Đặng Quỳnh Anh
Giới thiệu về bản thân
1.. She used to wear a special dress for family gatherings when she was a kid.
2. He usually takes notes in class because of his need to remember everything.
1: people walked to shool evey day due to not having cars
2:she has the ability to understand the main idea of English texts now
3: I came acrocss an old photo of my aunt while I was cleaning
Nhân vật Hữu Chi trong "Chuyện Lý tướng quân" của Nguyễn Dữ là một điển hình cho thói tham lam vô độ và sự mù quáng đến mức không thể cứu vãn. Xuất thân từ một người làm ruộng, nhờ thời cuộc mà được cất nhắc lên chức tướng quân, Hữu Chi nhanh chóng bộc lộ bản tính dữ tợn, bạo ngược. Hắn cậy quyền thế, coi thường nho sĩ, dựa dẫm trộm cướp, và đặc biệt là "tham lam không chán". Lòng tham của Hữu Chi không chỉ dừng lại ở việc vơ vét tiền tài, mà còn thể hiện qua việc cưỡng đoạt ruộng vườn, nhà cửa của dân lành, khiến họ "vai sưng tay rách, rất là khổ sở". Đỉnh điểm của sự ngoan cố là khi đối diện với lời cảnh tỉnh của thầy tướng số và hình ảnh địa ngục, Hữu Chi vẫn phớt lờ, cho rằng "vạ sau này chưa chắc đã có" mà không nỡ "vứt bỏ những cái công cuộc sắp thành". Hắn chọn sống dâm cuồng, chém giết, không chút kiêng dè. Thông qua Hữu Chi, Nguyễn Dữ không chỉ vạch trần bản chất xấu xa của một kẻ cậy quyền thế mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về luật nhân quả: kẻ gieo gió ắt gặt bão. Cái chết ở tuổi 40 và sự trừng phạt đau đớn dưới Minh Ti là lời cảnh tỉnh đanh thép cho những ai bất chấp đạo lý, sống vì dục vọng thấp hèn.
câu 2:
Trong kho tàng văn học Việt Nam, "Chuyện Lý tướng quân" của Nguyễn Dữ là một áng văn sâu sắc, phơi bày bi kịch của một kẻ tham lam vô độ. Nhân vật Lý Hữu Chi, từ một người nông dân trở thành tướng quân, đã bị lòng tham làm cho mờ mắt, bất chấp đạo lý và nhận lấy sự trừng phạt đau đớn dưới cõi âm. Câu chuyện của Hữu Chi không chỉ là một lời cảnh tỉnh trong quá khứ mà còn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc trong đời sống hiện nay, khi lòng tham vẫn là một căn bệnh gây ra nhiều tác hại khôn lường. Lòng tham là ham muốn chiếm hữu những thứ vượt quá nhu cầu chính đáng và khả năng của bản thân. Khi lòng tham chi phối hành động, con người trở nên mù quáng, bất chấp thủ đoạn để đạt được mục đích. Tác hại đầu tiên và rõ nhất là sự tha hóa về nhân cách. Kẻ tham lam vật chất sẵn sàng vơ vét, tham nhũng, bóc lột sức lao động của người khác, biến mình thành kẻ bị xã hội khinh bỉ. Trong học tập, sự ích kỷ, tham lam điểm cao dẫn đến gian lận thi cử, làm mất đi sự công bằng, liêm chính của môi trường giáo dục và tạo ra những "sản phẩm lỗi" cho xã hội. Hậu quả tiếp theo là sự rạn nứt các mối quan hệ và mất ổn định xã hội. Lòng tham tạo ra sự đố kỵ, ghen ghét, tranh giành quyền lực, lợi ích, làm suy yếu tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái. Văn bản đã chỉ ra Hữu Chi "dồn đuổi xóm giềng cho rộng đất", khiến người dân cực khổ, ai nấy đều oán giận. Trong xã hội hiện đại, tham nhũng lớn có thể gây khủng hoảng kinh tế, làm mất niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính quyền. Cuối cùng, chính người tham lam là người chịu tổn thương lớn nhất. Họ sống trong lo âu, thấp thỏm, đánh mất sự bình an nội tâm và phải nhận những hậu quả khốc liệt về sau, như Lý Hữu Chi bị đày xuống ngục Cửu U chịu muôn vàn hình phạt. Để hạn chế và loại bỏ thói xấu này, cần sự nỗ lực từ cả cá nhân và xã hội. Về phía cá nhân, mỗi người cần tu dưỡng đạo đức, rèn luyện lối sống giản dị, biết "biết đủ". Nâng cao nhận thức về giá trị thực sự của hạnh phúc, không phải vật chất mà là sự bình yên trong tâm hồn và các mối quan hệ tốt đẹp. Việc thực hành lối sống sẻ chia, giúp đỡ người khác cũng là cách hiệu quả để nuôi dưỡng lòng vị tha, đẩy lùi tính ích kỷ.h và sự công bằng. Các chế tài xử phạt phải nghiêm minh, đủ sức răn đe đối với những hành vi vi phạm pháp luật xuất phát từ lòng tham. Tóm lại, lòng tham là một căn bệnh tinh thần nguy hiểm, tàn phá nhân cách con người và gây hại cho xã hội. Bài học từ Lý Hữu Chi vẫn còn nguyên giá trị cảnh tỉnh. Chỉ khi mỗi cá nhân biết kiềm chế dục vọng, sống có đạo đức, biết đủ và sẻ chia, chúng ta mới có thể xây dựng một xã hội văn minh, tốt đẹp và bình yên hơn.Câu 1
-Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì
Câu 2
-Ngôi kể thứ ba
Câu 3
-Nhân vật chính: Lý Hữu Chi
-Đặc điểm nhân vật: Dữ tơn,độc ác,ích kỉ,coi thường đạo lí,tham lan,bạo ngược.
Câu 4
-chi tiết kì ảo:Thúc Khoản xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xử tội các linh hồn
-tác dụng: Nhấn mạnh luật nhân quả,đạo lí ác giả ác báo ở hiền gặp lành,làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, sinh động,lôi cuốn người đọc
câu 5:
: Qua truyện Chuyện Lý tướng quân, truyện không chỉ lên án, tố cáo Lý tướng quân đã lạm quyền mà trở nên tàn ác, tham lam, coi thường đạo lí, làm nhiều chuyện ác mà còn từ chính câu chuyện ấy, khẳng định sự công minh của "lưới trời", nhấn mạnh lối sống "ác giả ác báo, thiện giả thiện báo".Câu chuyện rút ra trong em bài học về lòng tham lam,cần học các sống biết đủ,sống có trách nhiệm.
a) Ở mỗi mặt, có \(4\) hình lập phương nhỏ được sơn một mặt (các hình được gạch sọc).
Ở sáu mặt có: \(4.6 \&\text{nbsp}; = 24\) (hình).
b) Ở mỗi cạnh, có \(2\) hình lập phương được sơn hai mặt (các hình ghi dấu "\(x\)").
Ở \(12\) cạnh có : \(2.12 = 24\) (hình).

Ta có: \(A B = A D + D B\)
Suy ra \(D B = A B - A D = 10 - 6 = 4\) cm
\(A M\) là trung tuyến của \(\Delta A B C\) suy ra \(M\) là trung điểm của \(B C\)
Suy ra \(B M = C M = \frac{1}{2} B C = 15\) cm.
Xét \(\Delta A B M\) có \(M D\) là phân giác của góc \(A M B\) nên
\(\frac{A M}{B M} = \frac{A D}{D B}\)
\(\frac{A M}{B M} = \frac{6}{4} = \frac{3}{2}\)
Do đó \(A M = \frac{3}{2} . B M = \frac{3}{2} . 15 = 22 , 5\) (cm).

a) Xét \(\Delta A E H\) và \(\Delta A H B\) có:
\(\hat{B A H}\) chung và \(\hat{A E H} = \hat{A H B} = 9 0^{\circ}\)
Do đó \(\Delta A E H \sim \Delta A H B\) (g.g)
Suy ra \(\frac{A H}{A B} = \frac{A E}{A H}\) hay \(A H^{2} = A E . A B\) (1)
b) Chứng minh tương tự \(\Delta A H F \sim \Delta A C H\) (g.g)
Suy ra \(\frac{A H}{A C} = \frac{A F}{A H}\) hay \(A H^{2} = A F . A C\) (2)
Từ (1) và (2) suy ra \(A E . A B = A F . A C\)
c) Ta có \(A E . A B = A F . A C\) nên \(\frac{A E}{A C} = \frac{A F}{A B}\).
Xét \(\Delta A E F\) và \(\Delta A C B\) có:
\(\hat{E A F}\) chung
\(\frac{A E}{A C} = \frac{A F}{A B}\) (cmt)
Do đó \(\Delta A E F \&\text{nbsp}; \sim \Delta A C B\) (c.g.c).
Suy ra \(\frac{E F}{C B} = \frac{P_{A E F}}{P_{A C B}} = \frac{20}{30} = \frac{2}{3}\) (tỉ số chu vi bằng tỉ số đồng dạng)
Áp dụng tính chất dãy tỉ số bằng nhau ta có \(\frac{S_{A E F}}{4} = \frac{S_{A C B}}{9} = \frac{S_{A C B} - S_{A E F}}{9 - 4} = \frac{25}{5} = 5\)
Suy ra
\(S_{A E F} = 5.4 = 20\) cm\(^{2}\);
\(S_{A C B} = 5.9 = 45\) cm\(^{2}\).
Vậy \(S_{A E F} = 20\) cm\(^{2}\) và \(S_{A C B} = 45\) cm\(^{2}\).
Xác suất cho biến cố "Thẻ rút ra là thẻ đánh số 3" là: \(\frac{6}{20} = \frac{3}{10}\).
Gọi vận tốc riêng của ca nô là \(x\) (km/h, \(x > 3\)).
Vận tốc ca nô khi đi xuôi khúc sông từ \(A\) đến \(B\) là: \(x + 3\) (km/h);
Vận tốc ca nô khi đi ngược khúc sông từ \(B\) về \(A\) là: \(x - 3\) (km/h);
Khúc sông \(A B\) có chiều dài không đổi nên ta có phương trình: \(\frac{3}{2} \left(\right. x + 3 \left.\right) = 2 \left(\right. x - 3 \left.\right)\).
Giải phương trình trên ta nhận được \(x = 21\) (thỏa mãn)
Do đó vận tốc riêng của ca nô là \(21\) km/h.
Chiều dài khúc sông là: \(2 \left(\right. 21 - 3 \left.\right) = 36\) (km).
Vậy vận tốc riêng của cano là \(21\) km/h, chiều dài khúc sông là \(36\) km .
a. Ta có: \(3 x - 4 = 5 + x\)
\(3 x - x = 5 + 4\)
\(2 x = 9\)
\(x = \frac{9}{2}\).
Vậy phương trình đã cho có nghiệm \(x = \frac{9}{2}\).
b. Ta có: \(3 \left(\right. x - 1 \left.\right) - 7 = 5 \left(\right. x + 2 \left.\right)\)
\(3 x - 3 - 7 = 5 x + 10\)
\(5 x - 3 x = - 3 - 7 - 10\)
\(2 x = - 20\)
\(x = - 10\).
Vậy phương trình có nghiệm \(x = - 10\).