Hoàng Duy Quang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hoàng Duy Quang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

In my imagination, aliens living on the planet Azure are called Aquariens. They are tall, slender creatures with iridescent blue skin and four long arms, designed for exploring their aquatic world. Their large, dark eyes help them see clearly in the deep ocean, and they live in floating coral houses. Aquariens are intelligent and peaceful, often communicating through telepathy rather than speech. They are very artistic and spend their time creating music from ocean sounds. They consume luminous, candy-flavored plants and love playing interactive games in their, often, violet-colored oceans.

A storm is a typical natural disaster in Vietnam. The storm season, which lasts from June to November, occurs every year. People typically fortify their homes before a storm and bring in outdoor items like flower pots or trash cans. In case they are unable to go out, they also make some food and beverages. People typically take their time leaving their homes after a storm. They pay attention to crucial guidance from local authorities so they may identify hazardous areas and avoid them. They also avoid damaged electricity cabj


A storm is a typical natural disaster in Vietnam. The storm season, which lasts from June to November, occurs every year. People typically fortify their homes before a storm and bring in outdoor items like flower pots or trash cans. In case they are unable to go out, they also make some food and beverages. People typically take their time leaving their homes after a storm. They pay attention to crucial guidance from local authorities so they may identify hazardous areas and avoid them. They also avoid damaged electricity cabj


Question 1: He asked the villagers how often earthquakes occurred in that region.
(Note: 'do... occur' (present simple) changes to 'occurred' (past simple), and 'this' changes to 'that' in reported speech). [1]
Question 2: They told me (that) I could find a wide range of beauty products in their store.
(Note: 'can' changes to 'could', 'you' changes to 'I' or 'we', and 'our' changes to 'their'). [1]
1. Chính sách về bộ máy hành chính
  • Thành lập Liên bang Đông Dương: Pháp sáp nhập Việt Nam, Campuchia và Lào vào một đơn vị hành chính chung do Toàn quyền Đông Dương đứng đầu.
  • Chia để trị: Việt Nam bị chia thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kỳ (nửa bảo hộ), Trung Kỳ (bảo hộ) và Nam Kỳ (thuộc địa).
  • Kết hợp bộ máy: Duy trì chính quyền phong kiến bù nhìn ở địa phương làm công cụ tay sai, nhưng thực quyền đều nằm trong tay các viên quan người Pháp.
2. Chính sách kinh tế Đây là mảng quan trọng nhất nhằm vơ vét tài nguyên và nhân lực:
  • Nông nghiệp: Đẩy mạnh cướp đoạt ruộng đất để lập các đồn điền (lúa, cà phê, cao su). Pháp vẫn duy trì quan hệ sản xuất phong kiến (phát canh thu tô) để bóc lột nông dân.
  • Công nghiệp: Tập trung khai thác khoáng sản (than đá ở Quảng Ninh, thiếc, kẽm) để xuất khẩu về Pháp. Xây dựng một số cơ sở công nghiệp nhẹ như dệt, điện, nước, giấy.
  • Giao thông vận tải: Xây dựng hệ thống đường sắt (Xuyên Đông Dương, Hà Nội - Vân Nam) và đường bộ để phục vụ mục đích quân sự và vận chuyển tài nguyên nhanh chóng.
  • Thương nghiệp: Pháp nắm độc quyền thị trường Việt Nam bằng cách đánh thuế cao vào hàng hóa các nước khác và miễn thuế cho hàng Pháp.
  • Tài chính: Đặt ra hàng trăm loại thuế nặng nề, đặc biệt là độc quyền sản xuất và bán rượu, muối, thuốc phiện.
3. Chính sách văn hóa - giáo dục
  • Duy trì nền giáo dục Hán học cũ trong thời gian đầu, sau đó bắt đầu mở một số trường học mới dạy tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ nhằm đào tạo đội ngũ tay sai cấp dưới.
  • Sử dụng báo chí và văn hóa để tuyên truyền cho "công cuộc khai hóa" của thực dân, đồng thời hạn chế các trào lưu tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài vào.
Cuộc khai thác này đã làm nảy sinh các giai cấp, tầng lớp mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản) và làm thay đổi sâu sắc bộ mặt xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX.
  • Nội thủy: Là vùng nước nằm ở phía trong đường cơ sở và tiếp giáp với bờ biển. Tại đây, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như trên lãnh thổ đất liền.
  • Lãnh hải: Là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới phía ngoài của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển.
  • Vùng tiếp giáp lãnh hải: Là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Tại vùng này, Nhà nước thực hiện kiểm soát để ngăn ngừa và xử phạt các vi phạm về hải quan, thuế, y tế hoặc nhập cư.
  • Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ): Là vùng biển phía ngoài và tiếp liền với lãnh hải, hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Việt Nam có quyền chủ quyền về kinh tế (khai thác tài nguyên, thủy sản, năng lượng...) và quyền tài phán quốc gia tại đây.
  • Thềm lục địa: Bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, là phần kéo dài tự nhiên của lục địa ra đến mép ngoài của rìa lục địa. Nước ta có quyền chủ quyền trong việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên (như dầu khí) ở vùng này.  Thư Viện Nhà Đất +7


    1. Đối với phát triển kinh tế
    • Khai thác tối ưu tài nguyên: Giúp tận dụng triệt để các nguồn lợi từ sinh vật (thủy sản), khoáng sản (dầu khí, cát), năng lượng tái tạo (gió, thủy triều) và du lịch biển.
    • Thúc đẩy cơ cấu kinh tế hiện đại: Tạo điều kiện hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn như đóng tàu, dịch vụ cảng biển và vận tải biển, từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa.
    • Giải quyết việc làm và nâng cao đời sống: Thu hút đầu tư vào các khu kinh tế ven biển, tạo ra hàng triệu việc làm cho cư dân ven biển và trên các đảo, góp phần xóa đói giảm nghèo.
    • Bền vững và bảo vệ môi trường: Việc phát triển "tổng hợp" giúp tránh tình trạng khai thác quá mức một loại tài nguyên, giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các ngành (ví dụ: khai thác khoáng sản làm ô nhiễm vùng du lịch).
    2. Đối với bảo vệ an ninh quốc phòng
    • Khẳng định chủ quyền: Sự hiện diện thường xuyên của các tàu cá, giàn khoan và tàu vận tải trên biển là bằng chứng thực tế về chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam.
    • Xây dựng thế trận lòng dân trên biển: Ngư dân bám biển không chỉ sản xuất mà còn là những "cột mốc sống", kịp thời phát hiện và thông báo các hoạt động xâm phạm của tàu thuyền nước ngoài.
    • Tăng cường tiềm lực quốc phòng: Kinh tế biển phát triển cung cấp nguồn lực tài chính để hiện đại hóa hải quân, cảnh sát biển và kiểm ngư. Đồng thời, các cơ sở hạ tầng ven biển (cảng, đường giao thông) phục vụ hiệu quả cho việc điều động lực lượng khi có biến cố.
    • Phát triển hệ thống tiền tiêu: Đầu tư kinh tế vào các đảo và quần đảo giúp biến nơi đây thành những căn cứ hậu cần, điểm tựa vững chắc để bảo vệ vùng biển từ xa.


  • Nội thủy: Là vùng nước nằm ở phía trong đường cơ sở và tiếp giáp với bờ biển. Tại đây, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như trên lãnh thổ đất liền.
  • Lãnh hải: Là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới phía ngoài của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển.
  • Vùng tiếp giáp lãnh hải: Là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Tại vùng này, Nhà nước thực hiện kiểm soát để ngăn ngừa và xử phạt các vi phạm về hải quan, thuế, y tế hoặc nhập cư.
  • Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ): Là vùng biển phía ngoài và tiếp liền với lãnh hải, hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Việt Nam có quyền chủ quyền về kinh tế (khai thác tài nguyên, thủy sản, năng lượng...) và quyền tài phán quốc gia tại đây.
  • Thềm lục địa: Bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, là phần kéo dài tự nhiên của lục địa ra đến mép ngoài của rìa lục địa. Nước ta có quyền chủ quyền trong việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên (như dầu khí) ở vùng này.  Thư Viện Nhà Đất +7


    1. Đối với phát triển kinh tế
    • Khai thác tối ưu tài nguyên: Giúp tận dụng triệt để các nguồn lợi từ sinh vật (thủy sản), khoáng sản (dầu khí, cát), năng lượng tái tạo (gió, thủy triều) và du lịch biển.
    • Thúc đẩy cơ cấu kinh tế hiện đại: Tạo điều kiện hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn như đóng tàu, dịch vụ cảng biển và vận tải biển, từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa.
    • Giải quyết việc làm và nâng cao đời sống: Thu hút đầu tư vào các khu kinh tế ven biển, tạo ra hàng triệu việc làm cho cư dân ven biển và trên các đảo, góp phần xóa đói giảm nghèo.
    • Bền vững và bảo vệ môi trường: Việc phát triển "tổng hợp" giúp tránh tình trạng khai thác quá mức một loại tài nguyên, giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các ngành (ví dụ: khai thác khoáng sản làm ô nhiễm vùng du lịch).
    2. Đối với bảo vệ an ninh quốc phòng
    • Khẳng định chủ quyền: Sự hiện diện thường xuyên của các tàu cá, giàn khoan và tàu vận tải trên biển là bằng chứng thực tế về chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam.
    • Xây dựng thế trận lòng dân trên biển: Ngư dân bám biển không chỉ sản xuất mà còn là những "cột mốc sống", kịp thời phát hiện và thông báo các hoạt động xâm phạm của tàu thuyền nước ngoài.
    • Tăng cường tiềm lực quốc phòng: Kinh tế biển phát triển cung cấp nguồn lực tài chính để hiện đại hóa hải quân, cảnh sát biển và kiểm ngư. Đồng thời, các cơ sở hạ tầng ven biển (cảng, đường giao thông) phục vụ hiệu quả cho việc điều động lực lượng khi có biến cố.
    • Phát triển hệ thống tiền tiêu: Đầu tư kinh tế vào các đảo và quần đảo giúp biến nơi đây thành những căn cứ hậu cần, điểm tựa vững chắc để bảo vệ vùng biển từ xa.


  • Nội thủy: Là vùng nước nằm ở phía trong đường cơ sở và tiếp giáp với bờ biển. Tại đây, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như trên lãnh thổ đất liền.
  • Lãnh hải: Là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới phía ngoài của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển.
  • Vùng tiếp giáp lãnh hải: Là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Tại vùng này, Nhà nước thực hiện kiểm soát để ngăn ngừa và xử phạt các vi phạm về hải quan, thuế, y tế hoặc nhập cư.
  • Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ): Là vùng biển phía ngoài và tiếp liền với lãnh hải, hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Việt Nam có quyền chủ quyền về kinh tế (khai thác tài nguyên, thủy sản, năng lượng...) và quyền tài phán quốc gia tại đây.
  • Thềm lục địa: Bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, là phần kéo dài tự nhiên của lục địa ra đến mép ngoài của rìa lục địa. Nước ta có quyền chủ quyền trong việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên (như dầu khí) ở vùng này.  Thư Viện Nhà Đất +7


    1. Đối với phát triển kinh tế
    • Khai thác tối ưu tài nguyên: Giúp tận dụng triệt để các nguồn lợi từ sinh vật (thủy sản), khoáng sản (dầu khí, cát), năng lượng tái tạo (gió, thủy triều) và du lịch biển.
    • Thúc đẩy cơ cấu kinh tế hiện đại: Tạo điều kiện hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn như đóng tàu, dịch vụ cảng biển và vận tải biển, từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa.
    • Giải quyết việc làm và nâng cao đời sống: Thu hút đầu tư vào các khu kinh tế ven biển, tạo ra hàng triệu việc làm cho cư dân ven biển và trên các đảo, góp phần xóa đói giảm nghèo.
    • Bền vững và bảo vệ môi trường: Việc phát triển "tổng hợp" giúp tránh tình trạng khai thác quá mức một loại tài nguyên, giảm thiểu xung đột lợi ích giữa các ngành (ví dụ: khai thác khoáng sản làm ô nhiễm vùng du lịch).
    2. Đối với bảo vệ an ninh quốc phòng
    • Khẳng định chủ quyền: Sự hiện diện thường xuyên của các tàu cá, giàn khoan và tàu vận tải trên biển là bằng chứng thực tế về chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam.
    • Xây dựng thế trận lòng dân trên biển: Ngư dân bám biển không chỉ sản xuất mà còn là những "cột mốc sống", kịp thời phát hiện và thông báo các hoạt động xâm phạm của tàu thuyền nước ngoài.
    • Tăng cường tiềm lực quốc phòng: Kinh tế biển phát triển cung cấp nguồn lực tài chính để hiện đại hóa hải quân, cảnh sát biển và kiểm ngư. Đồng thời, các cơ sở hạ tầng ven biển (cảng, đường giao thông) phục vụ hiệu quả cho việc điều động lực lượng khi có biến cố.
    • Phát triển hệ thống tiền tiêu: Đầu tư kinh tế vào các đảo và quần đảo giúp biến nơi đây thành những căn cứ hậu cần, điểm tựa vững chắc để bảo vệ vùng biển từ xa.


- Địa bàn hoạt động chủ yếu: ở huyện Hương Khê và Hương Sơn (Hà Tĩnh), sau đó lan rộng ra nhiều tỉnh khác.


- Lãnh đạo: Phan Đình Phùng, Cao Thắng.


- Các giai đoạn:


+ Từ năm 1885 - 1889, nghĩa quân xây dựng lực lượng, rèn đúc vũ khí.


+ Từ năm 1889 - 1895, nghĩa quân đẩy lùi nhiều cuộc càn quét của địch. Sau khi Phan Đình Phùng hi sinh, cuộc khởi nghĩa dần dần tan rã.


- Đặc điểm: Mặc dù bị thất bại, nhưng đây là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu, có quy mô lớn nhất, trình độ tổ chức cao và chiến đấu bền bỉ.


- Sau khởi nghĩa Hương Khê, phong trào yêu nước dưới ngọn cờ Cần vương, chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng phong kiến đã hoàn toàn thất bại. Phong trào yêu nước Việt Nam chuyển qua một giai đoạn mới.

Đóng góp của vua Gia Long:

+ Đặt hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong cơ cấu hành chính của Việt Nam (cụ thể là: dưới thời vua Gia Long, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi).

+ Năm 1803, vua Gia Long cho tái lập lại hai hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải, biên chế nằm trong lực lượng quân đội, với nhiệm vụ thực thi chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

+ Năm 1816, vua Gia Long sai thủy quân triều đình phối hợp với đội Hoàng Sa ra thăm dò, đo đạc thủy trình và cắm cờ khẳng định chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

- Đóng góp của vua Minh Mạng: tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động thực thi chủ quyền trên quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, ví dụ như:

+ Việc đo đạc thủy trình kết hợp với vẽ bản đồ được quan tâm thực hiện, nhà vua đã cho dựng miếu thờ và trồng cây xanh ở quần đảo Hoàng Sa,...

+ Năm 1838, Quốc sử quán triều Nguyễn đã cho vẽ bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ thể hiện quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

+ Cho khắc hình các cửa biển quan trọng và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa lên Cửu Đỉnh,…

Biển Đông có diện tích khoảng 3,447 triệu km2, là biển lớn thứ hai của Thái Bình Dương và lớn thứ ba thế giới, nằm trong khoảng từ vĩ độ 3°N đến vĩ độ 26°B và từ kinh độ 100°Đ đến kinh độ 121°Đ.


- Vùng biển Việt Nam có diện tích khoảng 1 triệu km2 trên Biển Đông, bao gồm: nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam.


- Đặc điểm tự nhiên vùng biển đảo bao gồm các yếu tố về: địa hình, khí hậu, hải văn, sinh vật


- Bảo vệ môi trường biển nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật biển; nâng cao chất lượng của các khu du lich biển.Vì biển, đảo cung cấp nhiều loại khoáng sản : dầu mỏ, khí tự nhiên, muối. Tạo nguồn điện thủy triều,... Nếu phá hoại tài nguyên biển-đảo sẽ làm ảnh hưởng đến sự sống của các loài sinh vật.

Những phương hướng :

+ Điều tra, đánh giá tiềm năng sinh vật tại các vùng biển sâu. Đầu tư để chuyển hướng khai thác hải sản từ vùng biển ven bờ sang vùng nước sâu xa bờ.

+ Bảo vệ rừng ngập mặn hiện có, đồng thời đẩy mạnh các chương trình trồng rừng ngập mặn.

+ Bảo vệ rạn san hô ngầm ven biển và cấm khai thác san hô dưới mọi hình thức.

+ Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.

+ Phòng chống ô nhiễm biển bởi các yếu tố hóa học, đặc biệt là dầu mỏ.