Nguyễn Ngọc Hà

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Ngọc Hà
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1)

(Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))

      Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi. Đến như các quan đời Hán Đường, ai là không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà(2) tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri(3) tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt(4) tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung(5) tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.

      Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người. Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm(6) trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tuỳ tài trao chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế.

      Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.

      Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi ta đều cho tự tiến. Xưa kia Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân(7), Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công(8), nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?

      Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều “đem ngọc bán rao”(9) làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.

(Bản dịch của Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)

CHÚ THÍCH

(1) Chiếu cầu hiền tài: Theo Toàn thư và Cương mục thì tờ chiếu này ban bố vào khoảng tháng 6 năm Kỷ dậu (1429). Trong buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, Lê Lợi một mặt phát triển chế độ khoa cử làm phương thức đào tạo quan lại chủ yếu, nhưng mặt khác vẫn sử dụng rộng rãi chế độ tiến cử, “cầu hiền” để kén chọn thêm quan lại.

(2), (3) Tiêu Hà, Nguy Vô Tri: Quan nhà Hán.

(4), (5) Địch Nhân Kiệt, Tiêu Tung: Quan nhà Đường.

(6) Tam phẩm: Trong chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, phẩm cấp quan lại chia làm 9 bậc, cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm. Quan lại từ tam phẩm trở lên là quan lại cao cấp.

(7) Bình Nguyên quân: Mao Toại là thực khách của Bình Nguyên quân nước Triệu thời Chiến quốc.

(8) Tề Hoàn công: Ninh Thích là người nước Vệ thời Xuân Thu.

(9) "Đem ngọc bán rao" (Huyễn ngọc cầu dụ): Ý nói tự đem khoe tài mình để cầu tiến dụng.

Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.

Câu 2 (0.5 điểm): Chủ thể bài viết là ai?

Câu 3 (1.0 điểm): Mục đích chính của văn bản trên là gì?  Chỉ ra những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản.

Câu 4 (1.0 điểm): Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng nào? Nhận xét cách nêu dẫn chứng của người viết.

Câu 5 (1.0 điểm): Thông qua văn bản trên, hãy nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết.

Nguyễn Trãi trong Chiếu cầu hiền tài đã thể hiện nghệ thuật lập luận sắc bén, thuyết phục, giúp tờ chiếu trở nên đầy sức nặng và có giá trị thực tiễn cao.

Trước hết, tác giả sử dụng lập luận chặt chẽ, logic, mở đầu bằng quan điểm “Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử.” Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của hiền tài đối với sự hưng thịnh của đất nước, từ đó đặt nền móng cho toàn bộ bài chiếu.

Tiếp theo, Nguyễn Trãi vận dụng chứng cứ lịch sử để tăng sức thuyết phục. Ông đưa ra những tấm gương về việc tiến cử hiền tài từ các triều đại Hán, Đường như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến Trần Bình... Qua đó, ông khẳng định rằng việc trọng dụng nhân tài là yếu tố tất yếu để xây dựng quốc gia vững mạnh.

Bên cạnh đó, tác giả sử dụng giọng điệu khiêm tốn, chân thành, thể hiện rõ trong câu: “Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường.” Điều này cho thấy sự cầu thị của nhà vua, không chỉ mong quan lại tiến cử mà còn tạo cơ hội để người tài tự ứng cử.

Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn vận dụng các biện pháp tu từ như điển cố (Mạo Toại, Nịnh Thích), phép đối lập (quan lại và dân thường, triều đình và thôn dã) để nhấn mạnh rằng việc tìm kiếm nhân tài cần toàn diện, không giới hạn trong một tầng lớp nào.

Nhờ nghệ thuật lập luận chặt chẽ, lập luận sắc bén, dẫn chứng thuyết phục, Chiếu cầu hiền tài không chỉ là một tờ chiếu của triều đình mà còn là một áng văn chính luận mẫu mực, thể hiện tầm nhìn rộng lớn của Nguyễn Trãi trong việc xây dựng đất nước.


Câu 2 (4.0 điểm): Bàn về hiện tượng "chảy máu chất xám" tại Việt Nam hiện nay

Hiện tượng "chảy máu chất xám" tại Việt Nam hiện nay

Trong những năm gần đây, hiện tượng "chảy máu chất xám" đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại đối với Việt Nam. Đây là tình trạng nhiều nhân tài, trí thức rời bỏ quê hương để tìm kiếm cơ hội học tập, làm việc và sinh sống ở nước ngoài. Thực trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà còn đặt ra nhiều thách thức cho chính sách thu hút và giữ chân nhân tài.

Nguyên nhân dẫn đến "chảy máu chất xám" có thể được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh. Trước hết, môi trường làm việc trong nước còn nhiều hạn chế, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và sáng tạo của người tài. Chế độ đãi ngộ chưa đủ hấp dẫn, cơ hội thăng tiến hạn chế và cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu là những rào cản lớn khiến nhiều người lựa chọn ra nước ngoài. Ngoài ra, sự bất cập trong cơ chế quản lý, tình trạng quan liêu, thiếu minh bạch cũng góp phần làm giảm động lực cống hiến của nhân tài.

Mặt khác, các nước phát triển lại có chính sách thu hút nhân tài rất hiệu quả. Họ sẵn sàng đưa ra mức lương cao, môi trường làm việc chuyên nghiệp và cơ hội phát triển vượt trội, điều này đã hấp dẫn không ít người Việt Nam có trình độ cao tìm đến.

Hệ lụy của "chảy máu chất xám" đối với Việt Nam là vô cùng nghiêm trọng. Trước tiên, đất nước sẽ mất đi những nhân tài có khả năng đóng góp cho sự phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ và nhiều lĩnh vực khác. Khi nguồn lực trí tuệ bị thất thoát, tiến trình phát triển của quốc gia sẽ bị chậm lại. Đồng thời, sự mất cân đối trong lực lượng lao động có thể khiến nền kinh tế rơi vào tình trạng thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, ảnh hưởng đến năng suất và khả năng cạnh tranh.

Để khắc phục tình trạng này, Việt Nam cần có những giải pháp thiết thực và đồng bộ. Trước hết, cần cải thiện môi trường làm việc, tạo điều kiện cho người tài có cơ hội phát triển và cống hiến. Chính sách đãi ngộ cũng cần được nâng cao, đảm bảo mức lương và chế độ phúc lợi hợp lý để giữ chân nhân tài. Bên cạnh đó, việc cải cách hành chính, giảm quan liêu, xây dựng một môi trường làm việc minh bạch, công bằng cũng là điều quan trọng để tạo niềm tin và động lực cho những người có năng lực.

Ngoài ra, Việt Nam cũng nên tận dụng nguồn lực từ những người đã ra nước ngoài bằng cách kết nối, khuyến khích họ quay trở về đóng góp hoặc hợp tác với trong nước. Việc xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp cũng là một cách để thu hút nhân tài quay về cống hiến.

Tóm lại, "chảy máu chất xám" là một vấn đề nhức nhối và cần được giải quyết kịp thời. Để giữ chân nhân tài và tận dụng tốt nguồn lực trí thức, Việt Nam cần có những chính sách hợp lý và hiệu quả hơn, tạo ra một môi trường làm việc thuận lợi, công bằng và đầy cơ hội phát triển. Chỉ khi đó, đất nước mới có thể tiến xa và sánh vai với các cường quốc trên thế giới.

 

 

Câu 1 (0.5 điểm):
Bài thơ "Nhàn" được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.

Câu 2 (0.75 điểm):
Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả:

  • "Một mai, một cuốc, một cần câu" → Gợi lên cuộc sống lao động giản dị, gắn liền với thiên nhiên.
  • "Thu ăn măng trúc, đông ăn giá" → Thức ăn thanh đạm, giản dị, mang đậm hơi thở của thiên nhiên.
  • "Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao" → Cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, ung dung tự tại.

Câu 3 (0.75 điểm):
Biện pháp tu từ liệt kê: "Một mai, một cuốc, một cần câu".

  • Tác dụng: Nhấn mạnh cuộc sống lao động giản dị, gắn bó với tự nhiên, không màng danh lợi.
  • Thể hiện quan niệm sống nhàn tản, thanh cao của tác giả.

Câu 4 (1.0 điểm):
Quan niệm dại – khôn của tác giả có sự đối lập đầy nghịch lý:

  • "Dại" là chọn nơi vắng vẻ, sống cuộc sống an nhiên, xa rời danh lợi.
  • "Khôn" là tìm đến chốn lao xao, bon chen với đời.
    → Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện quan niệm sống "dại" mà thực chất là khôn, bởi ông hiểu rằng danh lợi chỉ là phù du, còn sống an nhàn mới là hạnh phúc chân thật.

Câu 5 (1.0 điểm):
Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện vẻ đẹp nhân cách thanh cao và trí tuệ minh triết. Ông chọn lối sống nhàn dật, hòa mình với thiên nhiên, không màng danh lợi. Qua bài thơ, ta thấy một con người hiểu rõ sự phù du của phú quý, xem nhẹ công danh, chỉ tìm đến sự an nhiên, tự tại. Đây chính là biểu hiện của một bậc trí giả, người có tầm nhìn xa trông rộng, sống thanh cao mà vẫn ung dung, tự tại .

Câu 1 (2.0 điểm): Tầm quan trọng của lối sống chủ động trong cuộc sống ngày nay

Lối sống chủ động đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống hiện đại. Người sống chủ động luôn tự giác nắm bắt cơ hội, biết hoạch định kế hoạch và sẵn sàng đối mặt với thử thách. Trong một thế giới không ngừng vận động, nếu thụ động và trông chờ vào người khác, ta sẽ dễ bị tụt hậu và mất đi nhiều cơ hội quý giá. Lối sống chủ động giúp con người phát huy tối đa khả năng của bản thân, nâng cao tinh thần trách nhiệm và tạo ra nhiều giá trị tốt đẹp cho xã hội. Khi chủ động học tập, lao động và sáng tạo, chúng ta không chỉ hoàn thiện chính mình mà còn góp phần xây dựng một cộng đồng phát triển bền vững. Đặc biệt, trong thời đại công nghệ số, chỉ những ai biết chủ động tiếp cận tri thức và thích nghi với sự thay đổi mới có thể vươn xa. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện tính chủ động ngay từ những việc nhỏ nhất, dám nghĩ, dám làm và không ngừng nỗ lực để làm chủ cuộc đời mình.


Câu 2 (4.0 điểm): Cảm nhận về bài thơ "Bảo kính cảnh giới" (Bài 43) của Nguyễn Trãi

Bài thơ "Bảo kính cảnh giới" (Bài 43) của Nguyễn Trãi đã khắc họa bức tranh thiên nhiên và cuộc sống bình yên nơi làng quê, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân nghĩa sâu sắc của tác giả.

Bốn câu thơ đầu mở ra bức tranh thiên nhiên mùa hè tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Hình ảnh cây hoè với tán lá xanh um, thạch lựu rực rỡ phun sắc đỏ, hồng sen thơm ngát đã vẽ nên một không gian yên bình và thơ mộng. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi không chỉ giàu màu sắc mà còn có hương thơm và sức sống mãnh liệt.

Bốn câu thơ sau đưa người đọc đến với nhịp sống lao động nơi thôn quê. Âm thanh "lao xao" của chợ cá, tiếng ve ngân vang giữa buổi chiều tà đã tạo nên khung cảnh sinh hoạt dân dã, mộc mạc mà ấm áp. Đặc biệt, hình ảnh "Ngu cầm" (đàn của vua Nghiêu, Thuấn) xuất hiện ở câu cuối thể hiện ước vọng về một xã hội thái bình, nhân dân no đủ, hạnh phúc.

Qua bài thơ, Nguyễn Trãi không chỉ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên mà còn thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân và mong muốn một cuộc sống an bình, thịnh vượng. Bài thơ vừa mang giá trị nghệ thuật tinh tế, vừa chứa đựng tư tưởng nhân văn cao đẹp, thể hiện rõ tâm hồn thanh cao và trí tuệ minh triết của Nguyễn Trãi.