Nguyễn Thị Kiều Trang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Kiều Trang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Trong xã hội hiện đại ngày nay, lối sống có trách nhiệm với cộng đồng là một trong những giá trị quan trọng, góp phần xây dựng một xã hội văn minh và phát triển bền vững. Mỗi cá nhân, dù ở bất kỳ độ tuổi hay hoàn cảnh nào, đều có vai trò và trách nhiệm trong việc bảo vệ, duy trì và phát triển cộng đồng mình. Lối sống có trách nhiệm không chỉ thể hiện ở hành động cụ thể mà còn thể hiện ở thái độ sống, tinh thần đoàn kết và tình yêu thương đối với người xung quanh.

Lối sống có trách nhiệm với cộng đồng bắt đầu từ những hành động nhỏ nhặt, đơn giản nhưng có tác động lớn đến cộng đồng. Đó có thể là việc tham gia các hoạt động tình nguyện, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, hoặc chỉ là hành động giữ gìn vệ sinh môi trường. Những việc làm tưởng chừng như đơn giản ấy lại mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cộng đồng. Khi mỗi người dân có ý thức bảo vệ môi trường, không xả rác bừa bãi, hay tham gia vào các hoạt động làm sạch khu phố, chính cộng đồng đó sẽ trở nên sạch sẽ, văn minh hơn. Một cộng đồng đoàn kết sẽ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của xã hội.

Ngoài những hành động nhỏ, lối sống có trách nhiệm còn thể hiện ở việc quan tâm đến những vấn đề lớn hơn của xã hội như giáo dục, y tế, an ninh trật tự. Chúng ta không thể chỉ chăm chăm lo cho bản thân mà quên đi những người xung quanh. Sự vô tâm với cộng đồng, với những vấn đề lớn của xã hội không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mà còn kéo theo sự suy thoái về đạo đức và văn hóa của cộng đồng đó. Một người có trách nhiệm với cộng đồng là người biết cảm nhận nỗi đau, khó khăn của người khác và chủ động tìm cách giúp đỡ, đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội.

Lối sống có trách nhiệm không chỉ là hành động giúp đỡ người khác mà còn là thái độ tôn trọng và tuân thủ các quy định của pháp luật. Chúng ta cần ý thức rằng pháp luật không chỉ để ràng buộc cá nhân mà còn là công cụ bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng. Tôn trọng pháp luật là một biểu hiện của lối sống có trách nhiệm. Ví dụ, việc tuân thủ giao thông, không vi phạm luật lệ trong mọi lĩnh vực đều góp phần duy trì trật tự và an toàn cho cộng đồng.

Thực tế, xã hội ngày càng phát triển, nhưng tình trạng ích kỷ, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân đang ngày càng gia tăng. Điều này dẫn đến sự phân hóa trong xã hội, tạo nên những bất công và khổ đau cho nhiều người. Vì vậy, việc hình thành và duy trì lối sống có trách nhiệm với cộng đồng là vô cùng quan trọng. Nó không chỉ giúp tạo ra một xã hội hài hòa, đoàn kết mà còn giúp mỗi cá nhân cảm thấy mình là một phần không thể thiếu trong xã hội lớn hơn.

Lối sống có trách nhiệm không phải là điều gì quá xa vời hay khó thực hiện. Nó bắt đầu từ những hành động giản đơn và thể hiện qua thái độ sống của mỗi người. Khi mỗi cá nhân ý thức được vai trò của mình trong cộng đồng, khi mỗi người đều biết quan tâm và giúp đỡ người khác, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Do đó, mỗi chúng ta hãy luôn sống có trách nhiệm với cộng đồng, để không chỉ mang lại lợi ích cho bản thân mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh, phát triển bền vững.

Câu 1

Phương thức biểu đạt chính : biểu cảm kết hợp với tự sự

Câu 2

Nhân vật trữ tình ở đây là người lính

Câu 3

Văn bản được viết theo thể thơ tự do

Ngôn ngữ giản dị mộc mạc,giàu hình ảnh , nhịp điệu linh hoạt phù hợp với việc bộc bộ cảm xúc người lính

Câu4

Mạch cảm xúc bắt đầu từ tiếng gọi đồng đội tha thiết, giục giã ("Các đồng chí ơi, xung phong!").Sau đó chuyển sang sự lắng đọng, suy tư khi đối diện với những mất mát, hy sinh và sự tàn khốc của chiến tranh ("Người cắt dây thép gai đã cắt xong/ Đứng dậy nghe đất nước sống núi mình/ bao nắm cốt chưa kịp liền lại").Kết thúc là sự tự hào và niềm tin vào sự trường tồn của linh hồn những người đã ngã xuống hòa quyện vào đất đai tổ quốc.
Câu 5

sự dũng cảm dấn thân, sẵn sàng hy sinh gian khổ để xóa bỏ những ngăn cách, bảo vệ nền hòa bình và tự do cho quê hương. Hình ảnh người chiến sĩ cắt dây thép gai cũng truyền cảm hứng mạnh mẽ về tinh thần kiên cường, biến lý tưởng cao đẹp thành hành động thiết thực để dựng xây và hàn gắn cuộc


Văn học nằm ngoài các định luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết.” (Shchedrin). Văn chương tồn tại bất tử với quy luật thời gian để phản ánh con người và cuộc đời, mở ra những chân lí , thông điệp nhân sinh sâu sắc của lẽ đời. Đến với tác phẩm “Mây trắng còn bay” của nhà văn Bảo Ninh và “ Một người Hà Nội” của nhà văn Nguyễn Khải ta cảm nhận được những triết lí nhân sinh, những cảm nhận sâu sắc về con người và văn hóa Việt Nam.


Nguyễn Văn Siêu đã từng cho rằng : “Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ, loại không đáng thờ là loại chuyên chú ở văn chương, loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Văn chương muôn đời là vậy, hướng về con người và vì con người. Thật vậy, hai tác phẩm mang đến cho bạn đọc cái nhìn sâu sắc về cuộc sống, đặc biệt là qua hai nhân vật bà cụ và cô Hiền. Bảo Ninh khắc họa những nỗi đau và sự mong manh của con người trong thời đại mới, trong khi Nguyễn Khải tôn vinh sức mạnh và sự bền bỉ của văn hóa truyền thống. Để rồi làm nổi bật vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, tình mẫu tử thiêng liêng cao quý.


Đọc đoạn trích " Mây trắng còn bay" của Bảo Ninh ta thấy bối cảnh diễn ra trên một chuyến bay, không gian chật chội và đầy áp lực.Hình ảnh bà cụ hiện lên với cuộc sống lam lũ, vất vả; chịu những thương đau và mất mát do chiến tranh Một người phụ nữ với tình yêu thương con, tình mẫu tử đẹp đẽ thiêng liêng.Bà cụ là biểu tượng cho sự yếu đuối và giản dị, đại diện cho lớp người đã sống qua nhiều thăng trầm của lịch sử. Sự ngại ngùng, sợ sệt khi bị người đàn ông thô lỗ quát mắng cho thấy tính cách nhút nhát, dễ tổn thương. Hình ảnh bà cụ còng lưng, hai tay chắp lại không chỉ gợi lên sự đáng thương mà còn thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên. Những cây nhang tỏa hương trong không gian chật hẹp của máy bay không chỉ là một phần của nghi thức mà còn là biểu tượng cho sự kết nối giữa thế hệ, giữa người sống và người đã khuất. Sự mờ ảo của khói nhang gợi lên sự thiêng liêng và tôn kính. Hơn tất cả, tác giả khẳng định tình mẫu tử thiêng liêng cao quý, sự đối lập của quá khứ và hiện tại không làm phai nhòa đi tình yêu người mẹ dành cho người con đã khuất, niềm mong mỏi được đặt chân đến chiến trường nơi con hy sinh.


Nhà văn Bảo Ninh đã sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh và biểu cảm để khắc họa tâm trạng nhân vật. Giọng điệu vừa chân thật vừa lắng đọng, phản ánh sự nhạy cảm của nhân vật "tôi". Cách dùng từ như "tát vào mặt" khi mô tả tiếng quát của người đàn ông thể hiện rõ ràng sự bức bối và phẫn nộ. Tác phẩm sử dụng hình ảnh mạnh mẽ để tạo nên những biểu tượng sâu sắc. Tình huống truyện chính là" lắt cắt của đời sống", nhà văn đã thành công xây dựng lát cắt hoàn hảo để bộc lộ rõ nét chi tiết đặc sắc, hình ảnh bà mẹ già đầy xúc động, thương cảm.


Trở lại với trang văn " Một người Hà Nội" của Nguyễn Khải, tác giả lấy bối cảnh là một ngôi nhà ở Hà Nội, nơi diễn ra cuộc trò chuyện giữa nhân vật tôi và cô Hiền. Khung cảnh này không chỉ thân quen mà còn gợi nhớ về một Hà Nội truyền thống.Cô Hiền được khắc họa với những phẩm chất mạnh mẽ và quyết đoán. Cô không chỉ là người phụ nữ bình thường mà còn là người giữ gìn văn hóa, có trách nhiệm giáo dục con cái. Sự lựa chọn của cô trong việc kết hôn với một người giáo viên và quyết định ngừng sinh con sau khi có bốn đứa con cho thấy sự thông minh và tính toán. Cô là hiện thân của người Hà Nội có bản lĩnh, sống chân thành và giữ vững quan điểm. Cô Hiền đưa ra quan điểm sống và giáo dục con cái, trong khi nhân vật tôi lại có những nghi ngại về việc áp dụng các giá trị cũ vào thời kỳ mới. Điều này tạo ra một sự giao thoa giữa thế hệ, giữa truyền thống và hiện đại, thể hiện sự đắn đo của con người trong việc gìn giữ bản sắc. Câu nói của cô “Người đàn bà không là nội tướng thì cái gia đình ấy cũng chả ra sao” thể hiện rõ nét quan điểm của người Hà Nội, đề cao vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Trên hết, tác giả khẳng định tình cảm của người mẹ dành cho những đứa con, dù xảy ra biến động thì mẹ vẫn luôn hy vọng con được dạy dỗ nên người.


Nguyễn Khải sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng sâu sắc, thể hiện được cái hồn của văn hóa Hà Nội. Giọng điệu trong tác phẩm vừa gần gũi, vừa trang trọng, khiến người đọc cảm nhận được sự chân thành và đậm chất nhân văn. Những câu đối thoại sinh động giữa nhân vật tôi và cô Hiền làm nổi bật tính cách và quan điểm của từng nhân vật.


“Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó” (Belinxky) Cảm nhận qua 2 đoạn trích trên, ta cảm nhận được triết lí nhân sinh mà nhà văn muốn gửi gắm. Cả " Một người Hà Nội" của Nguyễn Khải và " Mây trắng còn bay" của Bảo Ninh


đều khắc họa nhân vật qua điểm nhìn của nhân vật “tôi”, tạo nên tính chân thực, khách quan, lời kể kết hợp tả, bình, lựa chọn những chi tiết tiêu biểu.Những người phụ nữ hiện lên với những vẻ đẹp đáng quý, đáng trân trọng. Qua đó, khẳng định dù ở thời đại nào thì tình mẫu tử thiêng liêng mãi luôn tỏa sáng, soi chiếu, là ngọn đèn thắp sáng lối đi. Đồng thời tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống và nhân cách của người Hà Nội. Hai tác phẩm vì thế mà chạm đến trái tim người đọc, thổn thức những quy luật nhân sinh, tình mẫu tử cao quý ngàn đời.

Thạch Lam và Nam Cao, hai nhà văn lớn của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam.Với ngòi bút của mình hai tác giả đã ghi lại những câu chuyện bất công của xã hội thời kỳ phong kiến nửa thực dân của những người nông dân nghèo.Đặc biệt là người phụ nữ qua hai tác phẩm ”Hai lần chết” của Thạch Lam (1910 - 1942) và “Dì Hảo” của Nam Cao (1915 - 1951) .Cả hai đoạn trích đều chạm đến nỗi đau của những kiếp người thấp cổ bé họng trong xã hội cũ, nhưng mỗi nhà văn lại có cách khắc họa riêng biệt. Khi xem hai đoạn trích ta có thể dễ dàng nhận ra hai tác giả đều có chung về giá trị tư tưởng. đều viết về đề tài người nông dân nghèo củ thể hơn là người phụ nữ dưới chế độ phong kiến nửa thực dân. Qua những mảnh đời thấp cổ bé họng ấy, phải chịu đựng đau khổ và bất công mà họ không đáng phải gánh chịu. Nam Cao và Thạch Lam đã lên tiếng tố cáo sự bất công ngang trái của xã hội và thể hiện sự đồng cảm đối với những người phụ nữ. Nhân vật trung tâm của hai đoạn trích là Dung và Dì Hảo đều là những con người lương thiện, nhưng lại bị vùi dập, bế tắc trước những định kiến khắc nghiệt và áp bức vô lý.Từ nhỏ đã bị cha mẹ đối sự lạnh nhạt vô cảm. Đến khi lớn lên, lấy chồng không những họ đều phải lao đồng quần quật mà còn chịu sự đánh đập hành hạ vừa về mặt thể xác lẫn tinh thần. Về nghệ thuật cả hai đoạn trích đều sử dụng bút pháp tả thực với cách miêu tả cụ thể, tỉ mỉ. Khiến cho nỗi đau của người phụ nữ càng được khắc sâu, tô đậm


Cụ thể hơn đoạn trích “Hai lần chết”Thạch Lam khai thác tình huống bi kịch khi một người nông dân lương thiện và trung thành lại phải chết oan vì sự bất công của xã hội. Nhân vật Dung trước sự ghẻ lạnh của mẹ đẻ đã bị bán đi cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc và bị nhà chồng đối xử giống như kẻ ăn người ở trong nhà.Thạch Lam miêu tả cái chết của “Dung” với sự dịu dàng, lặng lẽ, như một nỗi đau âm thầm và tê tái. Tác phẩm của ông không lên án xã hội một cách dữ dội, mà nhẹ nhàng nhưng không kém phần sâu sắc. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba, có sự kết hợp giữa điểm nhìn của người kể chuyện với điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong cùng với ngôn ngữ, giọng điệu của người kể chuyện Thạch Lam đã tạo nên một góc nhìn bao quát và toàn cảnh giúp người đọc hiểu được sự đau đớn và bế tắc của nhân vật, tạo nên một không gian buồn bã và thương cảm

Trong khi đó, đoạn trích "Dì Hảo" của Nam Cao mang một sắc thái khác. Nam Cao phản ánh cuộc sống nghèo đói, khổ sở của người dân một cách trực diện, sắc bén và mạnh mẽ hơn.Đoạn trích khắc hoạ số phận của một người phụ nữ bất hạnh, mồ côi cha, phải sớm đi làm con ở, phải chung sống với một người chồng cờ bạc, vũ phu, không những không được yêu thương mà còn bị khinh ghét, đánh đập. Đó còn là người phụ nữ phải chịu nỗi đau mất con, nỗi đau bị bệnh tật giày vò.Nam Cao miêu tả chân thật, sắc sảo và đầy ám ảnh, không mang vẻ nhẹ nhàng mà đậm chất hiện thực phũ phàng. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất, là sự kết hợp giữa điểm nhìn người kể chuyện và điểm nhìn bên trong, cùng với ngôn ngữ nửa trực tiếp. Những câu văn còn là chính những dòng suy nghĩ, độc thoại nội tâm của nhân vật để từ đó giúp người đọc cảm nhận rõ hơn tâm trạng đau đớn, tủi cực của nhân vật dì Hảo.


Qua hai đoạn trích, ta thấy cả Thạch Lam và Nam Cao đều thể hiện tình yêu thương, trân trọng con người, nhưng phong cách thể hiện của họ khác biệt rõ ràng. Thạch Lam với giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng, giúp người đọc cảm nhận được sự đau đớn trong sự lặng thầm, từ đó có cái nhìn nhân văn về con người và cuộc sống. Còn Nam Cao, với văn phong trực diện và sắc bén, đã đẩy người đọc đến những cảm xúc mạnh mẽ hơn, khiến họ không chỉ thương xót mà còn phẫn nộ, đau đớn trước sự khắc nghiệt của xã hội. Dù cách thể hiện khác nhau, nhưng cả hai nhà văn đều gặp nhau ở tình yêu con người, ở khát vọng về một cuộc sống công bằng, tốt đẹp hơn. Thạch Lam và Nam Cao đều là những nhà văn lớn có tấm lòng nhân đạo cao cả, đều có chung quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”. “Hai lần chết” và “Dì Hảo” đều là hai tác phẩm tiêu biểu của văn học giai đoạn 1930 - 1945 với phong cách nghệ thuật độc đáo.Vì thế, hai tác giả tạo được dấu ấn riêng cho mình trong cách nhìn, cách nghĩ, cách viết phải “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”(Nam Cao). Hai đoạn văn tuy chỉ là hai lát cắt nhỏ trong thiên truyện ngắn của Nam Cao, Thạch Lam thế nhưng đã phản ánh chân thực số phận, cuộc đời của những người phụ nữ lao động nghèo khổ dưới chế độ xã hội phong kiến đầy những bất công ngang trái


Qua hai tác phẩm này, ta thấy rõ sự phong phú trong bức tranh hiện thực xã hội Việt Nam thời bấy giờ, với những nỗi đau, những bi kịch của con người trước bất công. Dù với phong cách riêng biệt, cả Thạch Lam và Nam Cao đều để lại những dấu ấn sâu sắc, thể hiện tấm lòng yêu thương, trân trọng với con người, đồng thời là những tiếng nói đòi quyền sống, quyền tự do cho những con người bé nhỏ trong xã hội.