Nguyễn Khánh Duy
Giới thiệu về bản thân
Câu1:
Trong bài thơ của Hoàng Nhuận Cầm, hình ảnh "hàng rào dây thép gai" mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Trước hết, nó là hình ảnh thực của chiến tranh, đại diện cho sự tàn khốc, ngăn cách và chết chóc. Dây thép gai khiến "con cò không đậu được", làm "con sông gãy" và "nhịp cầu cũng gãy", tượng trưng cho nỗi đau chia cắt đất nước và sự hủy diệt cuộc sống bình yên. Tuy nhiên, hình ảnh này còn là đòn bẩy để làm nổi bật tinh thần quả cảm của người chiến sĩ. Hành động "cắt" từng hàng rào từ thứ nhất đến cuối cùng nó không chỉ là phá bỏ chướng ngại vật quân sự mà còn là biểu tượng cho nỗ lực hàn gắn vết thương dân tộc. Khi hàng rào cuối cùng bị triệt hạ, đó cũng là lúc "đất nước sông núi mình... đang liền lại". Qua đó, tác giả ca ngợi khát vọng thống nhất và sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam trước nghịch cảnh chiến tranh.
Câu2: "Việc sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm của cuộc đời mình chính là điểm xuất phát của lòng tự trọng". Con người chúng ta sống không chỉ là sống riêng cho bản thân mình mà còn sống vì cộng đồng, xã hội. Con người chính là nhân tố cấu thành nên xã hội, mỗi nhân tố sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với xã hội. Để xã hội ngày một tốt hơn, mỗi con người cần phải sống có trách nhiệm.
Sống có trách nhiệm là việc mỗi cá nhân phải biết hoàn thành những công việc, nghĩa vụ mà mình được giao. Có tinh thần trách nhiệm luôn sẵn sàng dốc hết sức lực và nhiệt huyết để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Khi phạm lỗi, dám đối mặt với những lỗi lầm mình gây ra, không né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm Mỗi người chúng ta cần nên sống có trách nhiệm, vì đó thể hiện lòng tự trọng của mỗi con người. Sống có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn đặc biệt trong cuộc sống ngày càng phát triển như hiện nay thì việc mỗi người được sinh ra với một sứ mệnh, nhiệm vụ riêng càng cần phải có trách nhiệm.
Việc xác định trách nhiệm của mỗi người là một việc rất quan trọng. Khi còn là một học sinh ta phải xác định được trách nhiệm của mình là học tập thật tốt. Chúng ta cần chú tâm học tập, tìm tòi, khám phá bởi kiến thức không chỉ có trong sách vở mà nó có ở trong cuộc sống thực tế. Có rất nhiều những bài học không có trong sách, đòi hỏi con người phải tự mình trải nghiệm để rút ra bài học, những bài học đó đôi khi phải trả một cái giá rất đắt, nhưng nó giúp chúng ta trưởng thành hơn. Cũng không nên học quá nhiều mà không có chất lượng, học vẹt, học xuông chính những điều đó sẽ giết chết tri thức.
QUẢNG CÁOGia đình là một tế bào của xã hội, muốn xã hội tốt đẹp thì mỗi tế bào cần trở lên tốt đẹp. Gia đình chính là nền tảng nuôi dưỡng tư cách đạo đức cá nhân, có ảnh hưởng lớn tới suy nghĩ và hành động của mỗi người. Đối với gia đình phải là một người con có trách nhiệm với cha mẹ, lễ phép "kính trên nhường dưới" là một tiêu chuẩn quan trọng trong mối quan hệ gia đình Đối với đất nước, ta phải có trách nhiệm sống và cống hiến hết mình cho đất nước, cho cộng đồng.
Chúng ta không thể sống tách biệt được với cộng đồng, mỗi chúng ta cần phải tự ý thức được việc phải tham gia hoà mình vào tập thể, để trải nghiệm những cái tốt đẹp rút ra bài học cuộc sống cho bản thân Thế hệ trẻ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, vì vậy để đất nước ngày càng phát triển, chúng ta cần có trách nhiệm với chính nơi mình sinh sống. Những trách nhiệm đó không quá cần to lớn, chúng tới từ những hành động nhỏ nhất như không xả rác, không hút thuốc, giữ gìn vệ sinh chung... Việc sống có trách nhiệm được thể hiện qua các hành động thường ngày như đúng giờ, đúng hẹn, giữ chữ tín.
Bên cạnh những bạn trẻ có ý thức, sống có trách nhiệm thì vẫn có một bộ phận giới trẻ sống vô trách nhiệm. Những hành động vô trách nhiệm đó sẽ gây lên những hậu quả nghiêm trọng. Thái độ đó thật đáng trách.
Mỗi thanh niên hiện nay cần sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng. Việc sống có trách nhiệm khiến cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Câu 1:ptbđ chinh: miêu tả
Câu2: tác giả ; những đồng chí
Câu 3: việc sử dung phương thức biểu đạt miêu tả giúp người đọc nhìn nhận thấu hiểu được những gì mà tac Giả muốn nhắn nhủ đến
Câu4: mở đầu là những tiếng ru trong đêm khuya tĩnh mịch những tiếng cò bay vỗ cánh ở trên đỉnh đầu Mạch cảm xúc góp phần thể hiện tinh tế thế giới nội tâm của nhân vật trữ tình.góp phần thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm thể hiện tài năng nghệ thuật của nhà thơ
Câu 5: thông điệp ý nghĩa nhất có lẽ là tinh thần của các chiến sĩ ở tiền tuyến đã dũng cảm quên mình làm nhiệm vụ giúp bản thân em thấy cần pk học tập để gìn giữ non sông
Thạch Lam từng quan niệm rằng: "Thiên chức của nhà văn là suốt đời đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người". Người nghệ sĩ phải là người trực tiếp lăn lộn với đời, đào xới mảnh đất màu mỡ, tìm tòi, khám phá những giá trị ẩn trong "bề sâu tâm hồn con người". Trong văn học Việt Nam hiện đại, Bảo Ninh và Nguyễn Khải là hai tác giả nổi bật, mỗi người có một cách thể hiện và cách khám phá, "khai hoang" dưới góc khuất sâu bên trong tâm hồn con người và đời sống xã hội. Đoạn trích "Mây trắng còn bay" của Bảo Ninh và "Một người Hà Nội" của Nguyễn Khải đều phản ánh sâu sắc những tâm tư, suy nghĩ của nhân vật chính về cuộc sống, con người và quá khứ tuy nhiên cả hai lại mang những đặc điểm khác biệt trong nội dung lẫn nghệ thuật thể hiện.
Đoạn trích "Mây trắng còn bay" của Bảo Ninh nằm trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, được viết dưới dòng hồi tưởng của nhân vật Kiên. Mạch cảm xúc của Kiên - một cựu chiến binh, là hồi ức và ám ảnh về một thời khói lửa đạn bom đã găm sâu vào trái tim người lính, không thể xóa nhòa. Tác phẩm phản ánh một cách chân thực những đau thương, mất mát, nhưng cũng là quá trình tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống sau chiến tranh. Trong khi đó, đoạn trích "Một người Hà Nội" của Nguyễn Khải lại đi sâu vào hình ảnh của một người phụ nữ Hà Nội luôn giữ gìn vẻ đẹp thanh thoát, duyên dáng và cốt cách truyền thống dù trong bối cảnh xã hội thay đổi nhanh chóng.
Bảo Ninh đã khai thác "Mây trắng còn bay" dưới những góc khuất trong tâm lý của một người lính trở về từ chiến trường, mang trong mình nỗi buồn chiến tranh như Kiên. Những suy tư của Kiên về cuộc sống, về mối quan hệ với những người xung quanh, về sự trở lại của những ám ảnh chiến tranh tạo nên một bức tranh cuộc sống nhuốm màu xám xịt, hằn sâu hậu quả đớn đau, ám ảnh của chiến tranh. Kiên không thể nào thoát khỏi cái bóng của quá khứ, và dù mây trắng lững lờ bay là thế song nó cũng không thể xua tan được những vết thương lòng sâu sắc mà chiến tranh để lại trong kí ức người chiến sĩ. Qua đó, tác giả đã lên án sự ám ảnh của chiến tranh đối với những người lính, những con người từng sống trong hy vọng, khát khao nay lại phải đối mặt với thực tế đớn đau khi trở về sau cuộc chiến khốc liệt.
Mặt khác, "Một người Hà Nội" của Nguyễn Khải tập trung vào nhân vật người phụ nữ Hà Nội trong một bối cảnh thời kỳ đổi mới, lúc mà những giá trị truyền thống bắt đầu bị thay đổi. Người phụ nữ này vẫn mang trong mình những phẩm chất thanh cao của một người con gái Hà Nội xưa: nhẹ nhàng, dịu dàng, ý tứ, thướt tha, đậm đà nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Hà Thành. Tuy nhiên, chứng kiến những biến chuyển của xã hội, bà dường như cảm nhận được sự lạc lõng, cảm giác như mình bị bỏ lại giữa sự tấp nập, phồn hoa của phố thị - nơi mà những giá trị xưa cũ không còn được trọng vọng nữa. Đoạn trích của Nguyễn Khải phản ánh sự khủng hoảng về giá trị sống trong một xã hội chuyển mình mạnh mẽ.
Xuyên suốt tác phẩm, Bảo Ninh sử dụng ngôn ngữ sâu lắng, đậm chất hồi tưởng, phản ánh trực tiếp những tổn thương của con người sau chiến tranh. Đoạn trích là những dòng tâm sự đan xen giữa thực tại và quá khứ, giữa những kỷ niệm và ám ảnh không thể xóa bỏ. Mặt khác, Nguyễn Khải lại sử dụng một lối viết đầy trữ tình, giàu hình ảnh để khắc họa vẻ đẹp thanh thoát, nhưng cũng đầy tiếc nuối của nhân vật. Những chi tiết như "người Hà Nội luôn mang trong mình cái vẻ đẹp thanh thoát" hay "không thể nào chống lại sự thay đổi" tạo nên một không gian vừa lắng đọng vừa day dứt trong việc giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Tuy nhiên, cả Bảo Ninh và Nguyễn Khải đều phản ánh sự thay đổi của xã hội và những con người trong xã hội đó song với cách thức tiếp cận khác nhau. Bảo Ninh chỉ ra sự tàn khốc của chiến tranh và sự không thể hàn gắn những vết thương của quá khứ. Bức tranh mà ông vẽ ra về cuộc sống của người lính sau chiến tranh là một bức tranh đầy bất lực và đau thương. Ngược lại, Nguyễn Khải lại thể hiện sự tiếc nuối về quá khứ, về những giá trị đã mất trong xã hội đổi mới. Tuy nhiên, tác phẩm của ông cũng truyền tải thông điệp về sự cần thiết đối với đổi mới trong xã hội, dù rằng những đổi thay đó không thể tránh khỏi sự mất mát.
Tóm lại, dù mang những đặc điểm khác nhau về bối cảnh và cách tiếp cận, cả hai đoạn trích "Mây trắng còn bay" và "Một người Hà Nội" đều có giá trị tư tưởng sâu sắc. Bảo Ninh với sự khai thác tâm lý nhân vật sau chiến tranh, còn Nguyễn Khải lại mở ra một cuộc đối thoại về sự thay đổi của xã hội và con người trong thời kỳ đổi mới. Cả hai tác phẩm đều phản ánh nỗi đau của con người trong một xã hội đầy biến động, khiến người đọc suy ngẫm về mất mát trong quá trình chuyển mình của xã hội.
Thạch Lam và Nam Cao, hai nhà văn lớn của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam.Với ngòi bút của mình hai tác giả đã ghi lại những câu chuyện bất công của xã hội thời kỳ phong kiến nửa thực dân của những người nông dân nghèo.Đặc biệt là người phụ nữ qua hai tác phẩm ”Hai lần chết” của Thạch Lam (1910 - 1942) và “Dì Hảo” của Nam Cao (1915 - 1951) .Cả hai đoạn trích đều chạm đến nỗi đau của những kiếp người thấp cổ bé họng trong xã hội cũ, nhưng mỗi nhà văn lại có cách khắc họa riêng biệt.
Khi xem hai đoạn trích ta có thể dễ dàng nhận ra hai tác giả đều có chung về giá trị tư tưởng. đều viết về đề tài người nông dân nghèo củ thể hơn là người phụ nữ dưới chế độ phong kiến nửa thực dân. Qua những mảnh đời thấp cổ bé họng ấy, phải chịu đựng đau khổ và bất công mà họ không đáng phải gánh chịu. Nam Cao và Thạch Lam đã lên tiếng tố cáo sự bất công ngang trái của xã hội và thể hiện sự đồng cảm đối với những người phụ nữ. Nhân vật trung tâm của hai đoạn trích là Dung và Dì Hảo đều là những con người lương thiện, nhưng lại bị vùi dập, bế tắc trước những định kiến khắc nghiệt và áp bức vô lý.Từ nhỏ đã bị cha mẹ đối sự lạnh nhạt vô cảm. Đến khi lớn lên, lấy chồng không những họ đều phải lao đồng quần quật mà còn chịu sự đánh đập hành hạ vừa về mặt thể xác lẫn tinh thần. Về nghệ thuật cả hai đoạn trích đều sử dụng bút pháp tả thực với cách miêu tả cụ thể, tỉ mỉ. Khiến cho nỗi đau của người phụ nữ càng được khắc sâu, tô đậm
Cụ thể hơn đoạn trích “Hai lần chết”Thạch Lam khai thác tình huống bi kịch khi một người nông dân lương thiện và trung thành lại phải chết oan vì sự bất công của xã hội. Nhân vật Dung trước sự ghẻ lạnh của mẹ đẻ đã bị bán đi cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc và bị nhà chồng đối xử giống như kẻ ăn người ở trong nhà.Thạch Lam miêu tả cái chết của “Dung” với sự dịu dàng, lặng lẽ, như một nỗi đau âm thầm và tê tái. Tác phẩm của ông không lên án xã hội một cách dữ dội, mà nhẹ nhàng nhưng không kém phần sâu sắc. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba, có sự kết hợp giữa điểm nhìn của người kể chuyện với điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong cùng với ngôn ngữ, giọng điệu của người kể chuyện Thạch Lam đã tạo nên một góc nhìn bao quát và toàn cảnh giúp người đọc hiểu được sự đau đớn và bế tắc của nhân vật, tạo nên một không gian buồn bã và thương cảm Trong khi đó, đoạn trích "Dì Hảo" của Nam Cao mang một sắc thái khác. Nam Cao phản ánh cuộc sống nghèo đói, khổ sở của người dân một cách trực diện, sắc bén và mạnh mẽ hơn.Đoạn trích khắc hoạ số phận của một người phụ nữ bất hạnh, mồ côi cha, phải sớm đi làm con ở, phải chung sống với một người chồng cờ bạc, vũ phu, không những không được yêu thương mà còn bị khinh ghét, đánh đập. Đó còn là người phụ nữ phải chịu nỗi đau mất con, nỗi đau bị bệnh tật giày vò.Nam Cao miêu tả chân thật, sắc sảo và đầy ám ảnh, không mang vẻ nhẹ nhàng mà đậm chất hiện thực phũ phàng. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất, là sự kết hợp giữa điểm nhìn người kể chuyện và điểm nhìn bên trong, cùng với ngôn ngữ nửa trực tiếp. Những câu văn còn là chính những dòng suy nghĩ, độc thoại nội tâm của nhân vật để từ đó giúp người đọc cảm nhận rõ hơn tâm trạng đau đớn, tủi cực của nhân vật dì Hảo.
Qua hai đoạn trích, ta thấy cả Thạch Lam và Nam Cao đều thể hiện tình yêu thương, trân trọng con người, nhưng phong cách thể hiện của họ khác biệt rõ ràng. Thạch Lam với giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng, giúp người đọc cảm nhận được sự đau đớn trong sự lặng thầm, từ đó có cái nhìn nhân văn về con người và cuộc sống. Còn Nam Cao, với văn phong trực diện và sắc bén, đã đẩy người đọc đến những cảm xúc mạnh mẽ hơn, khiến họ không chỉ thương xót mà còn phẫn nộ, đau đớn trước sự khắc nghiệt của xã hội. Dù cách thể hiện khác nhau, nhưng cả hai nhà văn đều gặp nhau ở tình yêu con người, ở khát vọng về một cuộc sống công bằng, tốt đẹp hơn.Thạch Lam và Nam Cao đều là những nhà văn lớn có tấm lòng nhân đạo cao cả, đều có chung quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”. “Hai lần chết” và “Dì Hảo” đều là hai tác phẩm tiêu biểu của văn học giai đoạn 1930 - 1945 với phong cách nghệ thuật độc đáo.Vì thế, hai tác giả tạo được dấu ấn riêng cho mình trong cách nhìn, cách nghĩ, cách viết phải “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”(Nam Cao). Hai đoạn văn tuy chỉ là hai lát cắt nhỏ trong thiên truyện ngắn của Nam Cao, Thạch Lam thế nhưng đã phản ánh chân thực số phận, cuộc đời của những người phụ nữ lao động nghèo khổ dưới chế độ xã hội phong kiến đầy những bất công ngang trái
Qua hai tác phẩm này, ta thấy rõ sự phong phú trong bức tranh hiện thực xã hội Việt Nam thời bấy giờ, với những nỗi đau, những bi kịch của con người trước bất công. Dù với phong cách riêng biệt, cả Thạch Lam và Nam Cao đều để lại những dấu ấn sâu sắc, thể hiện tấm lòng yêu thương, trân trọng với con người, đồng thời là những tiếng nói đòi quyền sống, quyền tự do cho những con người bé nhỏ trong xã hội.
Thạch Lam và Nam Cao, hai nhà văn lớn của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam.Với ngòi bút của mình hai tác giả đã ghi lại những câu chuyện bất công của xã hội thời kỳ phong kiến nửa thực dân của những người nông dân nghèo.Đặc biệt là người phụ nữ qua hai tác phẩm ”Hai lần chết” của Thạch Lam (1910 - 1942) và “Dì Hảo” của Nam Cao (1915 - 1951) .Cả hai đoạn trích đều chạm đến nỗi đau của những kiếp người thấp cổ bé họng trong xã hội cũ, nhưng mỗi nhà văn lại có cách khắc họa riêng biệt.
Khi xem hai đoạn trích ta có thể dễ dàng nhận ra hai tác giả đều có chung về giá trị tư tưởng. đều viết về đề tài người nông dân nghèo củ thể hơn là người phụ nữ dưới chế độ phong kiến nửa thực dân. Qua những mảnh đời thấp cổ bé họng ấy, phải chịu đựng đau khổ và bất công mà họ không đáng phải gánh chịu. Nam Cao và Thạch Lam đã lên tiếng tố cáo sự bất công ngang trái của xã hội và thể hiện sự đồng cảm đối với những người phụ nữ. Nhân vật trung tâm của hai đoạn trích là Dung và Dì Hảo đều là những con người lương thiện, nhưng lại bị vùi dập, bế tắc trước những định kiến khắc nghiệt và áp bức vô lý.Từ nhỏ đã bị cha mẹ đối sự lạnh nhạt vô cảm. Đến khi lớn lên, lấy chồng không những họ đều phải lao đồng quần quật mà còn chịu sự đánh đập hành hạ vừa về mặt thể xác lẫn tinh thần. Về nghệ thuật cả hai đoạn trích đều sử dụng bút pháp tả thực với cách miêu tả cụ thể, tỉ mỉ. Khiến cho nỗi đau của người phụ nữ càng được khắc sâu, tô đậm
Cụ thể hơn đoạn trích “Hai lần chết”Thạch Lam khai thác tình huống bi kịch khi một người nông dân lương thiện và trung thành lại phải chết oan vì sự bất công của xã hội. Nhân vật Dung trước sự ghẻ lạnh của mẹ đẻ đã bị bán đi cho một nhà giàu để lấy mấy trăm đồng bạc và bị nhà chồng đối xử giống như kẻ ăn người ở trong nhà.Thạch Lam miêu tả cái chết của “Dung” với sự dịu dàng, lặng lẽ, như một nỗi đau âm thầm và tê tái. Tác phẩm của ông không lên án xã hội một cách dữ dội, mà nhẹ nhàng nhưng không kém phần sâu sắc. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba, có sự kết hợp giữa điểm nhìn của người kể chuyện với điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong cùng với ngôn ngữ, giọng điệu của người kể chuyện Thạch Lam đã tạo nên một góc nhìn bao quát và toàn cảnh giúp người đọc hiểu được sự đau đớn và bế tắc của nhân vật, tạo nên một không gian buồn bã và thương cảm Trong khi đó, đoạn trích "Dì Hảo" của Nam Cao mang một sắc thái khác. Nam Cao phản ánh cuộc sống nghèo đói, khổ sở của người dân một cách trực diện, sắc bén và mạnh mẽ hơn.Đoạn trích khắc hoạ số phận của một người phụ nữ bất hạnh, mồ côi cha, phải sớm đi làm con ở, phải chung sống với một người chồng cờ bạc, vũ phu, không những không được yêu thương mà còn bị khinh ghét, đánh đập. Đó còn là người phụ nữ phải chịu nỗi đau mất con, nỗi đau bị bệnh tật giày vò.Nam Cao miêu tả chân thật, sắc sảo và đầy ám ảnh, không mang vẻ nhẹ nhàng mà đậm chất hiện thực phũ phàng. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất, là sự kết hợp giữa điểm nhìn người kể chuyện và điểm nhìn bên trong, cùng với ngôn ngữ nửa trực tiếp. Những câu văn còn là chính những dòng suy nghĩ, độc thoại nội tâm của nhân vật để từ đó giúp người đọc cảm nhận rõ hơn tâm trạng đau đớn, tủi cực của nhân vật dì Hảo.
Qua hai đoạn trích, ta thấy cả Thạch Lam và Nam Cao đều thể hiện tình yêu thương, trân trọng con người, nhưng phong cách thể hiện của họ khác biệt rõ ràng. Thạch Lam với giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng, giúp người đọc cảm nhận được sự đau đớn trong sự lặng thầm, từ đó có cái nhìn nhân văn về con người và cuộc sống. Còn Nam Cao, với văn phong trực diện và sắc bén, đã đẩy người đọc đến những cảm xúc mạnh mẽ hơn, khiến họ không chỉ thương xót mà còn phẫn nộ, đau đớn trước sự khắc nghiệt của xã hội. Dù cách thể hiện khác nhau, nhưng cả hai nhà văn đều gặp nhau ở tình yêu con người, ở khát vọng về một cuộc sống công bằng, tốt đẹp hơn.Thạch Lam và Nam Cao đều là những nhà văn lớn có tấm lòng nhân đạo cao cả, đều có chung quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”. “Hai lần chết” và “Dì Hảo” đều là hai tác phẩm tiêu biểu của văn học giai đoạn 1930 - 1945 với phong cách nghệ thuật độc đáo.Vì thế, hai tác giả tạo được dấu ấn riêng cho mình trong cách nhìn, cách nghĩ, cách viết phải “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”(Nam Cao). Hai đoạn văn tuy chỉ là hai lát cắt nhỏ trong thiên truyện ngắn của Nam Cao, Thạch Lam thế nhưng đã phản ánh chân thực số phận, cuộc đời của những người phụ nữ lao động nghèo khổ dưới chế độ xã hội phong kiến đầy những bất công ngang trái
Qua hai tác phẩm này, ta thấy rõ sự phong phú trong bức tranh hiện thực xã hội Việt Nam thời bấy giờ, với những nỗi đau, những bi kịch của con người trước bất công. Dù với phong cách riêng biệt, cả Thạch Lam và Nam Cao đều để lại những dấu ấn sâu sắc, thể hiện tấm lòng yêu thương, trân trọng với con người, đồng thời là những tiếng nói đòi quyền sống, quyền tự do cho những con người bé nhỏ trong xã hội.