Bảo Nam
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Năm dòng thơ cuối trong đoạn trích Hạnh phúc của Giang Nam đã kết tinh sâu sắc cảm xúc của người cha sau chiến tranh. Trong hoàn cảnh “má bận đi công tác”, người cha lần đầu được trực tiếp chăm sóc con, được hưởng niềm vui giản dị của đời sống thường ngày. Hành động “đưa con đến trường” vốn rất đỗi bình thường, nhưng lại trở thành nguồn hạnh phúc lớn lao bởi đó là điều mà chiến tranh đã tước đoạt suốt ba mươi năm. Điệp ngữ “cái hạnh phúc” lặp lại nhiều lần nhấn mạnh cảm xúc dâng trào, vừa vui sướng, vừa xen lẫn chút nghẹn ngào, xót xa. Đặc biệt, hình ảnh so sánh “trong lành như hơi thở của con” đã gợi lên vẻ đẹp tinh khôi, thiêng liêng của tình phụ tử và của cuộc sống hòa bình. Câu thơ “nửa đời người ba mới gặp” như một lời tự sự đầy xúc động, cho thấy giá trị vô cùng quý giá của những điều tưởng như nhỏ bé. Với ngôn ngữ mộc mạc, chân thành và nhịp điệu linh hoạt, đoạn thơ không chỉ thể hiện tình cảm gia đình sâu nặng mà còn khẳng định ý nghĩa lớn lao của hòa bình – khi con người được sống trọn vẹn với những niềm hạnh phúc bình dị nhất.
Câu 1:
Đoạn trích trên được viết theo ngôi kể thứ nhất
Câu 2
- Lời dẫn trực tiếp: “Em đừng buồn. Anh mà ở lại thì anh không đi được nữa. Thôi nào con, cho bố đi nào”
- Lời người kể chuyện: Cha tôi bảo; Cha chuyền tay trao con gái cho vợ rồi quay gót
câu 3:
Câu văn “Lần này, bước chân ông quả quyết, thật nhanh, không ngoái đầu nhìn lại.” cho thấy:
- Thái độ cương quyết và tinh thần trách nhiệm của cha với Tổ quốc
- Tình cảm yêu thương, gắn bó với gia đình, không dám nhìn lại vì sợ sẽ quyến luyến không thể rời xa vợ và con
câu 4:
- Biện pháp tu từ: Liệt kê.
- Tác dụng:
+ Làm tăng tính biểu đạt, hấp dẫn cho lời văn
+ Nhấn mạnh những nỗi lo lắng, tấm lòng yêu thương của người cha dành cho con cái, gia đình
câu 5:
Có thể đồng tình vì cách giáo dục của người cha thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm và định hướng con cái tránh sai lầm. Tuy nhiên, cũng cần kết hợp với sự thấu hiểu, chia sẻ để con phát triển tự nhiên và không bị áp lực quá mức.
Hình tượng “Bà má Hậu Giang” trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu là biểu tượng rực rỡ cho vẻ đẹp kiên trung, bất khuất của người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Trước hết, má hiện lên với vẻ ngoài bình dị, tảo tần bên “túp lều tranh”, với “nồi cơm to” chăm lo cho các con du kích. Thế nhưng, ẩn sau dáng vẻ “lẩy bẩy như tàu chuối khô” vì tuổi già lại là một ý chí sắt đá. Trước sự tàn bạo của kẻ thù “mắt xanh mũi lõ”, dù bị giày đạp, gươm kề hông, má vẫn một lòng giữ vững khí tiết: “Má quyết không khai nào!”. Đỉnh điểm của lòng yêu nước và căm thù giặc là khoảnh khắc má dồn hết chút sức tàn như “ngọn sóng trào” để đứng dậy quát thẳng vào mặt kẻ thù, khẳng định niềm tin mãnh liệt vào sự nghiệp cách mạng và thế hệ “con tao trăm vùng” gan dạ. Sự hy sinh của má không phải là sự khuất phục mà là lời tuyên ngôn đanh thép về tinh thần dân tộc. Hình ảnh “dòng máu đỏ lên trời” cùng bóng má in trên sông Hậu Giang đã bất tử hóa người mẹ kháng chiến – những con người lấy thân mình làm lá chắn, thầm lặng mà vĩ đại, góp phần làm nên chiến thắng của non sông. Qua đó, Tố Hữu không chỉ ca ngợi hình tượng người mẹ anh hùng mà còn khơi dậy lòng căm thù giặc và niềm tự hào dân tộc sâu sắc trong lòng người đọc.
câu 1:
ngôi thứ 3
câu 2:
Trong đoạn trích, sự cẩu thả trong văn chương sẽ tạo nên những tác phẩm "vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nhẹ, rất nông, diễn một vài ý rất thông thường quấy loãng trong một thứ văn bằng phẳng và quá ư dễ dãi".
câu 3:
- bptt được sử dụng trong câu văn trên: liệt kê
- tác dụng:
+ Tạo nên sự dồn dập liên tiếp những hành động trong sáng tạo nghệ thuật của Hộ.
+ Nhấn mạnh sự cẩn thận, đan mê trong sáng tạo nghệ thuật của một nghệ sĩ chân chính và yêu nghề, hết lòng vì nghệ thuật.
câu 4:
Nhân vật Hộ trong đoạn trích trước đấy là một người nghệ sĩ chân chính với khát khao sáng tạo nghệ thuật mãnh liệt. Anh đã từng xem nhẹ vật chất, hết lòng trau chuốt cho tác phẩm của mình. Sau khi khi có vợ con, vì những lo toan của cuộc sống, Hộ đã thay đổi. Anh không thể nhìn cảnh vợ con đói khát, khổ sở. Vì thế, chàng nghệ sĩ giàu nhiệt huyết ngày xưa đã vội vã viết. Chính anh cũng khẳng định những tác phẩm của mình thật vô vị. Hoàn cảnh khiến anh không thể thực hiện lí tưởng của mình. Điều đó làm anh dằn vặt, trăn trở, tự trách bản thân. Anh cũng là một nhân vật đáng thương.
câu 5:
Tôi đồng tình với quan điểm trên, vì đó là một quan niệm đúng đắn, sâu sắc:
+ Thế giới văn chương cũng như cuộc sống luôn vô cùng phong phú, đa dạng. Nếu người nghệ sĩ cứ mãi đi theo một lối mòn thì sẽ tạo ra những tác phẩm nhàm chán, vô vị và tẻ nhạt.
+ Để tạo ra được những tác phẩm ấn tượng, người nghệ sĩ cần phải cẩn thận, kĩ lưỡng, sáng tạo, tìm ra những lối đi riêng, thể hiện phong cách riêng.
+ Khẳng định mỗi tác phẩm văn chương là cả sự sáng tạo kì công của người nghệ sĩ.
câu 1:
Trong mỗi con người, quê hương luôn là nơi lưu giữ những ký ức đẹp đẽ và thiêng liêng nhất của cuộc đời. Đoạn trích “Tự tình với quê hương” đã khơi dậy trong em những cảm xúc sâu lắng về nơi chôn nhau cắt rốn. Quê hương hiện lên thật gần gũi qua những hình ảnh quen thuộc như lời ru của mẹ, bến đò xưa, dòng sông Lô đỏ nặng phù sa. Đó không chỉ là cảnh vật mà còn là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, gắn bó với tuổi thơ êm đềm của mỗi con người. Đặc biệt, những địa danh như Tam Đảo hay tháp Bình Sơn được nhắc đến với vẻ đẹp hùng vĩ, bền bỉ, gợi niềm tự hào về truyền thống quê hương. Em cảm nhận rõ rằng quê hương không chỉ hiện diện trong không gian mà còn sống động trong ký ức và tình cảm, theo con người suốt hành trình trưởng thành. Từ những trang sách, lời dạy của thầy cô đến những vần thơ quen thuộc, tình yêu quê hương được bồi đắp một cách tự nhiên và sâu sắc. Về nghệ thuật, đoạn thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi, kết hợp với các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa: “tuổi thơ đẹp tựa một bài ca”, “ngọn Tam Đảo reo”, làm cho bức tranh quê hương trở nên sinh động, giàu cảm xúc. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, giàu nhạc điệu cùng giọng điệu thiết tha, trìu mến đã góp phần thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng của tác giả. Đoạn thơ giúp em thêm yêu, thêm trân trọng quê hương mình, đồng thời nhắc nhở mỗi người cần có ý thức gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp ấy.
câu 2:
Trong thời đại công nghệ số hiện nay, việc quảng bá văn hoá truyền thống không chỉ là một nhu cầu tất yếu mà còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân và cộng đồng. Sự phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội và các nền tảng số đã mở ra cơ hội lớn để văn hoá dân tộc được lan tỏa rộng rãi, vượt qua mọi ranh giới không gian và thời gian.
Trước hết, công nghệ số giúp việc quảng bá văn hoá trở nên nhanh chóng và hiệu quả hơn bao giờ hết. Những giá trị truyền thống như lễ hội, ẩm thực, trang phục, phong tục tập quán… có thể được giới thiệu thông qua video, hình ảnh, bài viết trên các nền tảng trực tuyến. Nhờ đó, không chỉ người trong nước mà bạn bè quốc tế cũng có cơ hội tiếp cận và hiểu hơn về bản sắc văn hoá dân tộc. Đây là một lợi thế mà các phương thức truyền thống trước đây khó có thể đạt được.
Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, việc quảng bá văn hoá trong thời đại số cũng đặt ra nhiều thách thức. Một số nội dung bị biến tướng, làm sai lệch giá trị gốc để thu hút lượt xem, gây hiểu lầm về văn hoá truyền thống. Ngoài ra, sự du nhập mạnh mẽ của các nền văn hoá ngoại lai cũng khiến một bộ phận giới trẻ dần xa rời hoặc thờ ơ với văn hoá dân tộc. Điều này đòi hỏi sự tỉnh táo và ý thức trách nhiệm khi tiếp nhận và lan tỏa thông tin trên không gian mạng.
Vì vậy, để quảng bá văn hoá truyền thống một cách hiệu quả, cần có sự chung tay của nhiều phía. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, định hướng và bảo tồn các giá trị văn hoá. Các tổ chức, cá nhân sáng tạo nội dung cần khai thác chất liệu truyền thống một cách chân thực, sáng tạo nhưng không làm mất đi bản sắc. Đặc biệt, mỗi người trẻ cần nâng cao ý thức tìm hiểu, trân trọng và chủ động lan tỏa những nét đẹp văn hoá quê hương bằng những cách thức phù hợp với thời đại số.
Tóm lại, công nghệ số vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với việc quảng bá văn hoá truyền thống. Nếu biết tận dụng đúng cách, chúng ta không chỉ gìn giữ mà còn làm cho văn hoá dân tộc ngày càng tỏa sáng trong dòng chảy hội nhập toàn cầu.
câu 1:
phương thức biểu đạt chính của văn bản "Quần thể di tích Cố đô Huế − Di sản văn hóa thế giới" là thuyết minh
câu 2:
Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 1993
câu 3:
- phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh Đại Nội Huế về đêm
- tác dụng:
+ Minh họa trực quan về vẻ đẹp tráng lệ, lung linh của di tích, giúp văn bản trở nên sinh động và hấp dẫn với người đọc hơn
+ Tăng tính xác thực cho các thông tin được trình bày trong bài viết
+ Giúp người đọc dễ dàng hình dung và kết nối giữa thông tin lịch sử với vẻ đẹp thực tế của di sản
câu 4:
− Thông tin về mốc thời gian, số liệu:
+ Các mốc thời gian: Năm 1306, thế kỷ 15, năm 1636, năm 1687, đầu thế kỷ 18, giai đoạn 1788 − 1801, giai đoạn 1802 − 1945, năm 1993.
+ Các số liệu: 13 đời vua, ba tòa thành, phiên họp lần thứ 17.
- tác dụng:
+ Cung cấp bằng chứng lịch sử chính xác, cụ thể, giúp tăng độ tin cậy và tính khoa học cho một văn bản thông tin
+ Giúp người đọc dễ dàng theo dõi quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của Huế qua các thời kỳ lịch sử khác nhau
+ Khẳng định bề dày lịch sử lâu đời và quy mô to lớn, tầm quan trọng của hệ thống kiến trúc Cố đô
câu 5:
Từ nội dung của văn bản "quần thể di tích cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới", em đề xuất một số việc giới trẻ có thể làm để tham gia vào bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc: Cần chủ động tìm hiểu và nâng cao kiến thức về lịch sử dân tộc thông qua việc đọc sách hoặc tham quan thực tế tại các di tích. Chúng ta cũng cần có ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn cảnh quan như: Không viết hay vẽ bậy, không xâm phạm hiện vật và giữ gìn vệ sinh chung khi đến các khu di sản. Cuối cùng, ta nên tận dụng sức mạnh của mạng xã hội để sáng tạo nội dung, hình ảnh nhằm quảng bá vẻ đẹp văn hóa Việt Nam đến bạn bè quốc tế.
câu 1:
Bài Làm
Nhân vật chị cỏ bò trong văn bản "Cổ tích" hiện lên là một con người nghèo khổ nhưng giàu lòng nhân ái và tình thương. Chị sống trong một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện; làm nghề cắt cỏ thuê, vậy mà vẫn sẵn sàng sẻ chia miếng cơm ít ỏi với bà cụ kẹo – một người xa lạ. Hành động "bẻ đôi nắm cơm mời ăn" dù giản dị nhưng đậm chất nghĩa tình, cho thấy tấm lòng nhân hậu, yêu thương của chị dành cho bà cụ. Khi đưa bà về sống cùng, chị coi bà như mẹ, chăm sóc, đùm bọc bằng tất cả sự chân thành, khiến túp lều nghèo trở nên ấm áp.Ngay cả khi mất nghề, cuộc sống càng khó khăn, chị vẫn không hề than trách mà cố gắng xoay xở, giữ trọn nghĩa tình. Đặc biệt, trước cái chết của bà cụ, chị đau đớn, tận tình lo hậu sự, thể hiện sự gắn bó sâu sắc như ruột thịt. Hình ảnh chị cỏ bò tiêu biểu cho vẻ đẹp của những con người lao động nghèo: thiếu thốn về vật chất nhưng giàu có về tâm hồn, luôn biết sống vì người khác. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp về giá trị thiêng liêng của tình người trong cuộc sống.
câu 2:
Bài Làm
câu 1:
ngôi thứ ba
câu 2:
- những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của bà cụ: "Bà sống được nhờ mấy lọ kẹo và chum nước lã. Hồi sức, bà bần thần như người mất trí, lang thang ăn mày đường phố."; " Bà xệp dưới gốc cột đèn góc phố ven đô, bày bán những lọ kẹo bột, kẹo vừng... mà nuôi đủ ba mẹ con."
- những chi tiết miêu tả hoàn cảnh của chị cỏ bò: "Nhà chị cỏ bò, một túp lều thưng vách cót, phủ mái giấy dầu, đứng tựa chân tòa nhà ba tầng nghễu nghện. Từ rày có mẹ, có con.";" Chị cỏ bò – tên người phố đặt cho – cắt cỏ thuê cho mấy anh xe bò"
câu 3:
chủ đề của tác phẩm: Ca ngợi tình người ấm áp giữa những con người nghèo khổ, dù trong hoàn cảnh khó khăn thì vẫn sẵn lòng chia sẻ và cùng nhau vượt qua nghịch cảnh. Tác giả cũng bày tỏ lòng thương cảm sâu sắc đối với cuộc sống nghèo khó của những người trong xã hội
câu 4:
Nhận xét về tác dụng của cách dùng từ ngữ trong đoạn văn:
- Sử dụng biệt pháp tu từ nhân hóa "Rét mướt ác với kẻ nghèo" gợi lên hoàn cảnh của người mẹ và con gái, làm nổi bật sự nghèo khó, đau khổ mà họ phải chịu đựng
- Sự kết hợp của các từ lặp đi lặp lại như "ào ào" và "đồm độp" gợi lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên và đằng sau đó là hoàn cảnh đáng thương, thiếu thốn của 2 mẹ, con
câu 5:
Bài Làm
Từ nội dung câu chuyện "Cổ tích" của nhà văn Lê Văn Nguyên, em nhận ra tình người trong cuộc sống là nguồn ấm áp quý giá giúp con người vượt qua những hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh. Trong truyện, giữa cảnh nghèo khổ, bà cụ kẹo và chị cỏ bò đã cưu mang, yêu thương nhau như mẹ con, tạo nên một mái ấm tuy đơn sơ nhưng đầy tình cảm. Chính sự sẻ chia ấy đã làm vơi đi cái lạnh của đói nghèo và cô đơn. Tình người không chỉ thể hiện qua vật chất mà còn ở sự quan tâm, đồng cảm chân thành. Nó giúp con người sống nhân ái hơn, biết yêu thương và trân trọng nhau. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết lan tỏa tình người để cuộc sống trở nên tốt đẹp và ý nghĩa hơn.
Bài thơ "Biết ơn cha mẹ" của Hoàng Mai là lời tự sự chan chứa xúc động về công ơn sinh thành dưỡng dục và nỗi ân hận muộn màng của người con. Mở đầu bài thơ là không gian mưa tháng bảy gợi buồn, gợi nhớ, làm dấy lên nỗi "chạnh lòng" khi cha mẹ đã khuất, để lại khoảng trống không gì bù đắp. Những câu thơ tiếp theo tái hiện hình ảnh cha mẹ tảo tần trong cảnh nghèo khó: cha “mải miết vườn rau”, mẹ chắt chiu từng bữa “cơm canh khoai sắn”, tất cả đều vì con. Khi cha đi làm xa, mẹ ở nhà thay cha dạy dỗ, nuôi con nên người - một sự hi sinh lặng thầm mà lớn lao. Thế nhưng khi con trưởng thành thì con lại rời quê "về chốn phồn hoa", mải mê cuộc sống riêng mà quên mất nghĩa tình sâu nặng. Đến khi nhận ra thì cha mẹ đã lượt ra đi, để lại nỗi đau xót và day dứt khôn nguôi: "Con chưa kịp ơn sâu đền đáp”. Khép lại bài thơ là lời cầu nguyện mang màu sắc Phật giáo, thể hiện tấm lòng hiếu thảo và mong muốn cha mẹ được siêu thoát. Bài thơ không chỉ là là tiếng lòng riêng mà còn nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng, yêu thương và báo hiếu cha mẹ khi còn có thể.
a, vì MA và MB là 2 đường tiếp tuyến của đường tròn (O) suy ra \(MA\bot OA\) và \(MB\bot OB\) hay \(\hat{MAO}=\hat{MBO}=90^{o}\)
a) Do \(M A\), \(M B\) là hai tiếp tuyến của đường tròn \(\left(\right. O \left.\right)\) nên \(M A ⊥ O A ; M B ⊥ O B\)
Suy ra \(\hat{M A O} = \hat{M B O} = 9 0^{\circ}\).
Gọi \(I\) là trung điểm của \(O M\) (học sinh tự vẽ thêm trên hình).
Xét tam giác \(M A O\) vuông tại \(A\), \(A I\) là trung tuyến ứng với cạnh huyền, ta có:
\(A I = M I = I O = \frac{1}{2} O M\) (1)
Xét tam giác \(M B O\) vuông tại \(B\), \(B I\) là trung tuyến ứng với cạnh huyền, ta có:
\(B I = M I = I O = \frac{1}{2} O M\) (2)
Từ (1) và (2) suy ra \(A I = M I = I O = B I\)
Vậy tứ giác \(M A O B\) nội tiếp đường tròn tâm \(I\), đường kính \(O M\)
b,Do \(M A\), \(M B\) là hai tiếp tuyến của đường tròn \(\left(\right. O \left.\right)\) nên \(M A = M B\);
Mà \(O A = O B = R\) nên \(M O\) là trung trực của đoạn thẳng \(A B\).
Suy ra \(M O ⊥ A B\) tại \(D\).
\(H\) là hình chiếu của \(O\) trên đường thẳng \(d\) nên \(H O ⊥ M H\).
Xét tam giác \(\Delta O D C\) và \(\Delta O H M\) có:
\(\hat{M O H}\) chung;
\(\hat{O D C} = \hat{O H M} = 9 0^{\circ}\)
Suy ra \(\Delta O D C \sim \Delta O H M\) (g.g) suy ra \(\frac{O D}{O H} = \frac{O C}{O M}\)
Hay \(O C . O H = O D . O M\)
c, xét \(OC.OH=OD.OM\) (cmb) ta thấy:
\(O , H\) cố định
mà \(O H\) không đổi
⇒ Tích \(O C \cdot O H\) không đổi ⇒ \(O C\) không đổi
⇒ Điểm \(C\) là điểm cố định
Mà \(C\) luôn là giao điểm của dây \(A B\) với \(O H\)
⇒ Khi \(M\) di chuyển trên \(d\), dây \(A B\) luôn đi qua điểm cố định \(C\).