La Quang Hiển

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của La Quang Hiển
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

1. Đất feralit có đặc điểm:

+ Đất Feralit có chứa nhiều oxit sắt và oxit nhôm tạo nên màu đỏ vàng. 

+ Đặc tính của đất feralit là: có lớp vỏ phong hóa dày thoáng khí, dễ thoát nước, đất chua, nghèo các chất bazơ và mùn.

+ Đất feralit hình thành trên đá badan và đá vôi có độ phì cao nhất.

Phân bố ở vùng phía Tây Nam và phía Đông tỉnh Thái Nguyên.

- Đất phù sa có đặc điểm: đất phù sa được hình thành do sản phẩm bồi đắp của sự phù sa, các hệ thống sông và phù sa biển. Nhìn chung, đất phù sa có độ phì cao, rất giàu dinh dưỡng.

Phân bố ở vùng đồng bằng.

2. Ở Thái Nguyên có một phần vườn quốc gia Tam Đảo thuộc huyện Đại Từ. Trong Vườn quốc gia có tới 904 loài thực vật thuộc 478 chi, 213 họ, trong đó có các loài điển hình cho vùng cận nhiệt đới như pơ mu. Thái Nguyên có 307 loài động vật, trong đó có 239 loài chim, hầu hết là các loài chim có lợi, nhiều loài có màu lông đẹp như vàng anh, có những loài quý hiếm như gà tiền, gà lôi trắng; có 64 loài thú với những loài có giá trị như sóc bay, báo gấm, hổ, gấu ngựa, cầy mực, vượn, voọc đen,... Tuy nhiên, hiện nay có một số loài đang có nguy co tuyệt chủng.

3. Giá trị, ý nghĩa của đất và sinh vật của Thái Nguyên:

Thái Nguyên có tổng diện tích là 352 664 ha, gồm các loại sau:

Đất núi chiếm 48,4% diện tích tự nhiên, có độ cao trên 200 m, hình thành do sự phong hoá trên các đá mac–ma, đá biến chất và trầm tích. Đất núi thích hợp với việc phát triển lâm nghiệp, trồng cây đặc sản, cây ăn quả.

Đất đồi chiếm 31,4% diện tích tự nhiên chủ yếu hình thành trên cát kết, bột kết phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo, với độ cao từ 50 – 200 m, độ dốc từ 5 – 20 m. Đất đồi rất phù hợp với cây công nghiệp, đặc biệt là cây chè và một số cây ăn quả lâu năm khác.

Đất ruộng chiếm 12,4% diện tích đất tự nhiên, trong đó một phần phân bố dọc theo các con suối, rải rác, không tập trung, chịu sự tác động lớn của chế độ thuỷ văn khắc nghiệt (lũ đột ngột, hạn hán,...) khó khăn cho việc canh tác. Đây là vùng đất chủ yếu để trồng cây lương thực của tỉnh.

Đất chưa sử dụng hiện còn 15% diện tích tự nhiên, phần lớn trong số này có khả năng sử dụng cho lâm nghiệp.

Thái Nguyên có 172,6 nghìn ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng tự nhiên có 73,4 nghìn ha và rừng trồng hơn 49 nghìn ha. Rừng cung cấp nguồn liệu lớn cho chế biến lâm sản.

4. Ở Thái Nguyên, có các loại khoáng sản:

Nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương, Thái Nguyên hiện có 34 loại khoáng sản, phân bố tập trung ở các huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, Phú Lương, Đại Từ,... có thể chia thành bốn nhóm:

– Nhóm nhiên liệu bao gồm than mỡ, than đá, phân bố tập trung ở huyện Phú Lương, Đại Từ. Than mỡ có chất lượng tương đối tốt, trữ lượng tiềm năng khoảng 15 triệu tấn, trong đó trữ lượng thăm dò khoảng 8,5 triệu tấn (lớn nhất Việt Nam) tập trung chủ yếu ở các mỏ Phấn Mễ (Phú Lương), Làng Cẩm (Đại Từ). Than đá có trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu tấn (lớn thứ 2 cả nước sau khu mỏ than Quảng Ninh) tập trung chủ yếu ở các mỏ Khánh Hoà, Bá Sơn (Phú Lương); Núi Hồng (Đại Từ).

– Nhóm khoáng sản kim loại

+ Kim loại đen: Quặng sắt có tới 41 mỏ và điểm quặng, có trữ lượng khoảng trên 50 triệu tấn, hàm lượng sắt: 58,8 – 61,8%, được xếp vào loại chất lượng tốt, phân bố chủ yếu ở huyện Đồng Hỷ. Titan có 21 mỏ và điểm quặng, phân bố chủ yếu ở bắc huyện Đại Từ, tổng trữ lượng thăm dò khoảng 18 triệu tấn.

Ngoài ra Thái Nguyên còn có nhiều mỏ và điểm quặng mangan – sắt, trữ lượng thăm dò khoảng 5 triệu tấn.

+ Kim loại màu: Thiếc, vonfram là khoáng sản có nhiều tiềm năng. Mỏ thiếc ở Phục Linh, Núi Pháo (Đại Từ) tổng trữ lượng khoảng 13 600 tấn. Chì – kẽm ở Làng Hích, Thần Sa (Võ Nhai) và Đại Từ, quy mô các điểm mỏ nhỏ, phân bố không tập trung, trữ lượng khoảng 12 triệu tấn. Riêng mỏ Núi Pháo có trữ lượng vonfram khoảng 21 triệu tấn, lớn thứ hai trên thế giới sau một mỏ tại Trung Quốc, ngoài ra mỏ còn có trữ lượng fluorit lớn nhất thế giới khoảng 19,2 triệu tấn và trữ lượng đáng kể bitmut, đồng, vàng và một số kim loại khác.

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh ở nhiều nơi còn có vàng, đồng, niken, thuỷ ngân,... trữ lượng các loại này tuy không lớn nhưng rất có ý nghĩa về mặt kinh tế.

– Nhóm khoáng sản phi kim loại bao gồm pirit, barit, phôtphorit, graphit,... trong đó đáng chú ý nhất là phôtphorit với tổng trữ lượng khoảng 60 000 tấn.

– Nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng

Nguồn đá cacbonat bao gồm đá vôi xây dựng, đá vôi làm xi măng có ở nhiều nơi. Riêng đá vôi xây dựng có trữ lượng xấp xỉ 100 tỉ m3, sét xi măng có trữ lượng khoảng 84,6 triệu tấn. Ngoài ra còn có sét làm gạch ngói; cát dùng để sản xuất thuỷ tinh thông Thường, cát sỏi dùng cho xây dựng.