Nguyễn Thị Ngọc Mai

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Ngọc Mai
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

• Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận kết hợp với biểu cảm. 

Câu 2 :

Nội dung chính: Văn bản thể hiện triết lý sâu sắc về sự trân trọng cuộc sống, thiên nhiên và con người. Tác giả nhấn mạnh rằng thế giới xung quanh rất mong manh, cần được nâng niu, gìn giữ. Đồng thời, con người cũng cần đôi lúc đối mặt với tổn thương để nhận ra giá trị của cuộc sống

 

Câu 3:

• Biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc câu và nhân hóa. 

• Phân tích: 

Điệp cấu trúc câu: “Những... quen..." được lặp lại nhiều lần (Những dòng sông quen chảy xuôi, Những nẻo đường quen nhẫn nhịn, Những thảm rêu vốn không biết dỗi hờn...). Điều này nhấn mạnh sự bao dung, nhẫn nhịn của thiên nhiên, gợi lên cảm giác yên bình. 

• Nhân hóa: Tác giả nhân hóa thiên nhiên như con người (dòng sông “quen chảy xuôi”, “giấc mơ chỉ một mực bao dung”). Điều này thể hiện sự khoan dung của thiên nhiên và khuyên con người nên biết trân trọng. 

 

Câu 4:

 

• Tác giả sử dụng hình ảnh “bị gai đâm” như một phép ẩn dụ. Nó tượng trưng cho những khó khăn, đau khổ trong cuộc sống. Khi con người luôn sống trong bình yên, dễ dàng, họ sẽ quên đi giá trị của cuộc sống, không biết trân trọng những gì mình có. Chỉ khi trải qua tổn thương, con người mới thực sự thấu hiểu và biết yêu quý cuộc đời hơn. 

Câu 5 :

• Bài học rút ra: Con người cần biết trân trọng cuộc sống, thiên nhiên và những điều xung quanh mình. Không nên chỉ mãi đi trên con đường bằng phẳng mà thỉnh thoảng cần trải qua khó khăn để trưởng thành hơn. Những tổn thương có thể giúp ta nhận ra giá trị của cuộc sống, biết yêu thương bao dung hơn.

Câu 1:

Hình tượng đất nước trong đoạn thơ của Bằng Việt không chỉ là một khái niệm địa lý mà còn mang ý nghĩa lịch sử, văn hóa và con người. Đất nước hiện lên với vẻ đẹp kiên cường, bất khuất trong chiến tranh, khi nhân dân sẵn sàng hy sinh để bảo vệ quê hương. Những hình ảnh như “triệu tấn bom rơi” hay “công sự bom vùi” gợi lên sự tàn khốc của chiến tranh nhưng cũng làm nổi bật tinh thần kiên cường, ý chí bất khuất của con người Việt Nam. Đồng thời, đất nước còn là niềm tin, hy vọng vào tương lai khi thế hệ trẻ được sinh ra và lớn lên trong hòa bình. Qua đó, bài thơ khẳng định sức sống mãnh liệt của dân tộc, truyền tải thông điệp rằng đất nước không chỉ được hình thành từ đau thương mà còn từ những khát vọng và sự nối tiếp giữa các thế hệ. 

 

Câu 2:

 

Lịch sử không chỉ đơn thuần là những trang sách ghi chép lại các sự kiện, con số hay những mốc thời gian khô khan, mà còn là câu chuyện về con người, về những cá nhân đã dũng cảm, hy sinh để tạo dựng nên thời đại. Câu nói: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa việc tiếp thu kiến thức lịch sử một cách lý thuyết và việc cảm nhận sâu sắc những câu chuyện, số phận con người trong dòng chảy lịch sử ấy. 

Thực tế, khi ngồi trong lớp học lịch sử, không ít học sinh cảm thấy môn học này nặng nề với những mốc thời gian, sự kiện cần ghi nhớ. Nhưng nếu được nghe những câu chuyện chân thực về những người lính ra trận không màng thân mình, những bà mẹ Việt Nam anh hùng, hay những người trí thức cống hiến cả cuộc đời vì đất nước, ta sẽ cảm nhận được chiều sâu của lịch sửtheo một cách khác. Những con người làm nên lịch sử không chỉ là những nhân vật vĩ đại mà còn có thể là những người dân bình thường, nhưng chính sự hy sinh, cống hiến của họ đã tạo nên một trang sử đáng tự hào.

Chẳng hạn, khi học về cuộc kháng chiến chống Mỹ, nếu chỉ đọc về chiến dịch Điện Biên Phủ trên không hay Hiệp định Paris 1973, ta có thể chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ. Nhưng khi nghe về những cô gái thanh niên xung phong tại Ngã ba Đồng Lộc, về chị Võ Thị Sáu hiên ngang ra pháp trường, hay câu chuyện về những người lính vượt Trường Sơn trong mưa bom bão đạn, ta mới thật sự thấu hiểu giá trị của lịch sử. Chính con người, chứ không phải những con số khô khan, mới làm nên sự rung động trong lòng người. 

Ý kiến trên cũng nhắc nhở chúng ta về cách học và truyền đạt lịch sử. Thay vì chỉ học thuộc lòng, ta cần tiếp cận lịch sửbằng cảm xúc, bằng sự thấu hiểu những câu chuyện đời thực. Việc tái hiện lịch sửqua phim ảnh, sách báo, những buổi tham quan di tích hay trò chuyện với những nhân chứng lịch sử sẽ giúp ta cảm nhận sâu sắc hơn. Khi lịch sử được kể bằng những câu chuyện của con người, nó không còn là những dòng chữ vô tri mà trở thành bài học sống động, khơi dậy lòng yêu nước và tự hào dân tộc.

 

 Tóm lại, lịch sử không chỉ là những bài học trên lớp mà còn là câu chuyện về con người, về những số phận đã góp phần tạo dựng nên ngày hôm nay. Chúng ta xúc động không phải vì những bài giảng lý thuyết, mà bởi những con người đã làm nên lịch sử. Chính vì vậy, hãy học lịch sửbằng cả trái tim, để không chỉ hiểu mà còn biết ơn và trân trọng những gì cha ông ta đã gây dựng.

Câu 1:

Hình tượng đất nước trong đoạn thơ của Bằng Việt không chỉ là một khái niệm địa lý mà còn mang ý nghĩa lịch sử, văn hóa và con người. Đất nước hiện lên với vẻ đẹp kiên cường, bất khuất trong chiến tranh, khi nhân dân sẵn sàng hy sinh để bảo vệ quê hương. Những hình ảnh như “triệu tấn bom rơi” hay “công sự bom vùi” gợi lên sự tàn khốc của chiến tranh nhưng cũng làm nổi bật tinh thần kiên cường, ý chí bất khuất của con người Việt Nam. Đồng thời, đất nước còn là niềm tin, hy vọng vào tương lai khi thế hệ trẻ được sinh ra và lớn lên trong hòa bình. Qua đó, bài thơ khẳng định sức sống mãnh liệt của dân tộc, truyền tải thông điệp rằng đất nước không chỉ được hình thành từ đau thương mà còn từ những khát vọng và sự nối tiếp giữa các thế hệ. 

 

Câu 2:

 

Lịch sử không chỉ đơn thuần là những trang sách ghi chép lại các sự kiện, con số hay những mốc thời gian khô khan, mà còn là câu chuyện về con người, về những cá nhân đã dũng cảm, hy sinh để tạo dựng nên thời đại. Câu nói: “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử.” đã nhấn mạnh sự khác biệt giữa việc tiếp thu kiến thức lịch sử một cách lý thuyết và việc cảm nhận sâu sắc những câu chuyện, số phận con người trong dòng chảy lịch sử ấy. 

Thực tế, khi ngồi trong lớp học lịch sử, không ít học sinh cảm thấy môn học này nặng nề với những mốc thời gian, sự kiện cần ghi nhớ. Nhưng nếu được nghe những câu chuyện chân thực về những người lính ra trận không màng thân mình, những bà mẹ Việt Nam anh hùng, hay những người trí thức cống hiến cả cuộc đời vì đất nước, ta sẽ cảm nhận được chiều sâu của lịch sửtheo một cách khác. Những con người làm nên lịch sử không chỉ là những nhân vật vĩ đại mà còn có thể là những người dân bình thường, nhưng chính sự hy sinh, cống hiến của họ đã tạo nên một trang sử đáng tự hào.

Chẳng hạn, khi học về cuộc kháng chiến chống Mỹ, nếu chỉ đọc về chiến dịch Điện Biên Phủ trên không hay Hiệp định Paris 1973, ta có thể chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ. Nhưng khi nghe về những cô gái thanh niên xung phong tại Ngã ba Đồng Lộc, về chị Võ Thị Sáu hiên ngang ra pháp trường, hay câu chuyện về những người lính vượt Trường Sơn trong mưa bom bão đạn, ta mới thật sự thấu hiểu giá trị của lịch sử. Chính con người, chứ không phải những con số khô khan, mới làm nên sự rung động trong lòng người. 

Ý kiến trên cũng nhắc nhở chúng ta về cách học và truyền đạt lịch sử. Thay vì chỉ học thuộc lòng, ta cần tiếp cận lịch sửbằng cảm xúc, bằng sự thấu hiểu những câu chuyện đời thực. Việc tái hiện lịch sửqua phim ảnh, sách báo, những buổi tham quan di tích hay trò chuyện với những nhân chứng lịch sử sẽ giúp ta cảm nhận sâu sắc hơn. Khi lịch sử được kể bằng những câu chuyện của con người, nó không còn là những dòng chữ vô tri mà trở thành bài học sống động, khơi dậy lòng yêu nước và tự hào dân tộc.

 

 Tóm lại, lịch sử không chỉ là những bài học trên lớp mà còn là câu chuyện về con người, về những số phận đã góp phần tạo dựng nên ngày hôm nay. Chúng ta xúc động không phải vì những bài giảng lý thuyết, mà bởi những con người đã làm nên lịch sử. Chính vì vậy, hãy học lịch sửbằng cả trái tim, để không chỉ hiểu mà còn biết ơn và trân trọng những gì cha ông ta đã gây dựng.

câu 1:

Trả lời: 

 

Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do, dấu hiệu: 

 

• Không tuân theo quy tắc cố định về số chữ và số câu. 

 

• Câu thơ dài ngắn linh hoạt, mang tính chất phóng khoáng. 

 

• Nhịp điệu biến đổi theo cảm xúc của tác giả. 

 

Câu 2:

 

• Đoạn thơ thể hiện niềm tự hào về sức sống mãnh liệt của dân tộc sau chiến tranh. 

 

• Nhân vật trữ tình bày tỏ sự xúc động trước hình ảnh con người Việt Nam kiên cường, vượt qua đau thương để tái thiết đất nước. 

 

• Cảm xúc hòa quyện giữa nỗi đau quá khứ và niềm tin, hy vọng vào tương lai tươi sáng. 

 

Câu 3:

 

• Biện pháp tu từ chính: Tương phản giữa quá khứ chiến tranh đau thương và hiện tại hòa bình tươi đẹp. 

 

• Hình ảnh “em bé vào lớp Một”, “cô gái may áo cưới" đối lập với “triệu tấn bom rơi”, “công sự bom vùi”, làm nổi bật ý chí kiên cường của dân tộc. 

 

• Ý nghĩa: Thể hiện sự hồi sinh mạnh mẽ của đất nước, con người Việt Nam đã đứng dậy từ đau thương để xây dựng tương lai tốt đẹp. 

 

Câu 4:

 

• “Vị ngọt” là hình ảnh ẩn dụ cho thành quả của hòa bình, hạnh phúc mà thế hệ hôm nay đang hưởng thụ. 

 

“Vị ngọt” có được từ sự hy sinh của bao thế hệ cha ông trong kháng chiến, từ những mất mát, đau thương của dân tộc để đổi lấy tự do. 

 

Câu 5:

 

Lòng yêu nước không chỉ là tình cảm tự hào về quê hương, đất nước mà còn thể hiện qua ý chí bảo vệ và xây dựng đất nước. Đoạn thơ nhắc nhở rằng: 

 

• Yêu nước là trân trọng lịch sử, ghi nhớ công lao của cha ông. 

 

• Yêu nước còn là hành động, đóng góp vào sự phát triển của đất nước. 

 

• Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay là giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp, xây dựng một Việt Nam giàu mạnh.

iTel 20:24

 

B01

 

 

 

Câu 1: a, Các bài học cơ bản là trong chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc là:

 

+ Tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam.

 

+ Củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dânkết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

+ Phát triển sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

 

b, là 1 học sinh, em sẽ góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ Quốc hiện nay là:

 

+ Tìm hiểu các tư liệu lịch sử, pháp luật Việt Nam và quốc tế để có nhận thức đúng đắn về vấn đề: chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông.

 

+ Quan tâm đến đời sống chính trị - xã hội của địa phương, đất nước.

 

+ Thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đặc biệt là các chủ trương, chính sách liên quan đến vấn đề chủ quyền biển, đảo; đồng thời vận động mọi người xung quanh cùng thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

 

+ Phê phán, đấu tranh với những hành vi xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam; những hành vi đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc

+ Tích cực tham gia, hưởng ứng các phong trào bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam

 

Câu 2: Thành tựu cơ bản về kinh tế trong công cuộc Đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay là:

 

+ Chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

 

+ Về cơ bản, Việt Nam duy trì được nhịp độ phát triển nhanh, liên tục và ổn định trong suốt 30 năm đổi mới và phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN

 

+ Việt Nam đã đạt được thành tựu toàn diện, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là giải quyết có kết quả quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế nhanh với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa phát triển, hội nhập với đảm bảo ổn định chính trị – kinh tế – xã hội.