Trần Thị Mai
Giới thiệu về bản thân
Đặng Trần Côn là một cây bút nổi tiếng với những tác phẩm được ông chú trọng thể hiện những nỗi niềm trắc ẩn của con người. Trong số các sáng tác của ông thì tác phẩm Chinh phụ ngâm khúc thể hiện nổi bật được tình cảm riêng tư của nhân vật trữ tình. Kết hợp với cách dịch ấn tượng của Đoàn Thị Điểm, đã khiến tác phẩm càng thêm đặc sắc. Chính phụ ngâm khúc gồm 412 câu thơ song thất lục bát có dị bản, thể hiện những tình cảm đầy lưu luyến của người chinh phụ khi phải xa cách người chinh phụ. Đoạn trích gồm 16 câu thơ đã bộc lộ rõ nét sự nhớ những ấy qua cách miêu tả cảnh vật, cũng như tâm trạng.
Dạo hiên vắng thẳm gieo từng bước,
........
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.
Mở đầu đoạn trích là sự cô đơn của người chinh phụ:
Dạo hiên .......
....
Trong rèm,....biết chăng?
Nỗi sầu của người chinh phụ mở đầu bằng sự mòn mỏi, vô định trong không gian cô đơn " Dạo hiên vắng thẳm gieo từng bước/ Ngồi rèm thưa rủ thác đội phen "- hai câu thơ vẽ nên hình ảnh người chinh phụ bước đi chậm rãi nhưng trong lòng là nỗi cô đơn, nặng nề trong không gian " vắng thẳm" rồi lại buông rèm xuống đầy bế tắc. " Ngoài rèm thướt mách chẳng tin" cho ta thấy một sự trống rỗng , với vọng khi không có bất cứ tín hiệu nào từ bên ngoài hay chính là không có tin vui hay buồn về người chinh phủ ngoài chiến trận kia. Câu hỏi từ từ " Trong rèm, ....chăng?" sự mong mỏi khát khao có ai đó cùng chia sẻ, thấu hiểu của người chinh phụ khiến ta hiểu cảm nhận được một phần cảnh ngộ u buồn, nhung nhớ.
Nỗi buồn u uất của người chinh phụ được tác giả khắc hoạ:
Đèn có..... chẳng biết,
.........
Hoa đèn ...... Khá thương.
" Đèn có biết dường bằng chẳng biết" lời phủ định này khẳng định sự cô đơn tuyệt đối của người chinh phụ." Lòng ...mà thôi" câu thơ là lời cảm thán làm nổi bật nỗi đau đớn, nổi bật bị kịch mà nàng phải chịu- nỗi cô độc, buồn thảm. Cảm xúc "buồn rầu" đã chất chứa quá lâu, quá nặng nề đến mức bị bóp nghẹt, không thể diễn tả, hay hoá giải bằng lời nói. Kết hợp với cách ngắt nhịp linh hoạt (3/4) của thể thơ song thất lục bát càng làm nổi bật nỗi lòng của người chinh phụ.
Cảnh vật xung quanh cũng nhuốm màu tâm trạng:
Gà eo óc.....năm trống,
......
Mối sầu .... biển xa.
"Gà eo óc... Năm trống," tiếng gà gáy lúc rạng sáng vừa là dấu hiệu thời gian trôi qua, vừa là âm thanh "èo óc" càng làm nổi bật sự tĩnh mịch, hiu quạnh của đêm tàn "Hoa phất phơ rủ bóng bốn bên" , cảnh vật xung quanh cũng chìm trong sự buồn bã, giàu hắt. Từ láy " phất phơ" gợi sự lay động nhẹ nhàng, yếu ớt của cành hoè dường giống với tâm trạng uể oải, mệt mỏi của con người. Tác giả sử dụng biện pháp tu từ so sánh "khắc giờ" như kéo dài bằng cả một năm " như niên" khiến thời gian như trôi qua thật chậm và bị bóp méo bởi nỗi buồn. Phép so sánh tiếp tục được tác giả sử dụng Nỗi buồn " mối sầu" được so sánh với sự vô tận, mênh mông của " miền biển xa", từ đó mà nỗi sầu của người chinh phụ như không có giới hạn, không bờ bến, dai dẳng mãi không dứt.
Trong khổ thơ cuối cùng, sự bất lực và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình càng được làm rõ:
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
.........
Dây uyên kinh đứt .... Ngại chùng.
" Hương gượng đốt hồn đà mê mải" người chinh phụ cố gắng đốt trầm để thư thái nhưng vôi ích, từ "gượng" ( cố gắng làm trái với ý muốn) cho thấy sự mệt mỏi, bất lực khi nỗi sầu cứ đeo bám dai dẳng. " Gương ....châu chan" nàng cố gắng soi gương để chải chuốt nhưng lại thấy mình càng thê thảm hơn, "lệ" nước mắt càng tuôn rơi "châu chan". Cứ thế việc chải chuốt lại khiến nàng thêm buồn, nàng cố tìm niềm vui, giải khuây bằng tiếng đàn " Sát cầm gượng gảy ngón đàn", ( "sát cầm" tượng trưng cho tình yêu đôi lứa) nhưng từ " gượng" lần thứ ba càng làm nổi bật sự cố gắng tuyệt vọng. " Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng" - tiếng đàn đứt đoạn không thành khúc. " Dây uyên" (dây đàn uyên ương) bị đứt, "phím loan" (phím đàn loan) bị chùng xuống. Hình ảnh này là điềm báo cho sự đổ vỡ, chia lìa của tình duyên, khiến người chinh phụ hoàn toàn tuyệt vọng. Việc điệp ngữ " gượng" ba lần cho thấy sự bất lực, mọi cố gắng của người chinh phụ đều tan vỡ, khi kết hợp cùng với các hình ảnh " sát cầm", "dây uyên", " phím loan" được sử dụng đê nói về tình duyên đổ vỡ (đứt,chùng) càng khắc hoạ rõ bi kịch ly tán của đôi lứa.
Đoạn trích trong Chinh Phụ Ngâm Khúc đạt đến đỉnh cao nghệ thuật trong việc miêu tả nỗi sầu ly biệt và sự cô đơn tột cùng của người chinh phụ. Về nội dung, tác phẩm khắc họa sự bồn chồn ("Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước"), sự tuyệt vọng khi hy vọng tan vỡ, và đặc biệt là bi kịch thời gian bị nỗi buồn chi phối, tạo nên sự "đằng đẳng như niên" và "dằng dặc tựa miền biển xa". Về nghệ thuật, đoạn thơ sử dụng linh hoạt thể song thất lục bát với nhịp điệu bi thương. Các biện pháp tu từ như so sánh "khắc giờ - niên" và điệp ngữ "gượng" (lặp lại ba lần) đã vật chất hóa nỗi buồn, trong khi hình ảnh "Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng" trở thành biểu tượng đầy ám ảnh cho sự đổ vỡ của hạnh phúc lứa đôi, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.
Với sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa cảm xúc chân thật và nghệ thuật điêu luyện, đoạn trích Chinh phụ ngâm khúc không chỉ là một kiệt tác văn chương mà còn là một tượng đài bi ca về nỗi khổ đau, cô đơn của người phụ nữ trong thời phong kiến, đồng thời cũng chiến gián tiếp tố cáo chiến tranh phi nghĩa khiến hạnh phúc con người tan vỡ.
9đ 3 câu em nhé
Thông điệp: con người phải đi với quy luật sinh tử, phải biết trân trọng những gì đang có ở hiện tại, giữ gìn những giá trị đang có
Lí giải: Từ Thức từ bỏ chốn tiên vì nỗi nhớ quê hương, khi trở về thì cảnh vật và người thân đã không còn được như cũ. Điều này nhắc nhở ta phải biết trân trọng những giá trị hiện tại mình đang có, không nên chạy theo những thứ ảo mộng rồi đánh mất nơi mình đang sống và người thân cạnh mình.
Từ Thức chọn lên núi Hoành Sơn vì quê nhà không còn người thân, cảnh vật cũng thấy đổi, chàng cũng không thể trở lại cõi tiên. Chàng đã từ bỏ cả cõi trần và tiên, như một nỗi xót xa cho thân phận cô đơn, lạc lõng giữa dòng đời vô thường.