Nguyễn Thị Vân Anh
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Bé Em trong "Áo Tết" là nhân vật đại diện cho sự hồn nhiên, ngây thơ nhưng cũng rất trưởng thành, giàu tình yêu thương và có khả năng hy sinh vì người khác. Dù có hoàn cảnh gia đình khá giả hơn so với Bích, được mẹ may nhiều áo mới, Em lại thể hiện sự thấu hiểu và tình yêu thương sâu sắc với mẹ. Em không chỉ yêu quý chiếc áo Tết của mình mà còn sẵn sàng nhường cho mẹ, hành động này cho thấy vẻ đẹp tâm hồn trong trẻo, giàu lòng hiếu thảo và tình yêu thương vô bờ bến. Qua đó, nhân vật làm nổi bật giá trị của tình thương, sự sẻ chia, vượt lên trên những món đồ vật chất.
câu 2
Áo Tết” là một truyện ngắn nhẹ nhàng mà sâu sắc của nhà văn Nam Bộ Nguyễn Ngọc Tư. Bằng giọng kể dung dị, chân thành, nhà văn đã khắc họa hình ảnh những đứa trẻ miền quê hồn nhiên, trong sáng nhưng cũng rất tinh tế trong tình cảm. Trong số đó, nhân vật bé Em là hình tượng trung tâm, qua đó tác giả gửi gắm bài học sâu sắc về tình bạn, lòng nhân hậu và sự đồng cảm giữa con người với con người.
Câu chuyện xoay quanh hai cô bé là bé Em và bé Bích – đôi bạn thân cùng lớp, cùng tuổi nhưng có hoàn cảnh khác nhau. Bé Em có gia đình khá giả, được mẹ may cho bốn bộ áo mới để mặc trong dịp Tết; còn Bích, vì nhà nghèo, chỉ có được một bộ đồ mới. Khi biết điều đó, bé Em vốn háo hức khoe áo mới lại bỗng chững lại, bối rối và mất hứng. Đặc biệt, trong ngày mùng hai Tết, khi đi chúc Tết cô giáo, bé Em đã chọn mặc bộ đồ giản dị, giống bạn, để Bích không cảm thấy tự ti hay tủi thân. Chính chi tiết ấy đã làm nên vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật – một cô bé nhỏ tuổi nhưng giàu lòng nhân ái và tinh tế trong ứng xử.
Chủ đề của truyện được bộc lộ rõ qua cách xây dựng tình huống và tâm lý nhân vật: ca ngợi tình bạn trong sáng, hồn nhiên nhưng đầy yêu thương và đồng cảm giữa những đứa trẻ. Bé Em và Bích đều sống chân thành với nhau. Cả hai không chỉ chia sẻ niềm vui, mà còn biết nghĩ cho nhau, tránh làm tổn thương nhau dù vô tình. Nguyễn Ngọc Tư đã dùng câu chuyện giản dị về “áo Tết” để nói lên một điều sâu xa: trong mọi mối quan hệ, điều quan trọng không phải vật chất mà là sự thấu hiểu và tình cảm chân thành. Câu chuyện tuy viết cho thiếu nhi nhưng lại khiến người lớn phải suy ngẫm về cách đối xử giữa người với người trong cuộc sống hiện đại – nơi mà đôi khi, sự vô tâm và hơn thua đã khiến ta quên mất sự đồng cảm.
Nhân vật bé Em được xây dựng thành công ở cả phương diện tính cách lẫn tâm lý. Ở em, ta thấy sự hồn nhiên, đáng yêu của trẻ thơ: háo hức khi có áo mới, thích được bạn bè trầm trồ khen ngợi. Nhưng bên cạnh sự vô tư ấy, bé Em lại có một tâm hồn nhạy cảm và biết nghĩ cho người khác. Khi thấy bạn chỉ có một bộ đồ, ánh mắt “buồn hẳn” của bạn khiến Em day dứt và ngại ngùng. Em không nói lời an ủi, không thể hiện sự thương hại, mà chọn cách âm thầm chia sẻ niềm vui bằng hành động – mặc bộ đồ giản dị để bạn không cảm thấy kém cạnh. Đó là hành động nhỏ nhưng chứa đựng một trái tim lớn. Bé Em không chỉ là hình ảnh của tình bạn hồn nhiên mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp nhân văn – vẻ đẹp của sự cảm thông và vị tha.
Về nghệ thuật, Nguyễn Ngọc Tư đã khéo léo thể hiện tâm lý trẻ thơ qua giọng kể tự nhiên, trong sáng, mang đậm sắc thái Nam Bộ. Ngôn ngữ đối thoại mộc mạc, gần gũi (“mầy”, “má”, “hết sẩy luôn”) khiến nhân vật hiện lên chân thực, sống động. Bút pháp miêu tả tinh tế giúp người đọc nhận ra từng biến đổi nhỏ trong cảm xúc của bé Em – từ háo hức, bối rối đến thấu hiểu và sẻ chia. Câu chuyện không có cao trào kịch tính, nhưng sức lay động đến từ chính sự giản dị và nhân hậu trong cách kể.
Kết thúc truyện, cả hai cô bé cùng mỉm cười trong lời khen của cô giáo. Một chi tiết nhỏ nhưng giàu ý nghĩa: niềm vui của bé Em không đến từ chiếc áo đẹp, mà đến từ niềm hạnh phúc khi khiến bạn mình được vui. Qua đó, Nguyễn Ngọc Tư không chỉ khẳng định vẻ đẹp của tình bạn mà còn gợi nhắc mỗi người về bài học sống: hãy sống chân thành, biết quan tâm và đồng cảm với người khác, vì đó là cách giản dị nhất để làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Tóm lại, “Áo Tết” là một truyện ngắn giàu ý nghĩa nhân văn, kết hợp hài hòa giữa nội dung và nghệ thuật. Hình tượng bé Em hiện lên như một đóa hoa nhỏ bé mà trong trẻo, mang đến cho người đọc niềm tin vào sự tử tế và tình người. Qua câu chuyện ấy, ta học được rằng: trong tình bạn, cũng như trong cuộc sống, sự chân thành và đồng cảm chính là món quà quý giá nhất mà ta có thể trao cho nhau.
- Truyện ngắn.
- Đề tài chính của văn bản là tình bạn và sự sẻ chia giữa những đứa trẻ, thể hiện qua những tình huống xảy ra với nhân vật bé Em và bé Bích.
- Điểm nhìn: Văn bản có sự thay đổi điểm nhìn từ ngôi kể thứ ba (khi miêu tả bé Em) sang ngôi kể thứ nhất (khi bé Em tự suy nghĩ và chia sẻ cảm xúc của mình).
- Tác dụng:
- Giúp người đọc hiểu rõ hơn về suy nghĩ, tình cảm, tâm trạng của nhân vật bé Em.
- Tạo sự gần gũi, chân thực, và có chiều sâu hơn cho câu chuyện.
- Tăng tính hấp dẫn và xúc động cho tác phẩm.
- Ý nghĩa: Chi tiết chiếc áo đầm hồng đã làm nổi bật sự đối lập trong tính cách của hai nhân vật:
- Bé Bích: Thể hiện sự kiêu ngạo, ích kỷ, luôn muốn mọi thứ phải thuộc về mình. Chiếc áo trở thành biểu tượng cho sự chiếm hữu, cho thấy bé Bích coi trọng vật chất hơn tình bạn.
- Bé Em: Thể hiện sự hiền lành, dũng cảm, bao dung và tình yêu thương. Bé Em sẵn sàng nhường chiếc áo cho bạn dù mình rất thích, cho thấy bé ưu tiên tình bạn hơn bất cứ thứ gì khác.
- Tình bạn là món quà quý giá, nên cần vun đắp bằng sự yêu thương, quan tâm và sẻ chia, đặc biệt là những điều nhỏ bé.
- Sự sẻ chia giúp vượt qua những cám dỗ ích kỷ, vật chất để giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp.
- Trong tình bạn, nên biết tha thứ cho những sai lầm của bạn bè, và học cách nhường nhịn để xây dựng một mối quan hệ bền vững.
Trong thời kỳ hiện đại, cuộc sống ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhưng điều này lại đi đôi với những hậu quả đáng lo ngại về môi trường và khí hậu. Biến đổi khí hậu đang dần trở thành một thách thức lớn, đặt ra câu hỏi về tương lai của chúng ta. Điều này làm chúng ta phải nhìn nhận và hiểu rõ hơn về biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi về thời tiết, khí hậu trên toàn cầu, có thể do tác động của con người hoặc các yếu tố tự nhiên. Hiện nay, chúng ta thường chứng kiến những dấu hiệu rõ ràng như sự gia tăng nhiệt độ trái đất, hiệu ứng nhà kính, và hiện tượng băng tan..
Nguyên nhân của biến đổi khí hậu chủ yếu đến từ con người với những đóng góp tiêu cực thông qua hoạt động công nghiệp, ô nhiễm không khí, nước, và tiếng ồn. Chúng ta đang tác động đến môi trường mà không hiểu rõ về hậu quả của những hành động đó.
Mỗi năm, chúng ta đều đối mặt với những cảnh báo về biến đổi khí hậu qua các hiện tượng như sự gia tăng dân số, dịch bệnh, và suy thoái môi trường. Tất cả đều phản ánh ý thức của con người, và chúng ta đang phải chứng kiến những tác động tiêu cực của sự biến đổi khí hậu mà chính chúng ta gây ra.
Biến đổi khí hậu đã tạo ra những ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hàng ngày, từ thiên tai như bão lụt, sóng thần, động đất đến sự xuất hiện của các căn bệnh mới. Chúng ta cần nhận ra rằng mỗi cá nhân đều có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực này.
Nhiều người có quan điểm rằng biến đổi khí hậu là vấn đề của cả thế giới, và họ cảm thấy bản thân không thể giải quyết được. Tuy nhiên, hành động của từng người đều quyết định đến sự thành công trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu.
Chính các cơ quan chức năng cần đảm bảo truyền đạt đúng, nâng cao ý thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Điều này cần sự hợp tác và đồng lòng từ tất cả chúng ta để bảo vệ cuộc sống và tương lai của chúng ta.
- Nghị luận kết hợp với phân tích và bình giảng.
- Tác giả sử dụng các lí lẽ và dẫn chứng từ bài thơ để đưa ra quan điểm, lập luận về ý nghĩa và cảm xúc mà bài thơ truyền tải.
- Cảm xúc: Bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian.
- Thái độ: Đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu bản thân như một cành củi khô, cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
- Từ láy: "song song," "điệp điệp," "lặng lẽ," "bập bềnh" gợi tả sự chuyển động đều đặn, chậm rãi và đơn điệu.
- Biện pháp phủ định: Hai chữ "không" trong câu "Không một chuyến đò ngang," "không cầu," cùng với các từ phủ định như "đâu" trong câu "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều," đã nhấn mạnh sự cô liêu và vắng lặng của dòng sông.
- Hình ảnh: Hình ảnh "con thuyền xuôi mái," "củi một cành khô" trôi dạt, "hàng bèo" trôi theo dòng nước tạo cảm giác vô định, bơ vơ, gợi sự trôi chảy không ngừng và vô phương hướng.
- Vì trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Trong mối quan hệ cộng sinh này, cây cung cấp sản phẩm quang hợp cho đời sống và hoạt động vi khuẩn ngược lại vi khuẩn có vai trò cố định N2 tự do từ không khí thành NH3 vừa cung cấp cho cây vừa cung cấp cho đất.
- Vì trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Trong mối quan hệ cộng sinh này, cây cung cấp sản phẩm quang hợp cho đời sống và hoạt động vi khuẩn ngược lại vi khuẩn có vai trò cố định N2 tự do từ không khí thành NH3 vừa cung cấp cho cây vừa cung cấp cho đất.
Câu 1.
- PTBĐ : Nghị luận.
Câu 2.
- Chủ thể bài viết là :
Câu 3.
- Mục đích chính của văn bản trên : Giá trị của hiền tài đối với đất nước.
- Những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản: +> Người tiến cử được thưởng vào bực thượng thưởng, theo như phép xưa.
+> Tiến cử người có tài trung bình thì được thưởng thăng hai trật.
+> Tiến cử người có Đức đều trội hơn đời, thì được trọng thưởng.
Câu 4.
Luận điểm 1:
Đất nước thịnh trịnh là nhờ có nhiều hiền tài. Có được nhiều hiền tài là vì các quan trọng triều luôn quan tâm tiến cử những người tài giỏi.
Bằng chứng: bài chiếu đã dẫn đến dveiech tiến cửu hiền tài cải các quan đời Hán, đời Đường.
- Luận điểm 2:
Triềucdudngf đang thiếu người tài giúp nước ... sẽ được thưởng.
Bằng chứng: bài chiếu dẫn ra các mức thưởng cụ thể cho những quan lại tiến cử được người tài giỏi.
Câu 5.
Phẩm chất mang giá trị sâu sắc, nói về những người hiền tài
Câu 2.
Bài làm
Nguyễn Trãi (1380- 1442) là đại thi hào dân tộc, người anh hùng cứu quốc thuở “bình Ngô", danh nhân văn hóa Đại Việt. Thơ chữ Hán cũng như thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi đẹp đẽ, sâu sắc, biểu tượng cao quý của nền văn hiến Việt Nam.
“Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi hiện còn 254 bài thơ, được chia nhiều loại, nhiều thể tài khác nhau: Ngôn chí (21 bài), Thuật hứng (25 bài), Bảo kính cảnh giới (61 bài)… Phần lớn các bài thơ trong "Quốc âm thi tập ” không có nhan đề. Đây là bài thơ 43 trong “Bảo kính cảnh giới”. Các bài thơ trong "Bảo kính cảnh giới ” hàm chứa nội dung giáo huấn trực tiếp, những bài thơ này rất đậm đà chất trữ tình, cho ta nhiều thú vị.
Câu 1 (lục ngôn) nói lên một cách sống của thi nhân. Câu thơ bình dị như một lời nói vui vẻ, thoải mái, hồn nhiên:
"Rồi bóng mát thuở ngày trường”
Đằng sau vần thơ là hình ảnh một cụ già, tay cầm quạt giấy “Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh – Áo bô đen cật vận xềnh xoàng" đang đi dạo mát. Lúc bấy giờ, Ức Trai không bị ràng buộc bởi “áng mận đào ”, vòng "danh lợi ” nữa, mà đã được vui thú nơi vườn ruộng, làm bạn với cây cỏ, hoa lá nơi quê nhà. “Ngày trường" là ngày dài. "Rồi" là tiếng cổ, nghĩa là rỗi rãi, nhàn hạ, cả trong công việc lẫn tâm hồn. Câu thơ phản ánh một nếp sống sinh hoạt nhàn nhã: trong buổi ngày rỗi rãi, lấy việc hóng mát làm niềm vui di dưỡng tinh thần. Ta có thể phán đoán Ức Trai viết về bài thơ này khi ông đã lui về Côn Sơn ở ẩn.
Năm câu thơ tiếp theo tả cảnh làng quê Việt Nam xa xưa. Các câu 2, 3, 4 nói về cảnh sắc, hai câu 5, 6 tả âm thanh chiều hè.
Cảnh sắc hè trước hết là bóng hoè, màu hoè. Lá hoè xanh thẫm, xanh lục. Cành hoè sum sê, um tùm, lá "đùn đùn " lên thành chùm, thành đám xanh tươi, tràn đầy sức sống:
"Hoè lục đùn đùn tán rợp trương”
Tán hoè toả bóng mát, che rợp sân, ngõ, vườn nhà, “trương” lên như chiếc ô, chiếc lọng căng tròn. Mỗi từ ngữ là một nét vẽ màu sắc tạo hình, gợi tả sức sống của cảnh vật đồng quê trong những ngày hè: lục, đùn đùn, tán, rợp trương. Ngôn ngữ thơ bình dị, hàm súc và ấn tượng.
Hè rất đẹp, rộn ràng trong khúc nhạc làng quê. Ngoài tiếng cuốc, tiếng chim tu hú, tiếng sáo diều còn có tiếng ve, tiếng cười nói "lao xao " của đời thường:
“Lao xao chợ cá làng ngư phù,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương".
Sau khi tả hoè màu "lục”, lựu "phun thức đỏ”, sen hồng đã “tịch mùi hương”, nhà thơ nói đến âm thanh mùa hè, khúc nhạc đồng quê. Tiếng “lao xao” từ một chợ cá làng chài xa vọng đến, đó là tín hiệu cuộc đời dân dã đầy muối mặn và mồ hôi. Nhà thơ lắng nghe nhịp sống đời thường ấy với bao niềm vui. “Lao xao” là từ láy tượng thanh gợi tả sự ồn ào, nhộn nhịp. Hòa nhịp với tiếng lao xao chợ cá là tiếng ve-vang lên rộn rã, nhịp nhàng. "Cầm ve”, hình ảnh ẩn dụ, tả âm thanh tiếng ve kêu như tiếng đàn cầm. "Dắng Dỏi ” nghĩa là inh ỏi, âm sắc tiếng ve trầm bổng, ngân dài vang xa. Ngôi lầu buổi xế chiều trở nên náo động, rộn ràng. Nhà thơ lấy tiếng ve để đặc tả khung cảnh một chiều hè làng quê lúc hoàng hôn buông dần xuống mái lầu (lầu tịch dương) là một nét vẽ tinh tế đầy chất thơ làm nổi bật cái không khí êm ả một chiều hè nơi thôn dã.
“Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương".
“Dân giàu đủ", cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc là điều mà Nguyễn Trãi từng canh cánh và mong ước. Ở đây, ông đề cập đến Ngu cầm vì thời vua Nghiêu, vua Thuấn nổi tiếng là thái bình thịnh trị. Vua Thuấn có một khúc đàn “Nam Phong” gảy lên để ca ngợi nhân gian giàu đủ, sản xuất ra nhiều thóc lúa ngô khoai. Cho nên, tác giả muốn có một tiếng đàn của vua Thuấn lồng vào đời sống nhân dân để ca ngợi cuộc sống của nhân dân ấm no, vui tươi, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Những mơ ước ấy chứng tỏ Nguyễn Trãi là nhà thơ vĩ đại có một tấm lòng nhân đạo cao cả. Ông luôn nghĩ đến cuộc sống của nhân dân, chăm lo đến cuộc sống của họ. Đó là ước mơ vĩ đại. Có thể nói: dù triều đình có thể xua đuổi Nguyễn Trãi nhưng ông vẫn sống lạc quan yêu đời, mong sao cho ước vọng lí tưởng của mình được thực hiện để nhân dân có một cuộc sống ấm no.
Bài thơ đẹp như một bức tranh thi trung hữu họa. Bài thơ giúp ta hiểu hơn về tâm hồn, nhân cách của Nguyễn Trãi, bồi đắp cho chúng ta niềm yêu nước, thương dân trong trái tim.
Câu 1.
Bài làm
Cuộc sống ngoài kia luôn là một hành trình không dễ dàng, nơi mà giông bão có thể xuất hiện mà bạn khó có thể dự đoán trước. Tuy nhiên, cách chúng ta lựa chọn và làm chủ cuộc sống chính là yếu tố quyết định quan trọng. Sự "sống ở thế chủ động" không chỉ là một quyết định cá nhân mà còn là chìa khóa mở ra ý nghĩa vô cùng to lớn trong cuộc sống của mỗi người.
Sống ở thế chủ động đòi hỏi mỗi người phải tự mình làm chủ cuộc sống, đặt ra mục tiêu và nỗ lực để thực hiện chúng một cách hoàn thiện, mà không cần sự nhắc nhở từ người khác. Nó không chỉ mang lại sự năng động và sáng tạo hơn, mà còn đóng góp tích cực cho cuộc sống cá nhân và xã hội.
Chủ động không chỉ đơn thuần là hành động độc lập với hoàn cảnh xung quanh, mà còn là việc làm chủ được tình thế, dám nghĩ và dám hành động trong mọi lĩnh vực. Nó giúp con người trở nên tự tin, bản lĩnh và linh hoạt ứng xử trong mọi tình huống, giúp họ vượt qua khó khăn, hoàn thành mục tiêu, và theo đuổi những khát vọng và ước mơ của bản thân.
Mặc dù tuổi trẻ chủ động sẽ không ngừng có cơ hội mới để khẳng định bản thân và đạt được thành công, nhưng chúng ta cũng cần nhìn nhận và phê phán những bạn trẻ sống dựa dẫm, thiếu tự tin, và phó mặc cho số phận của mình. Sự sống chủ động trở nên quan trọng hơn bao giờ hết trong môi trường xã hội ngày nay, đặc biệt đối với thế hệ trẻ - những người sẽ là chủ nhân của tương lai đất nước.
Mỗi cá nhân hãy rèn luyện bản thân bằng cách sống có ước mơ, tích cực trau dồi kiến thức và đạo đức. Cuộc sống mang lại nhiều cơ hội quý báu, và quan trọng nhất là chúng ta phải chủ động nắm giữ những cơ hội đó để tạo ra giá trị tích cực cho bản thân và xã hội. Hãy sống hết mình để cuộc sống trở nên tươi đẹp và đáng sống.
Câu 1. Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2. Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hằng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả :
- Một cuốc, một cần câu
- Ăn măng trúc, ăn giá
- Tắm hồ sen, tắm ao
Câu 3. Biện pháp tu từ: Liệt kê
Từ ngữ được liệt kê: một mai, một cuốc, một cần câu
Tác dụng:
Tạo nhịp điệu đều đặn, chậm rãi: Việc lặp lại cấu trúc "một + danh từ" cùng với nhịp thơ 2/2/3 đã tạo nên một âm điệu nhẹ nhàng, thư thái, gợi tả một cuộc sống yên bình, thong dong.
Gợi tả cuộc sống giản dị, thanh bạch: Ba hình ảnh "mai, cuốc, cần câu" là những dụng cụ lao động đơn sơ, gắn liền với cuộc sống nông dân. Việc liệt kê chúng một cách giản dị, mộc mạc đã vẽ nên bức tranh về một cuộc sống thanh bạch, không bon chen, phù hợp với quan niệm sống của nhà thơ.
Câu 4.
- Quan điểm sống của tác giả, có chút mỉa mai, ngạo nghễ.
+ Tác giả tự nhận mình “ngu” dại, đây là cái ngu dại của bậc đại trí , thực chất là “khôn”.
+ Ông khiêm tốn, không khoe khoang đây là cái thức của người trí nhân.
Câu 5. Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà nho uyên thâm nổi tiếng trong giai đoạn tranh đấu Trịnh - Nguyễn, đã lựa chọn cuộc sống ẩn dật theo đạo Nho trong bối cảnh loạn lạc. Ông mang một tâm hồn trong sáng, một nhân cách sống rất bình dị đời thường, một cốt cách cao đẹp.