

​Câu 4:

– Cách trích dẫn bằng chứng:

+ Trích dẫn nguyên văn hình ảnh, từ ngữ: “phả”, “cánh cò chở nắng”, “liếm ngang chân trời”.

+ Trích dẫn có kèm với lời diễn giải của người viết: Người ta vẫn nói “cánh cò chở nắng”, còn ở đây nhà thơ thấy cánh cò dẫn gió. […] Hình ảnh có sự khác nhau, nhưng ấn tượng mà nó đem đến chỉ là một: thiên nhiên chợt có hồn trong một cánh cò mải miết bay ngang.

– Tác dụng:

+ Góp phần làm sáng tỏ luận điểm.

+ Tạo sự phong phú trong cách diễn đạt.

​Câu 5:

– Luận điểm: Ấy vậy nhưng người nông dân ở nhà thơ Nguyễn Duy lại rất hay “cả nghĩ”.

– Lí lẽ và bằng chứng: Xôn xao náo nức là thế khi mùa gặt đến, nhưng tự đáy lòng mình, … “Nắng non mầm mục mất thôi/ Vì đời lúa đó mà phơi cho giòn”.

--> Lí lẽ và bằng chứng giúp luận điểm được cụ thể, sáng tỏ. Người viết đã cho thấy được sự “cả nghĩ” của người nông dân. Đó chính là lo lắng công sức của mình, xót xa khi thấy hạt lúa rụng; nhìn thấy bó rơm cũng liên tưởng đến tấm thân nghèo khó, khốn khổ của mình. Thế nhưng vẫn cố gắng chăm chỉ làm việc gì sợ đói khổ.

Câu 6:

- Em thích nhất cách tác giả phân tích và bình luận dựa trên các hình ảnh và ngôn từ giàu cảm xúc của bài thơ. Vì cách phân tích vừa gần gũi, vừa sâu sắc, giúp người đọc hình dung rõ ràng không gian mùa gặt và cảm nhận được cái hồn của bài thơ cũng như tâm hồn của người nông dân Việt Nam. Tác giả còn kết hợp được cả tình cảm chân thành, tạo nên sự lôi cuốn đặc biệt.