Đặng Phương Anh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Nghệ thuật lập luận được thể hiện qua việc sử dụng những lí lẽ, bằng chứng vô cùng xác đáng về thời cuộc, hoàn cảnh của đất nước: sau chiến tranh, nguyên khí quốc gia kiệt quệ, triều đình hỗn loạn, lòng người hoang mang… những người hiền tài thì sống ẩn dật, lánh xa sự đời, bỏ mặc đất nước trong hoàn cảnh nguy nan… Nhưng bên cạnh những lời chỉ trích có phần gay gắt, đanh thép ấy ta vẫn bắt gặp những câu hỏi tu từ đậm chất biểu cảm như “Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?...” Như một nỗi niềm giãi bày, một sự trải lòng của chính nhà vua, thay vì việc đổ lỗi cho người tài, ông nhận sự nhượng bộ về mình. Đây là một cách thuyết phục độc đáo, không chỉ cho ta thấy nỗi niềm, tấm lòng của nhà vua còn là một cách thấy nhu thắng cương khiến người nghe không khỏi thấy nhói lòng, tội lỗi nếu làm trái.
Câu 2:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Dù vậy nhưng trong bối cảnh xã hội hiện nay, hiện tượng chảy máu chất xám ở Việt Nam đang diễn ra vô cùng phức tạp. Hiện tượng chảy máu chất xám là cách gọi ẩn dụ để chỉ tình trạng nhân tài, trí thức – “chất xám” Việt Nam đang có xu hướng định cư và làm việc, phục vụ hoàn toàn cho lợi ích của nước ngoài thay vì cống hiến cho dân tộc. Thời gian qua, thông tin về những quán quân của chương trình Đường lên đỉnh Olympia đa số sau khi qua nước ngoài du học đều chọn ở lại nước ngoài định cư và làm việc, đã khiến chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc về thực trạng của hiện tượng chảy máu chất xám ở Việt Nam. Nguyên nhân của hiện tượng này được đánh giá ở cả hai phía chủ quan lẫn khách quan. Chủ quan là đến từ phía chính bản thân trí thức có những nhận thức sai lệch và ích kỉ, chỉ chú trọng đến sự phát triển của bản thân mà quên đi nhiệm vụ cống hiến cho dân tộc, cho Tổ quốc. Bên cạnh đó, cũng cần xem xét đến chế độ đãi ngộ nhân tài ở nước ta còn thấp, hạn chế cùng với nhiều tư tưởng chưa tiến bộ khiến họ cảm thấy bí bách và buộc phải rời đi. Có thể thấy, mặc dù các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp,… là môi trường vô cùng tốt để học tập và làm việc, thế nhưng đất nước ta mới chính là quê hương, là nơi đã nuôi dưỡng ta trưởng thành. Vì vậy, mỗi người cần nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng và phát triển đất nước, kết hợp hài hòa giữa học tập thành tựu của nước ngoài với cống hiến cho dân tộc. Có như vậy, đất nước ta mới có thể phát triển mạnh mẽ và trở thành cường quốc như mong muốn của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là: Nghị luận.
Câu 3:
- Mục đích chính của văn bản: Chiêu dụ người tài đức về giúp việc triều chính.
- Các đường lối tiến cử hiền tài: (0.75 điểm)
+ Các đại thần từ tam phẩm trở lên, mỗi người đều cử một người tài.
+ Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.
+ Người có tài đức có thể tự tiến cử.
Câu 4
- Người viết đã đưa ra các dẫn chứng sau:
+ Thời xưa, dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, nên triều đại thịnh trị.
+ Các quan đời Hán Đường tiến cử người tài giúp nước, như Tiêu Hà tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.
- Nhận xét dẫn chứng:
+ Dẫn chứng được đưa ra phong phú, toàn diện, sắc sảo, từ cổ chí kim, từ gần tới xa.
+ Dẫn chứng hợp lí, xác đáng, là những chuyện có thực, đủ để minh chứng cho luận điểm một triều đại thịnh trị cần có người tài làm căn cơ.
Câu 5
- Chủ thể bài viết có những phẩm chất sau:
+ Trọng người tài.
+ Khiêm nhường, biết lắng nghe ý kiến của dân, lấy dân làm trọng.
+ Anh minh, đưa ra được những chính sách sáng suốt vì dân vì nước.
Câu 1:
Có ai trên đời này lại không muốn tự quyết định cuộc đời mình? Có ai muốn nhất nhất nghe theo sự chỉ huy của người khác? Muốn thế chỉ có cách ta phải “sống ở thế chủ động”. Chủ động – có thể được hiểu là tự mình lập kế hoạch, thực hiện, và chịu trách nhiệm với mọi vấn đề trong cuộc sống mà không chịu sự chi phối bởi hoàn cảnh bên ngoài. Có thể ví cuộc sống mỗi chúng ta như một chặng đường, thì chủ động chính là chúng ta biết được hướng đi, tốc độ, điểm dừng, đích đến, chính vì thế mà người chủ động thường dễ thành công hơn. Chỉ có sống trong thế chủ động, Bác mới hướng mình sang phương Tây, để tìm hiểu cuộc sống nhân dân bên đó, để tìm ra con đường cứu nước cứu dân. Chỉ có sống và làm chủ bản thân, Bill Gates hay Mark mới bỏ ngang trường đại học danh giá nhất nước Mỹ để thực hiện ước mơ của mình.Và cũng chỉ có thế chủ động, bất cứ ai trong chúng ta mới có thể sẵn sàng đối diện với sóng gió. Người xưa đã từng than thở “gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?”, thế hệ thanh niên của chúng ta ngày hôm nay không thể bị động như thế, không thể đóng vai “hành khách” trên chuyến xe mà người khác cầm lái. Có thể chúng ta chưa làm được điều gì to lớn, nhưng ít nhất sáng mai ăn gì, học như thế nào, thi trường gì, chúng ta hãy chủ động quyết định. Người chủ động phải là người luôn cầu tiến, ham học hỏi, rèn luyện và chuẩn bị hành trang cần thiết cho chuyến đi của mình. Làm gì có người leo núi nào lại không chuẩn bị thể lực, đồ dùng, làm gì có người giương buồm ra khơi nào mà không biết trước hướng đi. Điều đó có nghĩa, chủ động nhưng không liều lĩnh, chủ động cần tỉnh táo, tham khảo ý kiến mọi người, hạn chế mức thấp nhất sai lầm, thất bại, sẵn sàng đối diện với khó khăn.
Câu 2:
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Cuộc sống thật sự náo nhiệt, những phiên chợ của những ngư dân vùng biển, hình ảnh ảnh những con người lao động hiện lên thật đẹp với phiên chợ vui vẻ của những lưới cá bội thu.
Dân giàu đủ khắp đòi phương”.
Cất lên một khúc đàn của cây đàn vua Ngu Thuấn mang lại cho nhân dân cuộc sống ấm no hạnh phúc. MƯợn được hình ảnh vua Ngu Thuấn cây cầm ấy để làm cho nhân dân ta giàu mạnh khắp phương. Dù đã trở về với cuộc sống nơi thôn dã nhưng ông luôn luôn giữ tình yêu thương và lòng mong mỏi một cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân trăm họ.
Bài thơ là những dòng chảy cảm xúc về thiên nhiên cũng như nỗi khát khao mong mỏi và tấm lòng yêu nước nồng nhiệt của Nguyễn Trãi. Bìa thơ tuy ngắn nhưng để lại cho người đọc nhiều ấn tượng mạnh. Kết thúc bài thơ là tinh thần nhân nghĩa cao cả và tình yêu nhân dân vô bờ bến của ông.
Câu 1. Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng trúc, ăn giá, tắm hồ sen, tắm ao.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ liệt kê: Một mai, một cuốc, một cần câu.
+ Tạo sự cân xứng, nhịp nhàng, hài hòa cho lời thơ.
+ Nhấn mạnh: sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của tác giả – chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn; vừa thể hiện sắc thái trào lộng, mỉa mai đối với cách sống ham danh vọng, phú quý…
Câu 4:
Quan niệm khôn – dại của tác giả:
– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi tĩnh tại của thiên nhiên, thảnh thơi của tâm hồn.
– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.
=> Đó là một cách nói ngược: khôn mà khôn dại, dại mà dại khôn của tác giả.
=>Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.
Câu 5:
Một số gợi ý:
– Là người sống giản dị, thanh bạch.
– Là người có trí tuệ, cốt cách thanh cao.
– Là người bản lĩnh: coi thường danh lợi.
a. Fe0 + HN+5O3 Fe+3(NO3)3 + N+2O + H2O.
Chất khử: Fe
Chất oxi hóa: HNO3
Quá trình oxi hóa: Feo --> Fe+3 +3e
Quá trình khử: N+5 + 3e ---> N+2
1Fe + 4HNO3 1Fe(NO3)3 + 1NO + 2H2O.
b. KMn+7O4 + Fe+2SO4 + H2SO4 Fe2+3(SO4)3 + Mn+2SO4 + K2SO4 + H2O.
Chất khử: FeSO4
Chất oxi hóa: KMnO4
Quá trình oxi hóa: 2Fe+2 ---> Fe2+3 + 1e.2
Quá trình khử: Mn+7 +5e ----> Mn+2
2KMnO4 + 10FeSO4 + 8H2SO4 →→ 5Fe2(SO4)3 + 2MnSO4 + K2SO4 + 8H2O.