Nguyễn Thị Hồng Nhung

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Hồng Nhung
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Phát triển kinh tế - xã hội giúp nâng cao đời sống nhân dân, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm. Điều này làm giảm nguy cơ bất ổn xã hội, các hiện tượng tội phạm, góp phần ổn định chính trị - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quốc phòng - an ninh. Việc tăng cường cơ sở hạ tầng kinh tế cũng hỗ trợ tốt hơn cho việc xây dựng, bảo vệ các cơ sở quân sự và hậu cần quốc phòng, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế quốc gia, tăng cường sức mạnh quốc gia, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Giúp người dân ổn định cuộc sống, gắn bó với quê hương, giảm thiểu nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng, gây mất ổn định an ninh biên giới. Việc phát triển kinh tế bền vững cũng giúp bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, góp phần bảo đảm an ninh sinh thái, một yếu tố quan trọng của an ninh quốc phòng. Đồng thời, việc phát triển kinh tế cũng giúp nâng cao nhận thức của người dân về an ninh quốc phòng, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc.

Thuận lợi : Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu diện tích đất rộng lớn, màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Đất phù sa sông Mê Kông bồi đắp hàng năm tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp thâm canh, đa dạng cây trồng. Hệ thống sông ngòi chằng chịt cung cấp nguồn nước tưới tiêu dồi dào, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp quanh năm.

Khó khăn : Tuy nhiên, tài nguyên đất ở đây cũng gặp nhiều thách thức. Đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, ngập úng là những vấn đề nan giải, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng nông sản. Sự xâm nhập mặn ngày càng sâu vào nội địa do biến đổi khí hậu và tác động của con người. Việc thiếu nước ngọt trong mùa khô cũng gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Cuối cùng, việc quản lý và bảo vệ đất đai chưa hiệu quả dẫn đến tình trạng suy thoái đất, ô nhiễm môi trường.

Diện tích đất nhiễm mặn lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long vì : Sự gia tăng diện tích đất nhiễm mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu do sự kết hợp của hai yếu tố chính: Biến đổi khí hậu dẫn đến mực nước biển dâng cao và sự xâm nhập mặn sâu hơn vào nội địa. Bên cạnh đó, các hoạt động của con người như khai thác nước ngầm quá mức, phá rừng ngập mặn, xây dựng các công trình thủy lợi không hợp lý cũng góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng này. Sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn làm giảm khả năng chắn sóng, gió và nước mặn, khiến đất nhiễm mặn dễ dàng hơn.

Câu 1:Theo bài viết, hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Được thể hiện qua nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế đang cận kề ở giới trẻ, đặc biệt kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu.

Câu 2. Bài viết trình bày thông tin theo trình tự diễn dịch, bắt đầu bằng một khái niệm chung về ảnh hưởng tiêu cực của cảm xúc về biến đổi khí hậu đến cuộc sống thường ngày, sau đó cụ thể hóa bằng ví dụ về nỗi lo về biến đổi khí hậu và sự chấp nhận tận thế ở giới trẻ.

Câu 3. Tác giả đã sử dụng những bằng chứng khoa học (các con số thống kê, các công trình nghiên cứu, những suy luận logic) và những ví dụ thực tiễn để cung cấp những thông tin xác thực cho người đọc về hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái”, một hậu quả của biến đối khí hậu.

Câu 4. Cách tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu của tác giả tập trung vào khía cạnh tâm lý - xã hội, cụ thể là cảm xúc của giới trẻ trước vấn đề này. Đây là một góc nhìn mới mẻ, bổ sung cho những phân tích về mặt khoa học hay kinh tế thường thấy. Tác giả nhấn mạnh tác động tiêu cực của nỗi lo này lên đời sống, cho thấy sự cần thiết phải quan tâm đến sức khỏe tinh thần của con người trước thách thức toàn cầu.

Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhất là sự cần thiết phải quan tâm đến sức khỏe tâm lý của giới trẻ trước những thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu. Nỗi lo quá mức có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của họ, đòi hỏi sự hỗ trợ và thấu hiểu từ cộng đồng.

Câu 1

Bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của một cá nhân, một quốc gia mà là trách nhiệm của toàn nhân loại. Hành tinh xanh của chúng ta đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng do biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường gây ra. Việc bảo vệ môi trường không chỉ giúp duy trì sự sống của con người và các loài sinh vật khác mà còn góp phần phát triển kinh tế bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống. Mỗi hành động nhỏ như tiết kiệm nước, điện, phân loại rác, trồng cây xanh đều có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ môi trường. Chúng ta cần nâng cao nhận thức, chung tay hành động để bảo vệ môi trường sống, xây dựng một tương lai xanh tươi, bền vững cho thế hệ mai sau. Sự thờ ơ, vô trách nhiệm của mỗi người sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, đe dọa sự tồn tại của chính chúng ta. Vì vậy, hãy cùng nhau hành động ngay hôm nay để bảo vệ môi trường, bảo vệ chính cuộc sống của mình.

Câu 2

Bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến đều khắc họa hình tượng người ẩn sĩ, nhưng với những nét riêng biệt. Tuy cùng hướng đến cuộc sống thanh đạm, tự tại, nhưng cách thể hiện và quan niệm sống của hai tác giả lại có những điểm khác nhau.

Nguyễn Bỉnh Khiêm trong "Nhàn" thể hiện một quan niệm sống tích cực, tự tại. Ông hài lòng với cuộc sống giản dị, tự cung tự cấp, không màng danh lợi. Ông xem phú quý như "chiêm bao", khẳng định sự bình yên trong tâm hồn mới là điều đáng quý. Ngược lại, Nguyễn Khuyến trong "Thu vịnh" lại mang một nỗi buồn man mác, sự cô đơn giữa cảnh vật thiên nhiên. Ông vẫn hướng đến sự thanh cao, nhưng đằng sau vẻ đẹp của cảnh vật là sự nuối tiếc, day dứt về những hoài bão dang dở.

Tuy có những khác biệt, cả hai bài thơ đều ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của người ẩn sĩ. Họ đều là những người có tâm hồn thanh cao, không bị cám dỗ bởi danh lợi, sống hòa hợp với thiên nhiên. Họ tìm thấy sự bình yên, hạnh phúc trong cuộc sống giản dị, tự do. Hình ảnh "một mai, một cuốc, một cần câu" trong "Nhàn" và cảnh vật thiên nhiên trong "Thu vịnh" đều thể hiện sự gần gũi, hòa quyện giữa con người và thiên nhiên.Cả hai bài thơ đều thể hiện tâm thế ung dung, tự tại của người ẩn sĩ. Tuy nhiên, tâm thế đó được thể hiện khác nhau. Trong "Nhàn", tâm thế của người ẩn sĩ là sự tự tại, thản nhiên trước danh lợi, phú quý. Ông không hề hối tiếc hay nuối tiếc về những gì mình đã từ bỏ. Ông tìm thấy niềm vui trong sự giản dị, tự nhiên của cuộc sống. Còn trong "Thu vịnh", tâm thế của người ẩn sĩ là sự thanh cao, cô độc, pha chút hoài niệm. Ông cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, nhưng cũng không tránh khỏi sự cô đơn, buồn man mác. Sự "thẹn với ông Đào" cho thấy sự tự vấn, day dứt trong tâm hồn ông. Quan niệm sống của hai người ẩn sĩ cũng có sự khác biệt. Người ẩn sĩ trong "Nhàn" hướng đến một cuộc sống tự do, thoát tục, hoàn toàn tách biệt với xã hội. Trong khi đó, người ẩn sĩ trong "Thu vịnh" vẫn giữ liên hệ với xã hội, nhưng với một thái độ khép kín, trầm mặc hơn.

Hình tượng người ẩn sĩ trong hai bài thơ "Nhàn" và "Thu vịnh" đều thể hiện vẻ đẹp tâm hồn thanh cao, nhưng với những sắc thái khác nhau. Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự lạc quan, tự tại, trong khi Nguyễn Khuyến lại mang một nỗi buồn sâu lắng. Tuy nhiên, cả hai đều là những bức tranh tuyệt đẹp về vẻ đẹp tâm hồn của người Việt Nam xưa.