Phạm Thanh Thủy
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Bài làm
Đạm Tiên là một nhân vật phụ nhưng có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du và tâm trạng của Thúy Kiều. Nàng là một ca nữ tài sắc nhưng bạc mệnh, chết trẻ và mồ mả không người hương khói. Qua lời kể của người tảo mộ và tâm trạng xót xa của Thúy Kiều khi viếng mộ, hình ảnh Đạm Tiên hiện lên như một biểu tượng cho số phận bi kịch của những người phụ nữ tài hoa nhưng chịu nhiều bất hạnh trong xã hội phong kiến. Nàng đại diện cho "hồng nhan bạc mệnh", một mô-típ quen thuộc trong văn học trung đại, khơi gợi sự đồng cảm sâu sắc ở người đọc. Việc Thúy Kiều khóc thương Đạm Tiên không chỉ là sự thương cảm cho một kiếp người đã khuất mà còn là sự dự cảm về số phận đầy chông gai, tủi nhục của chính mình. Điều này làm nổi bật tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Du, người luôn xót xa trước những kiếp người tài hoa mà bạc mệnh.
Câu 1 : thơ lục bát
Câu 2 : kiểu lời thoại : Đối thoại ( Thúy Kiều nói với Vương Quan )
Câu 3 :
• các từ láy : Sè sè , rầu rầu , xôn xao , mong manh , đầm đầm,..
Nhận xét : Taọ hình và biểu cảm
Tạo hình : Khắc họa sinh động cảnh sắc đìu hiu , hoang lạnh của nấm mồ.
Biểu cảm : Gợi âm điệu buồn thương , nhấn mạnh sự mong manh của thân phận con người và sự thấu cảm của nhân vật.
Câu 4 :
• Tâm trạng : Ngạc nhiên , xót xa , đau đớn và rơi lệ trước ngôi mộ vô chủ.
Tính cách : Thúy Kiều là người giàu lòng trắc ẩn , nhạy cảm và có tâm hồn nhân hậu , luôn biết thương xót cho những kiếp người tài hoa bạc mệnh
Câu 5 :
Bài học : Sự cảm thông và lòng nhân ái giữa con người với con người.
Vì : Sự thấu hiểu và sẻ chia không chỉ xoa dịu nỗi đau của người khác mà còn làm cho tâm hồn chính mình trở nên cao đẹp , nhân văn hơn.
Nội dung: Nỗi sầu nhớ của người chinh phụ được thể hiện qua không gian vắng lặng ("hiên vắng", "rèm thưa") và thời gian đằng đẵng từ đêm đến sáng ("năm trống" "khắc giờ đằng đẵng như niên").Tâm trạng buồn bã, day dứt, dường như vô vọng trong việc tìm kiếm sự sẻ chia, chỉ có thể tự đối diện với chính mình và những vật vô tri như ngọn đèn, bóng người.Nỗi sầu được ví von bằng những hình ảnh ước lệ, giàu sức gợi cảm ("mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa", "lệ lại châu chan").Tâm trạng bế tắc, đau khổ tột cùng khi những hành động gượng ép để khuây khoả (đốt hương, soi gương, gảy đàn) đều thất bại, dẫn đến sự đứt gãy trong tâm hồn
Nghệ thuật : Sử dụng thể thơ song thất lục bát truyền thống, nhịp nhàng, phù hợp với việc diễn tả tâm trạng sầu bi. Thể thơ song thất lục bát truyền thống, nhịp nhàng, phù hợp với việc diễn tả tâm trạng sầu bi .Dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh ước lệ, tượng trưng quen thuộc trong văn học cổ điển ("thước chẳng mách tin", "hoa đèn", "dây uyên", "phím loan").Nghệ thuật đối lập giữa ngoại cảnh và nội tâm, giữa cái hữu hạn của thời gian, không gian với cái vô hạn của nỗi sầu.Sử dụng các từ láy và các động từ mạnh để nhấn mạnh tâm trạng, hành động của nhân vật.
Thông điệp : Thông điệp ý nghĩa nhất là về tình yêu vượt qua mọi ranh giới và sự thủy chung son sắc trong tình cảm lứa đôi
Lí giải :
- Tình yêu không phân biệt địa vị , xuất tthân
- Sự báo đáp ân tình
- Hạnh phúc lứa đôi
Sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích thể hiện một cách sâu sắc khát vọng tự do và sự theo đuổi những giá trị tinh thần vượt lên trên cả cuộc sống tiên cảnh
- Chán ghét chốn quang trường : Ngay từ đầu , Từ Thức đã là người có tính " ham thơ mến cảnh " chán ghét cuộc sống ràng buộc nơi quan trường nên đã từ quan
- Khát vọng tự do : Việc trở về trần gian dù biết rõ sẽ phải đối mặt với thực tế " cảnh cũ đổi thay , nhà cửa hoang tàn , người thân không còn , nhưng Từ Thức vẫn chấp nhận . Sự lựa chọn này để khẳng định bản lĩnh cá nhân , đề cao khát vọng sống một cuộc đời tự chủ , hòa mình vào thiên nhiên , tìm kiếm sự thanh tịnh cho tâm hồn dù phải chấp nhận số phận và một cái kết bí ẩn.
Sự lựa chọn này cũng mang ý nghĩa phê phán nhẹ nhàng lối sống hưởng lạc , xa rời thực tế và đề cao giá trị vĩnh cửu của tình cảm con người , quê hương.