Đào Thị Vân Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đào Thị Vân Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Theo bài viết, hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này bao gồm sự biến mất của các loài sinh vật hoặc sự thay đổi các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần. ​

Câu 2: Bài viết trình bày thông tin theo trình tự logic và thời gian: ​Mở đầu: Dẫn dắt từ thực tế biến đổi khí hậu năm 2022 để giới thiệu khái niệm. ​Tiếp theo: Giải thích nguồn gốc, định nghĩa khái niệm (từ năm 2018) và phân tích các trường hợp cụ thể.

​Kết thúc: Mở rộng vấn đề đến số liệu khảo sát thực tế trên diện rộng (năm 2021) để khẳng định tính cấp thiết của vấn đề. ​

Câu 3: Tác giả đã sử dụng các bằng chứng: ​Bằng chứng khoa học/chuyên gia: Nghiên cứu của Ashlee Cunsolo, Neville R. Ellis và cuộc thăm dò của Caroline Hickman. ​Bằng chứng thực tế Cảm xúc tuyệt vọng, muốn tự sát của cộng đồng người Inuit và nông dân Australia; lời tâm sự của người dân bản địa Brazil về việc mất rừng Amazon. ​Số liệu thống kê: Khảo sát 10.000 trẻ em và thanh thiếu niên tại 10 quốc gia với các con số cụ thể như 59% "rất hoặc cực kì lo", 45% bị ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống.

​Câu 4: Cách tiếp cận của tác giả rất mới mẻ, nhân văn và có chiều sâu. Thay vì chỉ nhìn biến đổi khí hậu qua những con số khô khan về nhiệt độ hay mực nước biển, tác giả đã đi sâu vào "vết thương lòng" – tác động tâm lý và sức khỏe tâm thần của con người. Cách tiếp cận này giúp người đọc nhận thức được môi trường không chỉ là nơi ở mà còn là phần hồn, là bản sắc văn hóa của chúng ta. ​Câu5: "Thiên nhiên là một phần không thể tách rời của tâm hồn con người; khi thiên nhiên bị tổn thương, tinh thần con người cũng không thể lành lặn." Thông điệp này nhắc nhở chúng ta rằng bảo vệ môi trường cũng chính là đang bảo vệ sự bình yên và tương lai của chính mình.

Câu 1: Trong bối cảnh hiện tượng "tiếc thương sinh thái" đang lan rộng, việc bảo vệ môi trường không còn là một khẩu hiệu xa vời mà đã trở thành sứ mệnh sống còn. Môi trường chính là lá phổi chung, là nguồn cung cấp mọi điều kiện thiết yếu cho sự tồn tại của con người. Tuy nhiên, tầm quan trọng của nó còn vượt xa giá trị vật chất; môi trường là bệ đỡ cho đời sống tinh thần và bản sắc văn hóa. Khi một cánh rừng bị cháy hay một dòng sông bị ô nhiễm, chúng ta không chỉ mất đi tài nguyên mà còn mất đi những ký ức, niềm tin và sự bình yên trong tâm hồn. Bảo vệ môi trường là bảo vệ sức khỏe tâm thần của chính thế hệ chúng ta và con cháu mai sau trước nỗi lo "tận thế". Mỗi hành động nhỏ hôm nay như giảm thiểu rác thải nhựa hay trồng thêm một cây xanh đều là một liều thuốc chữa lành cho hành tinh và cho chính tâm trí chúng ta. Chúng ta cần hành động trước khi nỗi tiếc thương trở thành quá muộn.

Câu 2:

Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, hình tượng "người ẩn sĩ" luôn là một biểu tượng đẹp cho nhân cách cao khiết. Dù ở thế kỷ XVI hay XIX, trước vòng xoáy danh lợi, những tâm hồn lớn như Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều chọn cách lui về sống giữa thiên nhiên. Qua bài thơ Nhàn và Thu vịnh, ta thấy hiện lên hai chân dung ẩn sĩ vừa có nét tương đồng ở cốt cách, vừa có nét riêng biệt đầy thú vị. ​Trước hết, cả hai vị thi sĩ đều gặp nhau ở một điểm chung: tình yêu thiên nhiên tha thiết và sự khước từ chốn quan trường. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó là sự chủ động rời xa nơi "lao xao" đầy rẫy bon chen để tìm về "nơi vắng vẻ". Với Nguyễn Khuyến, ẩn sĩ là người đắm mình trong không gian mùa thu thanh tĩnh của làng quê Bắc Bộ với "trời thu xanh ngắt", "cần trúc lơ phơ". Cả hai đều tìm thấy sự tự tại trong lối sống giản dị, thuận theo tự nhiên, coi nhẹ vinh hoa phú quý như giấc mộng phù du. ​Tuy nhiên, đi sâu vào từng tác phẩm, ta thấy hình tượng người ẩn sĩ mang những sắc thái rất khác nhau. Ở bài thơ "Nhàn", người ẩn sĩ hiện lên với vẻ đẹp của một bậc triết nhân thông tuệ. Cái "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự nhàn tản trong hành động nhưng lại rất sắc sảo trong tư tưởng. Ông tự nhận mình "dại" để chọn lối sống: ​"Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào" Hình tượng ẩn sĩ ở đây mang phong thái ung dung, tự tại tuyệt đối. Ông sống hòa mình vào nhịp điệu của đất trời: thu ăn măng trúc, đông ăn giá, xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Đây là sự lựa chọn của một người đã thấu hiểu quy luật cuộc đời, dùng sự tĩnh lặng của thiên nhiên để đối lập với cái bụi bặm của danh lợi. ​Ngược lại, người ẩn sĩ trong "Thu vịnh" lại hiện lên với vẻ đẹp u uẩn, nặng nề nỗi niềm thế sự. Nếu ẩn sĩ của Nguyễn Bỉnh Khiêm "nhàn" thực sự trong tâm tưởng, thì ẩn sĩ của Nguyễn Khuyến lại "nhàn" trong sự trăn trở. Đứng trước cảnh thu đẹp như tranh, tâm hồn thi sĩ không hoàn toàn thanh thản mà chất chứa nỗi niềm: ​"Nhân hứng cũng vừa toan cất bút Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào" Cái "thẹn" với Đào Tiềm (một ẩn sĩ lừng danh Trung Quốc) cho thấy nhân cách cao đẹp của Nguyễn Khuyến. Ông ẩn dật không phải để trốn tránh mà vì nỗi đau bất lực trước cảnh nước mất nhà tan. Hình tượng ẩn sĩ ở đây mang vẻ đẹp của một tâm hồn nhạy cảm, luôn đau đáu nỗi lo cho dân, cho nước, dù thân đang ở chốn làng quê yên bình. ​Về nghệ thuật, Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng ngôn ngữ giản dị, giàu tính triết lý thì Nguyễn Khuyến lại sử dụng bút pháp gợi tả điêu luyện, lấy cái tĩnh của cảnh thu để bộc lộ cái động của lòng người. Cả hai bài thơ đều sử dụng thể thơ Đường luật đạt đến độ mẫu mực nhưng vẫn thấm đẫm tâm hồn Việt. ​Tóm lại, hình tượng người ẩn sĩ trong Nhàn và Thu vịnh là hai bức chân dung tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn của trí thức xưa. Nguyễn Bỉnh Khiêm cho ta bài học về sự lựa chọn lối sống trí tuệ, còn Nguyễn Khuyến chạm đến trái tim ta bởi nỗi lòng yêu nước kín đáo. Cả hai ông đã tạo nên một khoảng lặng cao đẹp, dạy chúng ta cách giữ mình giữa những biến động của thời cuộc.

Câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2:Hai hình ảnh thể hiện sự khắc nghiệt của thiên nhiên miền Trung là: + Câu ví dặm nằm nghiêng/ Trên nắng và dưới cát + Chỉ có gió bão là tốt tươi như cỏ/ Không ai gieo mọc trắng mặt người.

Câu 3:Những dòng thơ trên gợi ta nghĩ đến mảnh đất và con người miền Trung: + Câu thơ Eo đất này thắt đáy lưng ong gợi ra một mảnh đất miền Trung bé nhỏ, dài và hẹp, bị chia cắt thành nhiều đồng bằng nhỏ, đất đai cằn cỗi, không màu mỡ.Khiến cho mảnh đất miền Trung trở nên khó sống. + Câu thơ Cho tình người dường như tạo nên một sự đối lập. Có thể thiên nhiên nghiệt ngã nhưng tình người thì kkhông.Như những giọt mật dâng hiến cho đời, con người nơi đây đậm tình đậm nghĩa, yêu thương, nghị lực, vươn lên, không ngại khó ngại khổ. Con người vẫn gắn bó với mảnh đất nơi đây bằng tình yêu chân thành.

Câu 4: Việc vận dụng thành ngữ trong dòng thơ có các tác dụng : Nhấn mạnh mức độ nghèo đói, cằn cỗi và khắc nghiệt tột cùng của mảnh đất miền Trung. Tăng tính biểu cảm, hình tượng cho câu thơ, giúp người đọc dễ hình dung và cảm nhận sự khó khăn mà người dân phải đối mặt. Thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của tác giả đối với mảnh đất và con người nơi đây.

Câu 5:Tình cảm của tác giả đối với miền Trung được thể hiện trong đoạn thơ trên là tình yêu thương sâu sắc, sự đồng cảm, xót xa trước những khó khăn, vất vả mà người dân nơi đây phải trải qua, đồng thời là niềm tự hào về những phẩm chất tốt đẹp của con người miền Trung.

Bài 2:Viết

Câu 1:

Trong đoạn trích, hình ảnh "cơm" không chỉ là vật chất nuôi sống mà đã trở thành biểu tượng sâu sắc cho tình mẫu tử thiêng liêng và ký ức quê hương. Ngay từ đầu, cà mèn cơm mẹ chuẩn bị kỹ lưỡng -"xúc đầy cơm", dặn dò "Cơm dọc đường dọc sá không ngon đâu",là minh chứng cho sự chăm sóc tận tụy, không mệt mỏi của người mẹ dành cho con dù con đã trưởng thành. Lời dặn "Không ai thương bằng cơm thương" là triết lý sống giản dị, gói trọn tình yêu thương và sự lo lắng cho sức khỏe của con. Khi mẹ mất, ý nghĩa của "cơm" càng được đẩy lên đỉnh điểm: chén cơm trắng đặt trên bàn thờ và sự thèm miếng cơm cháy mẹ nấu -"Giòn và thơm, mùi hương đồng mùi nước quê, cả mùi khói bếp" ,đã hóa thành nỗi ân hận và tiếc nuối khôn nguôi của người con vì mất đi cơ hội báo hiếu và thưởng thức hương vị độc đáo của mẹ. Hành động cuối cùng là người con tự tay nấu chén cơm đặt lên bàn thờ, trong "Bếp nhà đầy khói", thể hiện sự tưởng nhớ, sự nối tiếp và khao khát níu giữ những khoảnh khắc ấm áp cuối cùng. Như vậy, "cơm" chính là sợi dây vô hình kết nối người con với mẹ, với cội nguồn và những giá trị truyền thống, là hiện thân của tình thân vĩnh cửu.

Câu 2:

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, việc nắm giữ bản sắc văn hóa dân tộc trở thành một vấn đề quan trọng, không chỉ là bảo tồn di sản mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Bản sắc văn hóa là tổng thể các giá trị tinh thần, vật chất mà một dân tộc tích lũy qua hàng dệt năm lịch sử, bao gồm ngôn ngữ, phong tục, nghệ thuật, ẩm thực và đường sống. Nếu không được bảo vệ, bản sắc này có nguy cơ được pha hoặc mất mát, dẫn đến đồng hóa văn hóa toàn cầu. Ta tin rằng, giữ bản sắc văn hóa là trách nhiệm của mỗi cá nhân và xã hội, Đòi hỏi sự hợp lý giữa bảo tồn truyền thống và thích ứng với hiện đại. Bài viết này sẽ nêu lên suy nghĩ về vấn đề này, với những bằng chứng cụ thể để minh họa. Đầu tiên, bản sắc văn hóa là linh hồn của dân tộc, giúp định hình bản thân và củng cố tinh thần đoàn kết. Trong thời đại công nghệ số và giao thoa văn hóa, nhiều quốc gia đang đối mặt với nguy cơ mất bản sắc do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây.ở Việt Nam, bản sắc văn hóa có thể thực hiện qua các lễ hội truyền thống như Tết Nguyên đá, nơi gia đình dâng lễ, cúng ông bà và lễ thưởng bánh chưng. Tuy nhiên, dưới tác động của toàn cầu hóa, nhiều người trẻ ngày càng xa những giá trị này, thay vào đó là đón năm mới theo phong cách phương Tây với tiệc tùng và quà tặng. Theo báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam năm 2022, số lượng lễ hội truyền thống giảm 20% so với thập kỷ trước đô thị hóa và đời sống hiện đại. Nếu không có biện pháp bảo vệ, bản sắc văn hóa Việt Nam – với những yếu tố như chữ Nôm, ca trù hay nghệ thuật dân gian – có thể được mai một, tạo dân tộc mất đi điểm tựa tinh thần. cho rằng, giữ bản sắc không phải là bảo thủ mà là cách để dân tộc tự tin hội nhập, giống như Nhật Bản đã làm. Nhật Bản giữ văn hóa truyền thống như lễ trà đạo, đồng thời phát triển công nghệ tiên tiến. Kết quả là họ trở thành cường quốc kinh tế mà vẫn duy trì bản sắc, được UNESCO công nhận nhiều di sản văn hóa phi vật thể của họ. Thứ hai, giữ bản văn văn hoá đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều phía, từ chính phủ đến cộng đồng. Chính phủ cần xây dựng chính sách bảo vệ, như đầu tư vào giáo dục văn hóa trong trường học. Ở Việt Nam, chương trình "Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc" đã được phát triển với việc đưa ra các môn học về lịch sử và văn hóa hóa vào chương trình phổ thông. Tuy nhiên, hiệu quả vẫn còn hạn chế do thiếu nguồn lực. Cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng: mỗi người nên học hỏi và thực hành hệ thống truyền thông văn hóa hóa. Điển hình như thường tham gia các hoạt động bảo tồn tồn tại như học múa dân tộc hoặc dạy nấu ăn truyền thống, giúp duy trì sự sống động của văn hóa hóa. Nếu không có sự tham gia tích cực, bản sắc sẽ bị xóa sạch, như trường hợp một số dân tộc thiểu số ở châu Phi mất ngôn ngữ mẹ đẻ đô thị hóa. Tuy nhiên, giữ bản sắc không có nghĩa là cô lập. Tôi tin rằng, cần kết hợp sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại để bản sắc phát triển. Hàn Quốc đã thành công trong việc quảng bá K-pop – một dạng văn hóa đại chúng – nhưng vẫn giữ nguyên các giá trị cốt lõi như tôn kính tổ tiên và tinh thần tập thể, đồng thời đưa ra du lịch văn hóa. Ở Việt Nam, có thể học hỏi bằng cách số hóa di sản phẩm, như ứng dụng công nghệ vào bảo tồn nghệ thuật dân gian, giúp thế hệ trẻ tiếp cận dễ dàng. Nếu không làm như vậy, bản sắc sẽ trở nên lỗi thời và bị bỏ rơi, dẫn đến cơn khủng hoảng danh tính, như một số đang trải qua cơn sóng nhập cư. Cuối cùng, giữ bản sắc văn hóa là chìa khóa cho sự phát triển lâu dài. Nó không chỉ bảo vệ di sản mà còn góp phần vào hòa bình thế giới, khi mỗi dân tộc giữ vững bản sắc sẽ tôn trọng lẫn nhau. Hãy kêu gọi mọi người ngay hôm nay: từ việc dạy con ngôn ngữ mẹ sinh đến ủng hộ các chính sách văn hóa. Chỉ khi đó, bản sắc văn hóa dân tộc mới thực sự tồn tại mãi mãi, góp phần xây dựng một thế giới đa dạng và phong phú.


Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc là một tư tưởng luôn được đề cao trong lịch sử xây dựng và phát triển đất nước của nhân dân Việt Nam, thể hiện qua nhiều hình thức, một trong số đó là việc tổ chức các lễ hội. Lễ hội là một trong những nét văn hóa của dân tộc ta, nó không chỉ là nơi để vui chơi giải trí mà nó còn là để cho nhân dân ta thể hiện mong ước hay nhớ ơn tổ tiên ông bà ta. 

Giá trị của văn hóa truyền thống là những phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, nghệ thuật, ẩm thực... được hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, với sự phát triển của kinh tế, khoa học kỹ thuật và sự giao thoa văn hóa, những giá trị văn hóa truyền thống đang dần bị mai một và lãng quên.

Cần có chính sách và biện pháp cụ thể để bảo vệ và phát huy văn hóa truyền thống. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ di sản văn hóa. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa.Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng vĩ đại không chỉ về chính trị mà còn về văn hóa của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời của Người là sự kết tinh của những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, hòa quyện với những lý tưởng cao đẹp của văn minh nhân loại tấm gương sáng là hình mẫu lý tưởng về sự học hỏi, rèn luyện để nâng cao phẩm chất giữ gìn giá trị văn hóa.

Ngoài ra, mỗi cá nhân cũng cần có ý thức bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Điều này không chỉ thể hiện qua việc tham gia các hoạt động văn hóa mà còn là việc gìn giữ ngôn ngữ, trang phục truyền thống, và lối sống mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc.

Tóm lại, trong thời đại hội nhập, việc giữ gìn bản sắc văn hóa là điều vô cùng quan trọng. Nó không chỉ giúp bảo vệ và phát huy những giá trị tinh thần của dân tộc mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của quốc gia trong một thế giới ngày càng hòa nhập và thay đổi.

Trong bài thơ "Chân quê", nhân vật "em" hiện lên với sự thay đổi rõ rệt sau khi "đi tỉnh về". Từ một cô gái thôn quê giản dị, "em" khoác lên mình những trang phục xa lạ, "khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng, áo cài khuy bấm". Sự thay đổi khiến người anh trai ngỡ ngàng, xót xa. Anh tiếc nuối những hình ảnh quen thuộc, "yếm lụa sồi", "áo tứ thân", "khăn mỏ quạ", "quần nái đen" - những biểu tượng của vẻ đẹp chân quê.Không chỉ thay đổi về trang phục mà còn thay đổi cả trong tâm hồn. Người anh lo sợ "em" sẽ đánh mất những nét đẹp truyền thống, "hương đồng gió nội" sẽ "bay đi ít nhiều". Anh van nài "em" hãy giữ nguyên vẻ đẹp "quê mùa", hãy ăn mặc như "hôm em đi lễ chùa", để "anh" còn thấy được sự gần gũi, thân thương.Nhân vật "em" trong bài thơ là hình ảnh ẩn dụ cho sự thay đổi của xã hội nông thôn Việt Nam thời bấy giờ. Sự du nhập của văn hóa thành thị đã dần làm phai nhạt giá trị.

Thông điệp của bài thơ: sống là chính mình, đừng vì những thứ xa hoa, phù du mà đánh mất đi con người mình.Hãy giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống của quê hương, đừng chạy theo vẻ hào nhoáng bên ngoài, đừng khoác lên mình những thứ xa lạ, phù phiếm.

biện pháp tu từ : ẩn dụ 

tác dụng:Câu thơ thể hiện sự tiếc nuối của tác giả trước sự thay đổi của người em gái,nét đẹp chân quê dần mất đi,hình ảnh "hương đồng gió nội bay đi" gợi tả sự thay đổi trong tâm hồn và lối sống,giá trị truyền thống bị mai một hình ảnh thơ mộng, nhẹ nhàng nhưng cũng đầy xót xa về sự mất mát của những giá trị quê hương.

Trang phục truyền thống:Yếm lụa sồi,áo tứ thân,khăn mỏ quạ,quần nái đen,dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân

Trang phục hiện đại:Khăn nhung,quần lĩnh,áo cài khuy bấm

cho em liên tưởng cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp mộc mạc, giản dị,tình yêu và nỗi nhớ quê hương, đối lập giữa vẻ đẹp truyền thống và sự thay đổi,còn thể hiện niềm tự hào về nguồn cội, về những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.