Dương Thị Hải Yến
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là tự sự.
Câu 2:
Nhân vật trung tâm trong đoạn trích là: bê-li-cốp
Câu 3:
Đoạn trích được kể theo ngôi kể thứ ba. Tác dụng: tạo sự khách quan khi người kể chuyện đứng ở ngoài câu chuyện, giúp đánh giá sự việc và nhân vật một cách toàn diện không bị chi phối bởi cảm xúc chủ quan của một nhân vật cụ thể.
Câu 4:
Những chi tiết miêu tả chân dung nhân vật là "Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông, và khi ngồi lên xe ngựa thì bao giờ cũng cho kéo mui lên"
Đoạn trích đặt tên là" Người trong bao" vì thể hiện hình ảnh ẩn dụ về một kiểu người sống thu mình trong vỏ bọc luôn bị ràng buộc bởi những quy tắc cứng nhắc và nỗi sợ hãi.
Câu 5:
Bài học rút ra từ trong đoạn trích là: không nên có lối sống bảo thủ sợ hãi hay bị trói buộc bởi những quy tắc. Muốn sống ý nghĩa cần thoát khỏi những ràng buộc vô hình.
Câu 1:
Cuộc sống ngày cần phát triển, chìa khóa quyết định sự thành công và hạnh phúc của mỗi người chính là lối sống chủ động. Và đó cũng là một cách sống mà nhiều bạn trẻ hiện nay hướng tới. Đầu tiên, chủ động giúp chúng ta không phụ thuộc vào hoàn cảnh hay người khác mà có thể tự quyết định con đường của mình. Thứ hai, khi xây dựng lối sống chủ động, con người linh hoạt hơn trong việc đối mặt với khó khăn, giúp tìm ra các giải pháp nhanh chóng và hiệu quả thay vì chờ sự giúp đỡ. Lối sống chủ động tạo cơ hội thành công, biết cách nắm bắt cơ hội, đặt mục tiêu rõ ràng và kiên trì theo đuổi, từ đó dễ dàng đạt được thành công hơn. Như vậy lối sống chủ động không chỉ giúp cá nhân phát triển mà còn góp phần xây dựng một xã hội năng động sáng tạo và xây dựng một đất nước ngày càng phát triển.
Câu 2
Nguyễn Trãi - doanh nhân văn hóa thế giới, là nhà tư tưởng lớn của đất nước Việt Nam. Ông không chỉ có tài về sự nghiệp chính trị mà Nguyễn Trãi còn để lại cho đời những tác phẩm văn chương chất chứa đầy tư tưởng nhân nghĩa. Và đặc biệt nhất phải kể đến bảo kính cảnh giới với bài 43 gương báu răn mình là một trong những bài thơ tiêu biểu của ông. Không chỉ thể hiện triết lý sống thanh cao giản dị cùng lòng yêu nước mà Nguyễn Trãi còn gửi gắm những bài học quý giá về đạo đức làm người và trách nhiệm với dân tộc.
Nguyễn Trãi thể hiện lối sống thanh cao giản dị qua những câu đầu của bài thơ. " Rồi hóng mát của ngày trường" diễn tả cảnh tác giả thư thái hóng mát, hưởng thụ cuộc sống. " Rồi " ở đây mang nghĩa thảnh thơi, rảnh rỗi. " Thuở ngày trường " có nghĩa là khoảng thời gian trong ngày ám chỉ những ngày tháng an nhàn, không vướng bận Công Danh. " Huề lục đùn đùn tán rợp trương" khắc họa cảnh sắc thiên nhiên tràn đầy sức sống tươi tốt và phát triển mạnh mẽ. Từ láy "đùn đùn" nhấn mạnh sự phát triển không ngừng của cây cỏ tạo cảm giác thiên nhiên tràn đầy sức sống. Qua đây thể hiện cuộc sống đầy cảnh sát thiên nhiên cùng lối sống thanh cao hòa hợp của Nguyễn Trãi. Qua đó tao thấy được một tâm hồn yêu thiên nhiên, một nhân cách luôn hướng về sự bình an, tự tại giữa cuộc đời.
" Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng Liên trì đã tịn mùi hương"
Hình ảnh cây lựu ra hoa dưới hiên nhà với vẻ đẹp rực rỡ của mùa hè, tượng trưng cho sức sống mạnh mẽ được thể hiện qua câu thơ " Thạch Lựu hiên còn phun thức đỏ". " Phun thức đỏ" gợi tả hình ảnh hoa lựu đang nở, như những đốm lửa đỏ rực rỡ tràn đầy sức sống. Tuy nhiên " Thạch Lựu " lại ngược lại với " Hồng Liên" giữa vẻ đẹp rực rỡ và hoa sen hồng nhẹ nhàng thanh khiết. Tuy nhiên sự đối lập này không tạo ra khúc mắc ngược lại còn vẽ lên bức tranh thiên nhiên phong phú, cân bằng giữa cái mãnh liệt và cái thanh tao. Ngoài ra cảnh hoa sen nở còn được miêu tả cùng " tịn mùi hương" nghĩa là hoa sen đã bắt đầu phảng phất trong không gian tỏa hương dịu nhẹ trong hồ nước, mang cảm giác thanh tịnh bình yên.
" Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch Dương"
" Lao xao chợ cá là ngư phủ" tái hiện cảnh sinh hoạt đời thường ở làng chài ven biển ,ven sông vừa tấp nập nhưng vẫn giữ được nét yên bình của thôn quê. " Lao xao" là từ nãy gọi âm thanh rộn ràng tấp nập nhưng không quá ồn ào, náo nhiệt. " Rắn rỏi cầm ve lầu tịch dương" miêu tả hình ảnh người chơi đàn trong hoàng hôn, tạo nên bức tranh thanh bình giàu chất thơ. " Lầu tịch dương" có nghĩa là nơi cao giáo trong ánh chiều tà, gọi lên khung cảnh lắng đọng, êm đềm. " Cầm ve" là loại đàn cổ gọi cho ta hình ảnh không gian nghệ thuật, thư thái.
Nguyễn Trãi không chỉ miêu tả những cảnh xa hoa mà còn tập trung vào cảnh sinh hoạt đời thường của nhân dân làng chài. Chợ cá nhộn nhịp nhưng không xô bồ.
"Lễ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương"
Đây không chỉ là những lời thơ mang tính ẩn dụ sâu sắc mà còn thể hiện tư tưởng quan niệm sống của tác giả. " Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng" nhắc đến hình tượng vua Ngu Thuấn dùng âm nhạc để giáo hóa dân chúng, thể hiện mong muốn có một xã hội yên bình. " Dân giàu đủ khắp đòi phương" thể hiện khát vọng về một xã hội thái bình và còn phản ánh tư tưởng chính trị nhân nghĩa và tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc của Nguyễn Trãi. " Dân giàu đủ" nghĩa là dân có cuộc sống ấm no không có cảnh thiếu thốn. " Khắp đòi phương" được hiểu là trên khắp mọi miền đất nước. Câu thơ thể hiện rõ mong ước của Nguyễn Trãi về một xã hội lý tưởng. Qua đó tao thấy được nhân cách cao đẹp của ông. Một người luôn nghĩ cho dân, luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.
Bài thơ Bảo kính cảnh giới ( gương báu răn mình ) không chỉ thể hiện tư tưởng nhân nghĩa sâu sắc mà còn phản ánh tấm lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi. Bằng những hình ảnh giàu biểu tượng và sâu sắc, Nguyễn Trãi đã gửi gắm triết lý sống cao đẹp, đề cao giá trị của đạo đức và sự hòa hợp trong xã hội. Qua đó tao càng trân trọng hơn nhân cách của ông - một bậc hiền tài suốt đời vì nước vì dân
Câu 1:
Thể thơ của văn bản trên là thể thơ thất ngôn bát cú đường luật
Câu 2:
Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc thanh cao của tác giả là: " một mai, một cuốc, một cần câu." ; " thơ thẩn dầu ai vui thú nào" ; " ta dại" ; " Thu ăn măng trúc đông ăn giá " ; " Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"
Câu 3:
Biện pháp tu từ liệt kê có trong hai câu thơ trên nằm ở " một mai, một cuốc, một cần câu". Câu thơ gợi hình ảnh những dụng cụ gắn liền với công việc lao động điền viên.Tác dụng thể hiện thái độ thư thái không vướng bận chuyện thế gian của nhà thơ. Không chỉ miêu tả cuộc sống điền viên của Nguyễn bỉnh Khiêm mà còn thể hiện quan niệm sống nhàn, an nhiên, tự tại, xa lánh vòng danh lợi.
Câu 4:
Quan niệm dại - khôn của tác giả trong hai câu thơ trên có điểm đặc biệt. Vốn dĩ khôn là từ đề tài sự thông minh tài trí, dại là thiếu khôn ngoan không biết lo toan cho bản thân. Nhà thơ tự nhận mình là dại khi chọn cuộc sống ẩn dật, xa lánh trốn danh lợi. Qua đây ông muốn khẳng định bằng cách nói ngược rằng cái khôn của người đời chưa chắc đã là khôn thực sự, còn cái dại của ông mới chính là sự lựa chọn khôn ngoan.
Câu 5:
Qua bài thơ trên, Nguyễn bỉnh Khiêm hiện lên với nhân cách cao đẹp. Ông là người có lối sống thanh bạch, giản dị, không cầu kỳ xa hoa. Dù sống an nhàn nhưng không lười biếng. Đây là nhân cách của một bậc trí giả, hiểu rõ thế thời và chủ động lựa chọn con đường phù hợp với đạo lý làm người. Ông mang trong mình tư tưởng của một bậc Hiền Triết coi trọng sự thanh tịnh tâm hồn hơn là công danh phù phiếm. Qua đó bài thơ thể hiện ông là một con người thấy sự an nhiên giữa cuộc sống biến động, giữ vững khí chất của một bậc danh sĩ tài ba.