Nguyễn Thị Vân Anh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
- PTBĐ : Nghị luận.
Câu 2.
- Chủ thể bài viết là :
Câu 3.
- Mục đích chính của văn bản trên : Giá trị của hiền tài đối với đất nước.
- Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản: +> Người tiến cử được thưởng vào bực thượng thưởng, theo như phép xưa.
+> Tiến cử người có tài trung bình thì được thưởng thăng hai trật.
+> Tiến cử người có Đức đều trội hơn đời, thì được trọng thưởng.
Câu 4.
Luận điểm 1:
Đất nước thịnh trịnh là nhờ có nhiều hiền tài. Có được nhiều hiền tài là vì các quan trọng triều luôn quan tâm tiến cử những người tài giỏi.
Bằng chứng: bài chiếu đã dẫn đến dveiech tiến cửu hiền tài cải các quan đời Hán, đời Đường.
- Luận điểm 2:
Triềucdudngf đang thiếu người tài giúp nước ... sẽ được thưởng.
Bằng chứng: bài chiếu dẫn ra các mức thưởng cụ thể cho những quan lại tiến cử được người tài giỏi.
Câu 5.
Phẩm chất mang giá trị sâu sắc, nói về những người hiền tài
Câu 2.
Bài làm
Nguyễn Trãi (1380- 1442) là đại thi hào dân tộc, người anh hùng cứu quốc thuở “bình Ngô", danh nhân văn hóa Đại Việt. Thơ chữ Hán cũng như thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi đẹp đẽ, sâu sắc, biểu tượng cao quý của nền văn hiến Việt Nam.
“Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi hiện còn 254 bài thơ, được chia nhiều loại, nhiều thể tài khác nhau: Ngôn chí (21 bài), Thuật hứng (25 bài), Bảo kính cảnh giới (61 bài)… Phần lớn các bài thơ trong "Quốc âm thi tập ” không có nhan đề. Đây là bài thơ 43 trong “Bảo kính cảnh giới”. Các bài thơ trong "Bảo kính cảnh giới ” hàm chứa nội dung giáo huấn trực tiếp, những bài thơ này rất đậm đà chất trữ tình, cho ta nhiều thú vị.
Câu 1 (lục ngôn) nói lên một cách sống của thi nhân. Câu thơ bình dị như một lời nói vui vẻ, thoải mái, hồn nhiên:
"Rồi bóng mát thuở ngày trường”
Đằng sau vần thơ là hình ảnh một cụ già, tay cầm quạt giấy “Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh – Áo bô đen cật vận xềnh xoàng" đang đi dạo mát. Lúc bấy giờ, Ức Trai không bị ràng buộc bởi “áng mận đào ”, vòng "danh lợi ” nữa, mà đã được vui thú nơi vườn ruộng, làm bạn với cây cỏ, hoa lá nơi quê nhà. “Ngày trường" là ngày dài. "Rồi" là tiếng cổ, nghĩa là rỗi rãi, nhàn hạ, cả trong công việc lẫn tâm hồn. Câu thơ phản ánh một nếp sống sinh hoạt nhàn nhã: trong buổi ngày rỗi rãi, lấy việc hóng mát làm niềm vui di dưỡng tinh thần. Ta có thể phán đoán Ức Trai viết về bài thơ này khi ông đã lui về Côn Sơn ở ẩn.
Năm câu thơ tiếp theo tả cảnh làng quê Việt Nam xa xưa. Các câu 2, 3, 4 nói về cảnh sắc, hai câu 5, 6 tả âm thanh chiều hè.
Cảnh sắc hè trước hết là bóng hoè, màu hoè. Lá hoè xanh thẫm, xanh lục. Cành hoè sum sê, um tùm, lá "đùn đùn " lên thành chùm, thành đám xanh tươi, tràn đầy sức sống:
"Hoè lục đùn đùn tán rợp trương”
Tán hoè toả bóng mát, che rợp sân, ngõ, vườn nhà, “trương” lên như chiếc ô, chiếc lọng căng tròn. Mỗi từ ngữ là một nét vẽ màu sắc tạo hình, gợi tả sức sống của cảnh vật đồng quê trong những ngày hè: lục, đùn đùn, tán, rợp trương. Ngôn ngữ thơ bình dị, hàm súc và ấn tượng.
Hè rất đẹp, rộn ràng trong khúc nhạc làng quê. Ngoài tiếng cuốc, tiếng chim tu hú, tiếng sáo diều còn có tiếng ve, tiếng cười nói "lao xao " của đời thường:
“Lao xao chợ cá làng ngư phù,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương".
Sau khi tả hoè màu "lục”, lựu "phun thức đỏ”, sen hồng đã “tịch mùi hương”, nhà thơ nói đến âm thanh mùa hè, khúc nhạc đồng quê. Tiếng “lao xao” từ một chợ cá làng chài xa vọng đến, đó là tín hiệu cuộc đời dân dã đầy muối mặn và mồ hôi. Nhà thơ lắng nghe nhịp sống đời thường ấy với bao niềm vui. “Lao xao” là từ láy tượng thanh gợi tả sự ồn ào, nhộn nhịp. Hòa nhịp với tiếng lao xao chợ cá là tiếng ve-vang lên rộn rã, nhịp nhàng. "Cầm ve”, hình ảnh ẩn dụ, tả âm thanh tiếng ve kêu như tiếng đàn cầm. "Dắng Dỏi ” nghĩa là inh ỏi, âm sắc tiếng ve trầm bổng, ngân dài vang xa. Ngôi lầu buổi xế chiều trở nên náo động, rộn ràng. Nhà thơ lấy tiếng ve để đặc tả khung cảnh một chiều hè làng quê lúc hoàng hôn buông dần xuống mái lầu (lầu tịch dương) là một nét vẽ tinh tế đầy chất thơ làm nổi bật cái không khí êm ả một chiều hè nơi thôn dã.
“Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương".
“Dân giàu đủ", cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Ở đây, ông đề cập đến Ngu cầm vì thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng là thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn “Nam Phong” gảy lên để ca ngợi nhân gian giàu đủ, sản xuất ra nhiều thóc lúa ngô khoai. Cho nên, tác giả muốn có một tiếng đàn của vua Thuấn lồng vào đời sống nhân dân để ca ngợi cuộc sống của nhân dân ấm no, vui tươi, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả. Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ. Đó là ước mơ vĩ đại. Có thể nói: dù triều đình có thể xua đuổi Nguyễn Trãi nhưng ông vẫn sống lạc quan yêu đời, mong sao cho ước vọng lí tưởng của mình được thực hiện để nhân dân có một cuộc sống ấm no.
Bài thơ đẹp như một bức tranh thi trung hữu họa. Bài thơ giúp ta hiểu hơn về tâm hồn, nhân cách của Nguyễn Trãi, bồi đắp cho chúng ta niềm yêu nước, thương dân trong trái tim.
Câu 1.
Bài làm
Cuộc sống ngoài kia luôn là một hành trình không dễ dàng, nơi mà giông bão có thể xuất hiện mà bạn khó có thể dự đoán trước. Tuy nhiên, cách chúng ta lựa chọn và làm chủ cuộc sống chính là yếu tố quyết định quan trọng. Sự "sống ở thế chủ động" không chỉ là một quyết định cá nhân mà còn là chìa khóa mở ra ý nghĩa vô cùng to lớn trong cuộc sống của mỗi người.
Sống ở thế chủ động đòi hỏi mỗi người phải tự mình làm chủ cuộc sống, đặt ra mục tiêu và nỗ lực để thực hiện chúng một cách hoàn thiện, mà không cần sự nhắc nhở từ người khác. Nó không chỉ mang lại sự năng động và sáng tạo hơn, mà còn đóng góp tích cực cho cuộc sống cá nhân và xã hội.
Chủ động không chỉ đơn thuần là hành động độc lập với hoàn cảnh xung quanh, mà còn là việc làm chủ được tình thế, dám nghĩ và dám hành động trong mọi lĩnh vực. Nó giúp con người trở nên tự tin, bản lĩnh và linh hoạt ứng xử trong mọi tình huống, giúp họ vượt qua khó khăn, hoàn thành mục tiêu, và theo đuổi những khát vọng và ước mơ của bản thân.
Mặc dù tuổi trẻ chủ động sẽ không ngừng có cơ hội mới để khẳng định bản thân và đạt được thành công, nhưng chúng ta cũng cần nhìn nhận và phê phán những bạn trẻ sống dựa dẫm, thiếu tự tin, và phó mặc cho số phận của mình. Sự sống chủ động trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong môi trường xã hội ngày nay, đặc biệt đối với thế hệ trẻ - những người sẽ là chủ nhân của tương lai đất nước.
Mỗi cá nhân hãy rèn luyện bản thân bằng cách sống có ước mơ, tích cực trau dồi kiến thức và đạo đức. Cuộc sống mang lại nhiều cơ hội quý báu, và quan trọng nhất là chúng ta phải chủ động nắm giữ những cơ hội đó để tạo ra giá trị tích cực cho bản thân và xã hội. Hãy sống hết mình để cuộc sống trở nên tươi đẹp và đáng sống.
Câu 1. Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả :
- Một cuốc, một cần câu
- Ăn măng trúc, ăn giá
- Tắm hồ sen, tắm ao
Câu 3. Biện pháp tu từ: Liệt kê
Từ ngữ được liệt kê: một mai, một cuốc, một cần câu
Tác dụng:
Tạo nhịp điệu đều đặn, chậm rãi: Việc lặp lại cấu trúc "một + danh từ" cùng với nhịp thơ 2/2/3 đã tạo nên một âm điệu nhẹ nhàng, thư thái, gợi tả một cuộc sống yên bình, thong dong.
Gợi tả cuộc sống giản dị, thanh bạch: Ba hình ảnh "mai, cuốc, cần câu" là những dụng cụ lao động đơn sơ, gắn liền với cuộc sống nông dân. Việc liệt kê chúng một cách giản dị, mộc mạc đã vẽ nên bức tranh về một cuộc sống thanh bạch, không bon chen, phù hợp với quan niệm sống của nhà thơ.
Câu 4.
- Quan điểm sống của tác giả, có chút mỉa mai, ngạo nghễ.
+ Tác giả tự nhận mình “ngu” dại, đây là cái ngu dại của bậc đại trí , thực chất là “khôn”.
+ Ông khiêm tốn, không khoe khoang đây là cái thức của người trí nhân.
Câu 5. Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà nho uyên thâm nổi tiếng trong giai đoạn tranh đấu Trịnh - Nguyễn, đã lựa chọn cuộc sống ẩn dật theo đạo Nho trong bối cảnh loạn lạc. Ông mang một tâm hồn trong sáng, một nhân cách sống rất bình dị đời thường, một cốt cách cao đẹp.