Bảo Nam

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bảo Nam
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a,\(A=\left(\frac{\sqrt{x}+2}{x-5\sqrt{x}+6}-\frac{\sqrt{x}+3}{2-\sqrt{x}}-\frac{\sqrt{x}+2}{\sqrt{x}-3}\right):\left(2-\frac{\sqrt{x}}{\sqrt{x}+1}\right)\)

=\(\left(\frac{\sqrt{x}+2}{x-5\sqrt{x}+6}-\frac{\left(3+\sqrt{x}\right)\cdot\left(3-\sqrt{x}\right)}{x-5\sqrt{x}+6}-\frac{\left(\sqrt{x}+2\right)\left(\sqrt{x-2}\right)}{x-5\sqrt{x}+6}\right):\left(\frac{2\left(\sqrt{x}+1\right)}{\sqrt{x}+1}-\frac{\sqrt{x}}{\sqrt{x}+1}\right)\)

\(=\frac{\left(\sqrt{x}+2\right)-\left(9-x\right)-\left(x-4\right)}{x-5\sqrt{x}+6}:\frac{2\sqrt{x}+2-\sqrt{x}}{\sqrt{x}+1}\)

=\(\frac{\sqrt{x}+2+x-9+4-x}{x-5\sqrt{x}+6}:\frac{\sqrt{x}+2}{\sqrt{x}+1}\)

\(=\frac{\sqrt{x}-3}{\left(\sqrt{x}-2\right)\left(\sqrt{x}-3\right)}\cdot\frac{\sqrt{x}+1}{\sqrt{x}+2}\)

=\(\frac{1}{\left(\sqrt{x}-2\right)}\cdot\frac{\sqrt{x}+1}{\sqrt{x}+2}=\frac{\sqrt{x}+1}{x-4}\)

vậy \(A=\frac{\sqrt{x}+1}{x-4}\)

b, để \(\frac{1}{A}\le-\frac52\) thì:

\(\frac{x-4}{\sqrt{x}+1}\le-\frac52\)

\(\Rightarrow2x-8\le-5\sqrt{x}-5\)

\(\Rightarrow2x+5\sqrt{x}-3\le0\)

\(\Rightarrow-3\le\sqrt{x}\le\frac12\)

\(\Rightarrow0\le\sqrt{x}\le\frac12\)

\(\Rightarrow0\le x\le\frac14\)

vậy để \(\frac{1}{A}\le-\frac52\) thì \(0\le x\le\frac14\)

\(A=\sqrt{2-\sqrt3}\cdot\left(\sqrt6+\sqrt2\right)\)

\(=\sqrt6\cdot\left(\sqrt{2-\sqrt3}\right)+\sqrt2\cdot\left(\sqrt{2-\sqrt3}\right)\)

\(=1,27+0,73=2\)

a, \(x\ge18\) (tuổi)

b, \(x\le700\operatorname{\left(kg\right)}\)

c, \(x\ge1\) (triệu đồng)

d,\(2x-3>-7x+2\)

câu 1:

Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì.

câu 2:

Ngôi kể: Ngôi thứ ba

câu 3:

Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.

Tính cách: Hung bạo, tham lam, tàn ác, cậy quyền cậy sức, coi thường đạo lí, không biết hối cải.

câu 4:

Chi tiết hoang đường: Lý Hữu Chi nhìn thấy cảnh dưới âm phủ trong chùm hạt châu hoặc Thúc Khoản được dẫn xuống Minh Ti chứng kiến xét xử linh hồn.

Tác dụng: Tăng tính truyền kì, nhấn mạnh sự trừng phạt kẻ ác, giáo dục đạo đức.+

câu 5

Ý nghĩa văn bản và bài học: Truyện khẳng định luật nhân quả làm ác sẽ gặp báo ác, dù ở đời có tránh khỏi nhưng xuống âm phủ vẫn phải chịu tội. Tác phẩm phê phán những kẻ tham tàn, cậy quyền làm điều thất đức, đồng thời ca ngợi người biết tỉnh ngộ, hướng thiện (như Thúc Khoản). Bản thân em rút ra bài học: phải sống lương thiện, tôn trọng người khác, tránh tham lam và sử dụng quyền lực để hại người.

Bài làm

Đoạn trích từ "Chinh phụ ngâm" nguyên tác Đặng Trần Côn, bản dịch thơ Nôm của Đoàn Thị Điểm là một trong những khúc ca bi thương và sâu sắc nhất của văn học trung đại Việt Nam. Bằng nghệ thuật miêu tả nội tâm tinh tế và ngôn ngữ giàu sức biểu cảm, đoạn thơ đã chạm đến tận cùng nỗi đau khổ, cô đơn của người chinh phụ khi phải sống trong cảnh chia lìa, chờ đợi chồng nơi chiến trận xa xôi.

Nội dung chính của đoạn trích tập trung vào việc bóc tách, phơi bày những cung bậc cảm xúc của người vợ trẻ. Đó là nỗi sầu vò võ, dai dẳng và tuyệt vọng, được thể hiện qua các phương diện sau:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,

 Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.

Ngoài rèm thước chẳng mách tin,

Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

 Ngoài rèm thước chẳng mách tin,

Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

  Buồn rầu nói chẳng nên lời,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương.

Mở đầu đoạn trích, không gian và thời gian được cố định trong sự quạnh hiu: "Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước / Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen". Những hành động luẩn quẩn, không mục đích "dạo hiên vắng", "ngồi rèm thưa" lột tả sự bồn chồn, khắc khoải của nhân vật. Không gian "hiên vắng", "rèm thưa" càng làm nổi bật sự trống trải trong tâm hồn người chinh phụ. Mọi sự vật xung quanh đều vô tri, vô giác trước nỗi lòng của nàng: "Ngoài rèm thước chẳng mách tin", "Đèn có biết dường bằng chẳng biết". Sự giao cảm với ngoại cảnh thất bại hoàn toàn, khiến nỗi cô đơn càng trở nên thấm thía.

"Gà eo óc gáy sương năm trống

Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên

Khắc giờ đằng đẳng như niên

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa"

Nỗi sầu khiến cảm nhận về thời gian và không gian của nhân vật thay đổi một cách phi thường. Thời gian trôi qua chậm chạp, lê thê: "Gà eo óc gáy sương năm trống / Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên". Cảnh vật chìm trong màn đêm tĩnh mịch, chỉ có tiếng gà gáy thưa thớt, tiếng lá hòe xao động càng làm tăng thêm sự vắng lặng. Đỉnh điểm là sự so sánh đầy ám ảnh: "Khắc giờ đằng đẳng như niên / Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa". Một khắc đồng hồ dài đằng đẵng như cả một năm trời; nỗi sầu thì vô biên, mênh mông như biển cả. Đây là sự phóng đại nghệ thuật đắt giá, thể hiện nỗi đau đã vượt quá sức chịu đựng của con người.

"Hương gượng đốt hồn đà mê mải

Gương gượng soi lệ lại châu chan

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn

Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng"

Khi nỗi sầu đã lên đến đỉnh điểm, người chinh phụ tìm cách giải sầu nhưng đều thất bại. Điệp ngữ "gượng" được sử dụng đầy ám ảnh: "Hương gượng đốt hồn đà mê mải / Gương gượng soi lệ lại châu chan / Sắt cầm gượng gảy ngón đàn". Mỗi hành động "gượng" làm một việc quen thuộc thường ngày lại chỉ khiến nỗi buồn thêm chất chồng, nước mắt lại tuôn rơi. Cây đàn – biểu tượng cho tình yêu lứa đôi – giờ đây cũng đứt dây: "Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng". Hình ảnh này báo hiệu sự đứt gãy, chia lìa trong tình cảm vợ chồng, sự bế tắc hoàn toàn trong cuộc sống hiện tại của người chinh phụ.

Đoạn trích đạt đến trình độ nghệ thuật điêu luyện, góp phần làm nên giá trị bất hủ của tác phẩm:
Tác phẩm sử dụng thể thơ song thất lục bát truyền thống của dân tộc. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa các câu bảy chữ (song thất) và các cặp lục bát tạo nên giọng điệu vừa trang trọng, cổ điển, vừa mềm mại, da diết. Nhịp thơ thường được chia lẻ (2/2/3 hoặc 4/3) ở các câu bảy chữ, mô phỏng tiếng thở dài, sự nấc nghẹn của nhân vật trữ tình, nhấn mạnh tâm trạng bi thương.
Bản dịch của Đoàn Thị Điểm sử dụng ngôn ngữ thơ Nôm thuần Việt, bình dị mà tinh tế. Các từ Hán Việt được sử dụng chọn lọc ("châu chan", "bi thiết") tạo sắc thái trang nhã, cổ điển. Đặc biệt, việc sử dụng các từ láy ("eo óc", "phất phơ", "đằng đẳng", "dằng dặc") đã cực tả trạng thái tâm lý, âm thanh và hình ảnh, khơi gợi sự ám ảnh về thời gian và không gian.
Cảnh vật trong đoạn trích không đơn thuần là phông nền mà là tấm gương phản chiếu tâm trạng. Cảnh "hoè rủ bóng", tiếng "gà eo óc" đều mang nặng tâm tư sầu muộn của con người. Biện pháp nhân hóa ("thước chẳng mách tin", "đèn có biết chăng") thể hiện sự khao khát được chia sẻ, được thấu hiểu đến tuyệt vọng của người chinh phụ.
Các hình ảnh ước lệ, tượng trưng quen thuộc trong văn học cổ như "dây uyên", "phím loan", "sắt cầm" được vận dụng một cách nhuần nhuyễn, tô đậm chủ đề tình yêu lứa đôi tan vỡ, éo le. Đoạn trích "Chinh phụ ngâm" là một kiệt tác của văn học trung đại, là tiếng nói chung cho nỗi đau của người phụ nữ trong chiến tranh phong kiến. Qua nghệ thuật miêu tả nội tâm bậc thầy và bút pháp trữ tình tinh tế của Đoàn Thị Điểm, nỗi sầu của người chinh phụ hiện lên chân thực, da diết, vượt qua giới hạn của thời đại để chạm đến trái tim của độc giả muôn đời. Đoạn thơ không chỉ là lời than trách chiến tranh mà còn là bản cáo trạng về sự bất hạnh của con người, đặc biệt là người phụ nữ, trong xã hội cũ.

Thông Điệp:
Con người cần trân trọng những giá trị đời thực và gắn bó với cội nguồn; chạy theo ảo mộng xa vời dễ dẫn đến mất mát và cô đơn.

Lý Giải:
Từ Thức mải mê tìm chốn tiên cảnh nhưng cuối cùng mất cả tiên giới lẫn trần thế. Điều đó cho thấy hạnh phúc thực sự nằm ở những điều gần gũi, bình dị trong cuộc sống, chứ không phải nơi huyền ảo xa xôi.

Ở cuối đoạn trích, Từ Thức “mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất”. Sự lựa chọn này có thể lí giải như sau:

1. Cảm giác lạc lõng, cô đơn khi trở lại trần thế

- Sau thời gian ở tiên giới, Từ Thức trở về thì mọi thứ đã thay đổi: “vật đổi sao dời”, người thân, bạn bè không còn, thời gian nhân gian trôi qua quá lâu.

- Chàng không còn chỗ dựa, không tìm thấy sự gắn bó nào ở cõi trần.

2. Không thể quay trở lại tiên giới

- Xe mây đã hóa chim loan bay mất, lá thư của Giáng Hương cho thấy duyên phận đã kết thúc.

- Cả hai con đường – nhân gian và tiên giới – đều đóng lại với chàng.

3.Chọn con đường thoát tục

- Việc vào núi Hoành Sơn mang ý nghĩa từ bỏ cuộc sống trần tục, tìm đến một thế giới khác – có thể là con đường tu tiên, ẩn dật, hoặc đi vào cõi hư vô.

- Đây là bước cuối cùng thể hiện bản chất lãng mạn, siêu thoát, không thuộc về trần thế của Từ Thức.

4. Bi kịch của người mơ mộng

- Cái kết là một bi kịch: người tìm kiếm cái đẹp tuyệt đối nhưng không thể hòa nhập hoàn toàn với cả hai thế giới.

- Sự lựa chọn ấy thể hiện sự bất lực của con người trước quy luật thời gian, số phận và chữ duyên.

tóm lại, Từ Thức rời bỏ nhân gian vì mất hết điểm tựa, không thể quay lại tiên giới, và cũng không thể thích nghi với cuộc sống trần gian. Chàng chọn con đường ẩn dật như một cách giữ lấy sự thanh sạch, tự do của tâm hồn – dù đó là một lựa chọn cô đơn và đầy bi thương.

câu 1:

Bài Làm

Trong Chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ hiện lên với nỗi nhớ thương và cô đơn đến tột cùng khi chồng ra chiến trận nơi biên ải xa xôi. Trải qua bao mùa xuân, nàng vẫn khắc khoải đợi chờ mà “tin hãy vắng không”. Nỗi nhớ chồng khiến nàng tưởng nhạn là sứ giả mang thư, nghe hơi sương lại sắm áo ấm cho người đi xa. Từng hành động nhỏ — gieo quẻ bói, dạo hiên, ngồi rèm — đều chứa đựng niềm thương nhớ và lo lắng khôn nguôi. Cô đơn đến mức, nàng chỉ còn biết trò chuyện với ngọn đèn — “Đèn có biết dường bằng chẳng biết”. Đó là biểu tượng của nỗi buồn và sự cô độc trong đêm dài vô tận. Qua nhân vật người chinh phụ, ta cảm nhận được tiếng nói cảm thương sâu sắc đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến — những người phải chịu cảnh ly biệt, cô đơn vì chiến tranh. Hình tượng ấy cũng thể hiện khát vọng đoàn tụ, hạnh phúc và hòa bình, đồng thời tố cáo những mất mát mà chiến tranh mang lại cho con người.

câu 2:

Bài Làm

Đọc Chinh phụ ngâm, ta bắt gặp hình ảnh người chinh phụ cô đơn, lặng lẽ chờ chồng nơi biên ải xa xôi. Tiếng lòng của người vợ trẻ ấy vang lên giữa không gian vắng lặng, khiến ta thấm thía nỗi đau mà chiến tranh đã gây ra cho bao người. Từ nỗi cô đơn của người chinh phụ, ta càng nhận ra chiến tranh không chỉ là sự tàn khốc của súng đạn, mà còn là nỗi mất mát, chia ly âm thầm trong từng mái nhà, từng trái tim con người.

Chiến tranh mang đến đau thương cho tất cả: kẻ ra đi, người ở lại, và cả những vùng đất bị tàn phá. Nó cướp đi mạng sống của biết bao người lính, đẩy những người mẹ, người vợ vào cảnh cô đơn, đợi chờ vô vọng. Cảnh người chinh phụ "trải mấy xuân tin đi tin lại" là minh chứng cho sự tàn nhẫn của chiến tranh – khi hạnh phúc lứa đôi bị chia cắt, tuổi xuân bị giam trong nỗi nhớ mong mỏi. Không chỉ hủy diệt thân xác, chiến tranh còn để lại những vết thương tinh thần sâu sắc, ám ảnh con người suốt đời. Những ngôi làng bị đốt cháy, những đứa trẻ mồ côi, những dòng sông đỏ máu – tất cả là chứng nhân cho bi kịch nhân loại.

Chiến tranh còn là biểu tượng của sự mất mát về niềm tin và nhân tính. Khi con người phải cầm vũ khí chống lại nhau, tình thương và lòng nhân bị lãng quên, thế giới chìm trong khói lửa và hận thù. Bởi vậy, khát vọng lớn nhất của con người mọi thời đại chính là được sống trong hòa bình – nơi không còn tiếng súng, nơi con người được yêu thương và được sống trọn vẹn cho những ước mơ.

Ngày nay, chúng ta may mắn được sinh ra trong hòa bình – thành quả của bao thế hệ cha ông đã hy sinh xương máu để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Vì thế, thế hệ trẻ hôm nay có trách nhiệm sâu sắc trong việc trân trọng và giữ gìn cuộc sống hòa bình ấy. Trước hết, chúng ta cần nhận thức rõ giá trị của hòa bình, biết tri ân những người đã ngã xuống. Mỗi học sinh phải cố gắng học tập, rèn luyện đạo đức, sống có lý tưởng và ước mơ cống hiến. Giữ gìn hòa bình không chỉ là bảo vệ biên cương, mà còn là bảo vệ tình người, chống lại bạo lực, thù hận và sự vô cảm trong đời sống hằng ngày. Chúng ta có thể bắt đầu từ những việc nhỏ: sống chan hòa, biết yêu thương, cùng nhau xây dựng xã hội văn minh, nhân ái – đó chính là nền tảng vững chắc cho một thế giới hòa bình.

Chiến tranh đã đi qua, nhưng dư âm đau thương vẫn còn trong từng trang thơ, từng câu chuyện. Bởi vậy, chúng ta – thế hệ trẻ – càng phải biết quý trọng từng giây phút yên bình, sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh của cha ông. Hãy biến lòng biết ơn thành hành động thiết thực: học tập tốt, sống đẹp, chung tay xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân ái – để hòa bình không chỉ là quá khứ, mà là tương lai bền vững của dân tộc.


câu 1: thể thơ của văn bản trên: song thất lục bát

câu 2:

Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ:

“Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không."

câu 3:

Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ:

- Thường nhớ thương, lo lắng mong tin chồng (“Thấy nhạn luống tưởng thư phong”).

- Chuẩn bị áo ấm, nghĩ cho chồng nơi biên ải lạnh (“Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng”).

- Gieo quẻ bói, dạo hiên, ngồi rèm chờ tin biểu hiện tâm trạng bất an, cô đơn.

→ Nhận xét : Những hành động ấy thể hiện nỗi nhớ thương da diết, tình yêu thủy chung và nỗi cô đơn sâu sắc của người chinh phụ.

câu 4:

Biện pháp tu từ nổi bật: nhân hóa – “Đèn có biết dường bằng chẳng biết”.
→ Tác dụng: Nhân hóa ngọn đèn giúp làm nổi bật nỗi cô đơn của người chinh phụ — nàng chỉ có ngọn đèn làm bạn, muốn giãi bày tâm sự nhưng đèn “không biết”, càng làm tăng cảm giác trống vắng, buồn tủi.

câu 5:

- Tâm trạng của người chinh phụ:
Buồn thương, cô đơn, nhớ nhung, mong ngóng, khắc khoải chờ tin chồng trong vô vọng.

- suy nghĩ của em về giá trị của cuộc sống hòa bình hiện nay:
Bài thơ giúp ta trân trọng hơn cuộc sống hòa bình hôm nay , nơi không còn cảnh chia ly vì chiến tranh, vợ chồng, gia đình được đoàn tụ và sống trong ấm no, hạnh phúc.