Lê Thị Trà My

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Thị Trà My
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

 a. Môi trường nuôi cấy không liên tục và môi trường nuôi cấy liên tục:

Môi trường nuôi cấy liên tục: Là môi trường mà dinh dưỡng được bổ sung liên tục, đồng thời chất thải và vi khuẩn dư thừa được lấy ra để duy trì môi trường ổn định, giúp vi khuẩn sinh trưởng liên tục.

Môi trường nuôi cấy không liên tục: Là môi trường mà vi khuẩn được nuôi cấy trong một lượng dinh dưỡng xác định và không thêm dinh dưỡng hoặc loại bỏ chất thải trong suốt quá trình nuôi cấy.           b. Sự sinh trưởng của quần thể vi khuẩn ở các pha trong môi trường nuôi cấy không liên tục: Trong môi trường nuôi cấy không liên tục, quần thể vi khuẩn phát triển qua 4 pha: Pha tiềm phát (pha lag): Vi khuẩn thích nghi với môi trường mới, chưa sinh sản ngay. Sinh tổng hợp mạnh để chuẩn bị phân chia. Pha lũy thừa (pha log): Vi khuẩn phân chia mạnh mẽ theo cấp số nhân. Số lượng tế bào tăng rất nhanh, môi trường thuận lợi. Pha cân bằng (pha stationary): Số lượng tế bào sinh ra bằng số lượng tế bào chết. Dinh dưỡng dần cạn kiệt, chất thải tích tụ. Pha suy vong (pha death): Tế bào chết nhiều hơn tế bào sinh ra. Dinh dưỡng cạn kiệt, chất độc tích tụ cao.

c1 Sê-khốp là một trong những nhà văn hiện thực tiêu biểu của nền văn học Nga. Tác phẩm của ông đa số là truyện ngắn với những câu chuyện có cốt truyện giản dị nhưng có ý nghĩa sâu sắc, phản ánh những vấn đề của đời sống xã hội, có vai trò giáo dục con người lớn lao và giàu ý nghĩa nhân văn. Truyện ngắn "Người trong bao" là một tác phẩm thành công làm nên tên tuổi của ông, thông qua nhân vật Bê- li- cốp, tác giả đã dựng lên bầu không khí tù đọng, ngột ngạt của nước Nga những năm cuối thế kỉ XIX, phê phán lối sống của một kiểu người cổ hủ, kì dị.

 

Bê- li- cốp là một giáo viên dạy tiếng Hy lạp cổ tại một ngôi trường. Ông kỳ lạ từ vẻ ngoài cho đến tính cách. Mặt mũi lúc nào cũng nhợt nhạt, nhỏ bé choắt lại như mặt chồn, trang phục khác người, mọi thứ liên quan đến bản thân đều được ông ta cố tình che đậy rất mực cẩn thận. Bất kể lúc nào, dù trời nắng đẹp hay mưa rét, ông ta cũng mang một cái áo bành to tướng, đi đôi giày cao su, đeo kính râm,... như muốn che giấu điều gì đó. Mọi vật dụng sinh hoạt hằng ngày đều được cất giấu kĩ lưỡng trong bao. Miệng lúc nào cũng lo sợ: "Nhỡ xảy ra chuyện gì?"..., một kẻ nhút nhát, sợ hãi đến đáng thương.

 

 

Bê-li-cốp sống trong một căn phòng chật hẹp, thiếu sinh khí, khi nào lên giường đi ngủ cũng cố trùm chăn kín mít kẻ cả trời nắng nóng, trông hệt như một cái bao, gói gọn tất cả mớ suy nghĩ lo sợ vào trong con người hắn. Một cái bao che giấu hết bản thân của hắn để tránh tất cả những tác động bên ngoài. Mọi ý nghĩ, việc làm của hắn như muốn được che đậy. Hắn luôn thoả mãn, hài lòng với cách sống đó. Hắn khiến cho bao nhiêu người xung quanh phải sợ hãi, lo lắng, thậm chí là tránh xa. Bê-li-cốp như chỉ có một mình mà không có bất kì một mối liên hệ mật thiết nào với người xung quanh, đến trường lầm lì không nói, xem cách đến nhà đồng nghiệp chơi như một cách duy trì quan hệ mà chẳng nói một câu nào, ngồi lì rồi ra về. Với hắn, chỉ có những chỉ thị, lệnh cấm mới an toàn. Bê- li-cốp có một lối sống vô cùng lập dị khác người, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nhưng với hắn thì không. Hắn luôn sợ hãi với chính mình, sợ hãi với mọi người xung quanh. Dường như khát khao mãnh liệt nhất của hắn là thu mình vào trong bao, tránh xa mọi sự thể bên ngoài, một lối sống khiến người khác phải e dè, kinh hoàng, và lo sợ. Sau cuộc cãi vã với chị em nhà Va-ren-ca, hắn thấy rất tức giận và vô cùng xấu hổ, nhục nhã, thậm chí rất sốc trước hành động cũng như thái độ của họ. Cuối cùng cái chết xảy ra với Bê-li-cốp như một lẽ tất yếu. Hắn chết trong niềm vui, sự mãn nguyện và bình thản, đó là cái chết mình chứng cho lối sống ích kỉ tự tiêu diệt chính mình, hắn được chui vào chiếc bao mãi mãi không bao giờ giải thoát được. Cái chết của y đã khiến không khí bớt ngột ngạt, mọi người thấy thoải mái nhẹ nhàng hơn được một thời gian, nhưng sau đó lại xuất hiện bao nhiêu kẻ "trong bao" như Bê-li- cốp. Cuộc sống lại đi vào ngõ cụt, chẳng thể tốt đẹp hơn được nữa.

 

Như vậy, Bê-li-cốp đã không chỉ là một phần tử đơn độc, một trường hợp duy nhất trong xã hội mà trở thành đại diện điển hình của xã hội thời bấy giờ. Lối sống ấy đã tồn tại âm ỉ trong văn hoá đời sống con người Nga thế kỉ XIX. Tác giả đã phê phán chế độ cũ lạc hậu, chuyên chế trì trệ thối nát đã sản sinh những kiểu người lập dị, trong bao. Muốn tiêu diệt nó phải xóa bỏ nền độc tài, đưa xã hội ngày một tiến bộ hơn.

 

Trong xã hội ngày nay, vẫn còn nhiều kiểu người như Bê-li-cốp, lo sợ quyền lực, sống hèn nhát, nhu nhược, không dám bày tỏ chính kiến của bản thân, gió chiều nào xuôi theo chiều ấy. Sống trong lo sợ, đó là những thái độ sống đáng phê phán. Chúng ta những thế hệ tương lai phải sống hết mình, phải là chính mình, hãy nhìn cuộc sống bằng cái nhìn lạc quan và tố đẹp nhất, giữ cho tâm được an yên, bình lặng. Hãy sống chủ động, nắm bắt cơ hội và yêu thương, hoà đồng nhiều hơn, xóa bỏ lo sợ, xoá bỏ cái bao trong chính mình, xóa bỏ lối ích kỷ hẹp hòi để vươn tới những điều tốt đẹp hơn. Đừng tự giết tương lai của chính mình trong những cái bao vô hình đáng sợ.

c2 bài làm

Trong cuộc sống, việc luôn ở trong "vùng an toàn" có thể mang lại sự ổn định và an tâm, nhưng cũng chính nó có thể khiến chúng ta trở nên trì trệ, thiếu sáng tạo và không phát huy hết tiềm năng của bản thân. Sự sẵn sàng vượt ra khỏi vùng an toàn là một yếu tố quan trọng giúp mỗi người phát triển và đạt được thành công trong cuộc sống. Khi chúng ta dám bước ra khỏi sự an phận, đối diện với những thử thách và khó khăn, chúng ta sẽ học hỏi được nhiều điều mới mẻ, từ đó phát triển kỹ năng, mở rộng tầm nhìn và trở nên mạnh mẽ hơn. Đặc biệt trong thời đại thay đổi nhanh chóng như hiện nay, sự chủ động thay đổi, dám thử thách bản thân và làm quen với những điều mới mẻ sẽ giúp chúng ta thích nghi tốt hơn với môi trường xung quanh. Mặc dù có thể gặp khó khăn và thất bại, nhưng chính những trải nghiệm đó sẽ rèn luyện chúng ta thành những người kiên cường và tự tin. Do đó, tinh thần sẵn sàng vượt ra khỏi vùng an toàn không chỉ là một yếu tố cần thiết mà còn là chìa khóa mở ra cơ hội và sự thành công trong tương lai.

c1 Nghệ thuật lập luận được thể hiện qua việc sử dụng những lí lẽ, bằng chứng vô cùng xác đáng về thời cuộc, hoàn cảnh của đất nước: sau chiến tranh, nguyên khí quốc gia kiệt quệ, triều đình hỗn loạn, lòng người hoang mang… những người hiền tài thì sống ẩn dật, lánh xa sự đời, bỏ mặc đất nước trong hoàn cảnh nguy nan… Nhưng bên cạnh những lời chỉ trích có phần gay gắt, đanh thép ấy ta vẫn bắt gặp những câu hỏi tu từ đậm chất biểu cảm như “Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?...” Như một nỗi niềm giãi bày, một sự trải lòng của chính nhà vua, thay vì việc đổ lỗi cho người tài, ông nhận sự nhượng bộ về mình. Đây là một cách thuyết phục độc đáo, không chỉ cho ta thấy nỗi niềm, tấm lòng của nhà vua còn là một cách thấy nhu thắng cương khiến người nghe không khỏi thấy nhói lòng, tội lỗi nếu làm

c2 bài làm

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng thể hiện sự nhận thức sâu sắc về vai trò của thế hệ trẻ trong quá trình xây dựng đất nước bằng câu nói: "Sự tươi đẹp của non sông Việt Nam, khả năng cạnh tranh với các cường quốc trên thế giới, và cả sự phát triển của đất nước chúng ta đều dựa vào phần lớn vào việc học tập và phấn đấu của các bạn trẻ." Thế hệ trẻ được xem là trụ cột quan trọng để đưa Việt Nam vươn lên trở thành một đất nước mạnh mẽ và phồn thịnh trên trường quốc tế.

 

Tuy nhiên, ngày nay, chúng ta đang đối mặt với một thực tế đáng buồn, đó là sự "chảy máu chất xám." Đơn giản, đây là hiện tượng khi một số lượng lớn các nhân tài trẻ và trí thức của Việt Nam quyết định định cư, làm việc tại nước ngoài thay vì quay về đóng góp cho quê hương. "Chất xám" ở đây đại diện cho trí tuệ, sự sáng tạo và năng lực của con người.

 

Rất nhiều bạn trẻ và những tài năng xuất sắc của Việt Nam sau khi học tập ở nước ngoài quyết định ở lại đóng góp tài năng và sáng tạo để tạo ra giá trị vật chất cho cộng đồng nơi họ đang sinh sống, thay vì trở về quê hương. Tình trạng này dẫn đến sự "thất thoát" của những nguồn nhân lực xuất sắc và ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

 

Nguyên nhân của tình trạng chảy máu chất xám có thể được phân tích từ hai góc độ: góc độ cá nhân và góc độ cơ cấu xã hội. Từ góc độ cá nhân, nhiều người trẻ thích hưởng lợi từ môi trường làm việc tốt hơn và thu nhập cao hơn ở nước ngoài. Từ góc độ cơ cấu xã hội, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với sự phát triển kém cỏi so với các quốc gia tiên tiến, thiếu điều kiện và chế độ đãi ngộ không thực sự thúc đẩy sự phát triển của tài năng trong nước. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải thực hiện các biện pháp như thu hút và giữ chân tài năng, tạo điều kiện làm việc hấp dẫn cho họ.

 

Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng cần phát huy tình yêu đối với đất nước và tinh thần dân tộc, sẵn sàng đóng góp khả năng và sức lực để đưa Việt Nam tiến bước phía trước, thực hiện lời dạy của Bác Hồ và góp phần vào sự phát triển giàu đẹp của đất nước

c1 PTBD chính nghị luận

c2chủ thể bài viest là tác giả 

c3Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản:

 

- Người tiến cử được thưởng vào bực thượng thưởng, theo như phép xưa.

 

- Tiến cử người có tài trung bình thì được thưởng thăng hai trật.

 

- Tiến cử người có tài đức đều trội hơn đời, thì được trọng thưởng. 

muck đích chính thuyết phục kẻ sĩ Bắc Hà ra cộng tác với triều đình Tây Sơn.

 

Câu 1 Có ai trên đời này lại không muốn tự quyết định cuộc đời mình? Có ai muốn nhất nhất nghe theo sự chỉ huy của người khác? Muốn thế chỉ có cách ta phải “sống ở thế chủ động”. Chủ động – có thể được hiểu là tự mình lập kế hoạch, thực hiện, và chịu trách nhiệm với mọi vấn đề trong cuộc sống mà không chịu sự chi phối bởi hoàn cảnh bên ngoài. Có thể ví cuộc sống mỗi chúng ta như một chặng đường, thì chủ động chính là chúng ta biết được hướng đi, tốc độ, điểm dừng, đích đến, chính vì thế mà người chủ động thường dễ thành công hơn. Chỉ có sống trong thế chủ động, Bác mới hướng mình sang phương Tây, để tìm hiểu cuộc sống nhân dân bên đó, để tìm ra con đường cứu nước cứu dân. Chỉ có sống và làm chủ bản thân, Bill Gates hay Mark mới bỏ ngang trường đại học danh giá nhất nước Mỹ để thực hiện ước mơ của mình. Và cũng chỉ có thế chủ động, bất cứ ai trong chúng ta mới có thể sẵn sàng đối diện với sóng gió. Người xưa đã từng than thở “gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu?”, thế hệ thanh niên của chúng ta ngày hôm nay không thể bị động như thế, không thể đóng vai “hành khách” trên chuyến xe mà người khác cầm lái. Có thể chúng ta chưa làm được điều gì to lớn, nhưng ít nhất sáng mai ăn gì, học như thế nào, thi trường gì, chúng ta hãy chủ động quyết định. Người chủ động phải là người luôn cầu tiến, ham học hỏi, rèn luyện và chuẩn bị hành trang cần thiết cho chuyến đi của mình. Làm gì có người leo núi nào lại không chuẩn bị thể lực, đồ dùng, làm gì có người giương buồm ra khơi nào mà không biết trước hướng đi. Điều đó có nghĩa, chủ động nhưng không liều lĩnh, chủ động cần tỉnh táo, tham khảo ý kiến mọi người, hạn chế mức thấp nhất sai lầm, thất bại, sẵn sàng đối diện với khó khăn.

Câu 2 bài làm

đã được tác giả gửi gắm trọn vẹn tâm tư và suy nghĩ, qua đó, thể hiện hết phần nào về vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi.

 

Dễ có Ngu cầm đàn một tiếng

Dân giàu đủ khắp đòi phương

 

Ở đây, tác giả đã mượn điển tích để nói lên khát vọng của mình. Câu thơ cuối sáu chữ ngắn gọn, nhịp 3/3 thể hiện sự dồn nén cảm xúc của cả bài - tác giả khát khao đem tài trí thực hành tư tưởng yêu nước, thương dân, và đó cũng chính là tưởng chủ đạo của bài thơ. Tuy tác giả đón nhận cảnh ngày hè với tư thế ung dung trong một ngày nhàn rỗi nhưng ông vẫn luôn suy nghĩ, lo lắng cho nhân dân, cho đất nước. Cảm nhận cảnh ngày hè nhưng tác giả vẫn quan tâm tới cuộc sống của nhân dân. Thế nên ông nghe thấy âm thanh tấp nập, lao xao của làng chài.

 

Ông quan tâm tới nhân dân, lo cho dân cho nước. Chính vì vậy, ông ước mong mình có cây đàn của vua Ngu Thuấn. Với cây đàn đó, Nguyễn Trãi có thể mang tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và đất nước. Không có một lòng yêu quê hương, đất nước sâu đậm, ông không thể có một ước muốn như vậy. Không có lòng yêu quê hương, đất nước, ông không thể cảm nhận được hết vẻ đẹp mùa hè nơi một làng chài quê hương thanh bình. Và, không có lòng yêu quê hương, đất nước, ông không thể viết nên bài thơ Cảnh ngày hè làm xúc động lòng người như vậy.

 

Bài thơ tả cảnh ngày hè cho thấy tâm hồn Nguyễn Trãi chan chứa tình yêu thiên nhiên, yêu đời, yên nhân dân, đất nước. Việt hoá thơ Đường luật, sáng tạo thơ thất ngôn xen lục ngôn, vận dụng hình ảnh, màu sắc, đường nét, âm thanh của cảnh vật thiên nhiên và cuộc sống của con người, hệ thống ngôn ngữ giản dị tinh tế xen lẫn từ Hán và điển tích chính là những nét nghệ thuật đặc trưng cho Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi.

 

Bài thơ Cảnh ngày hè đặc sắc về cả nội dung và nghệ thuật. Qua đó, ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn của Nguyễn Trãi. Ông là người yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước. Nhưng trên hết, ông là một người vừa có tài, vừa có tâm bởi ông luôn lo lắng cho nhân dân, cho đất nước. Ông muốn cống hiến nhiệt huyết của mình để nhân dân hạnh phúc, ấm no, đất nước giàu mạnh. Tư tưởng của Nguyễn Trãi như một bài học gửi gắm cho thế hệ trẻ về lòng yêu nước, ước mong cống hiến cho đất nước.

c1: thể thơ thất ngôn bát cú 

Câu 2: Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả trong bài thơ "Cảnh ngày hè" của Nguyễn Trãi là: "một mảnh vườn nhỏ", "một gốc cây", "một cuộc, một cần câu". Những hình ảnh này gợi lên cuộc sống giản dị, tự tại, gần gũi với thiên nhiên của tác giả.

 

Câu 3: Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong hai câu thơ "Đầu mái, một cuốc, một cần câu/ Thú vui nào hơn thú vui câu" là việc liệt kê các vật dụng đơn giản: "đầu mái", "một cuốc", "một cần câu". Tác dụng của biện pháp tu từ này là làm nổi bật sự giản dị, thanh đạm trong cuộc sống của tác giả, đồng thời nhấn mạnh thú vui tao nhã, gần gũi với thiên nhiên. Liệt kê những vật dụng đơn sơ càng tô đậm sự thanh cao, không màng danh lợi của nhà thơ.

 

Câu 4: Quan niệm về dại - khôn của Nguyễn Trãi trong hai câu thơ "Dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Khôn, người đến chốn lao xao" thể hiện sự đối lập giữa cuộc sống thanh tĩnh, tự tại với cuộc sống ồn ào, tranh giành. Ông cho rằng người khôn ngoan là người tìm đến chốn lao xao, danh lợi, còn người dại là người tìm đến sự yên tĩnh, tự tại. Đây là quan niệm đặc biệt vì nó đi ngược lại với quan niệm thông thường, coi sự tĩnh lặng, tự tại là biểu hiện của sự dại dột. Thực chất, đây là sự lựa chọn lối sống, thể hiện sự khôn ngoan khác biệt của Nguyễn Trãi.

 

Câu 5: Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ toát lên từ lối sống giản dị, thanh cao, không màng danh lợi. Ông tìm đến sự tĩnh lặng, hòa mình với thiên nhiên, thể hiện sự khôn ngoan khác biệt, không chạy theo những thú vui phù phiếm của thế tục. Qua đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm cho thấy một tâm hồn thanh thản, một khí phách hiên ngang, một nhân cách đáng ngưỡng mộ. Ông là hình ảnh tiêu biểu của người trí thức yêu nước, sống giản dị mà thanh cao. Ông sống đúng với quan niệm sống của mình, không bị cám dỗ bởi những hào nhoáng của cuộc sống.