Nguyễn Thị Anh Thư
Giới thiệu về bản thân
Bao giờ cũng thế, tình cảm gia đình luôn là đề tài giàu cảm xúc, khơi gợi nhiều cảm hứng cho sáng tạo nghệ thuật, chạm sâu vào tâm khảm của người thưởng thức. Truyện ngắn Bát phở của Phong Điệp là một trong những tác phẩm như thế - không có những biến cố gay cấn, không có những lời lẽ hoa mỹ, nhưng lại mang đến một cảm xúc lắng đọng về tình phụ tử.
Có thể nói “Bát phở” là câu chuyện rất cảm động về tình phụ tử thiêng liêng. Tình cảm ấy được thể hiện trước hết ở sự hi sinh của những người cha dành cho con. Dù hai người cha nhà quê, hoàn cảnh chẳng khá giả gì nhưng họ vẫn bỏ công bỏ việc, cất công đưa các con lên Hà Nội thi đại học, những mong các con có tương lai xán lạn, tốt đẹp hơn. Họ vào quán và chỉ gọi phở cho các con trong khi bản mình thì nhịn. Khi gọi phở, họ còn không quên gọi thêm trứng để bồi bổ cho các con “Thêm cả quả trứng cho chắc bụng nhé”. Hai người cha đã tính đến việc các con thi xong, trên đường đi xe về quê, họ sẽ mua mấy ổ bánh mì ăn tạm. Họ đã cố gắng dành những gì tốt đẹp nhất trong khả năng của mình cho những đứa con.
Bên cạnh đó còn là tình cảm của những đứa con dành cho cha. Những người con thấu hiểu sự hi sinh âm thầm của cha. Bởi thế mà khi ăn phở, dù là một bát phở rất ngon nhưng họ không dám bình phẩm nửa lời, chỉ biết lặng lẽ ăn. Họ hiểu rằng, những người cha cũng đói, nhưng vì hoàn cảnh, những người cha chỉ dành dụm lo được cho họ. Một lời suýt soa, một tiếng khen chê về bát phở lúc này đều là điều tàn nhẫn với hai người cha. Rồi khi nhìn cha đếm những đồng tiền lẻ để trả hai bát phở, họ không giấu được tâm trạng âu lo “Chúng nhìn những đồng tiền đi ra khỏi ví của cha”. Trên gương mặt chúng hiển hiện rõ ràng nỗi âu lo, mỏi mệt. Họ biết rằng trong cuộc đời này, họ không chỉ nợ cha mình bát phở bò mà con nợ nhiều hơn thế. Điều đó có lẽ sẽ là động lực mạnh mẽ giúp họ cố gắng để có thể sống tốt hơn, có thể báo đáp công ơn cha mẹ.
Câu 1: Văn bản bàn về vẻ đẹp của mùa gặt ở nông thôn miền Bắc việt nam, đồng thời khắc họa cảm xúc và tâm tư của người nông dân qua các giai đoạn của mùa gặt.
Câu 2: Câu nêu luận điểm trong đoạn 3 là "không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm"
Câu 3:a.thành phần biệt lập: "hình như" ( thành phần tình thái)
b.thành phần biệt lập: "ấy", "của một đồng,công nén là đây". (thành phần tình thái và thành phần giải thích)
Câu 4:
Cách trích dẫn: Đoạn (2) trích dẫn trực tiếp các hình ảnh và từ ngữ tiêu biểu từ bài thơ như “phả từ cánh đồng lên”, “cánh cò dẫn gió”, và “liếm ngang chân trời”.
Tác dụng: Việc trích dẫn này làm nổi bật sự sinh động của không gian mùa gặt, đồng thời tăng tính thuyết phục cho luận điểm khi kết hợp phân tích ngôn ngữ giàu hình ảnh của bài thơ.
Câu 5:
Vai trò: Các lí lẽ và bằng chứng trong đoạn (4) làm rõ tính cách “cả nghĩ” của người nông dân. Tâm lý xót xa, lo toan được nhấn mạnh qua các câu thơ trích dẫn như: “Tay nhè nhẹ chút, người ơi” và “Thân rơm rách để hạt lành lúa ơi!”. Những lí lẽ này không chỉ thể hiện chiều sâu trong cảm xúc của người nông dân mà còn làm nổi bật sự gắn bó giữa đời người và đời lúa, qua đó khẳng định sự cần mẫn và ân cần trong lao động.
Câu 6:
Điều yêu thích: Em thích nhất cách tác giả phân tích và bình luận dựa trên các hình ảnh và ngôn từ giàu cảm xúc của bài thơ.
Lý do: Cách phân tích vừa gần gũi, vừa sâu sắc, giúp người đọc hình dung rõ ràng không gian mùa gặt và cảm nhận được cái hồn của bài thơ cũng như tâm hồn của người nông dân Việt Nam. Tác giả còn kết hợp được cả tình cảm chân thành, tạo nên sự lôi cuốn đặc biệt.
Thạch Lam là một cây bút tinh tế của nhóm Tự lực văn đoàn, người luôn hướng ngòi bút về những mảnh đời bình dị với một sự cảm thông sâu sắc. Không cần những tình huống kịch tính hay xung đột nảy lửa, truyện ngắn của ông như một bài thơ trữ tình đượm buồn, len lỏi vào tâm hồn người đọc qua những rung động tinh vi. Đoạn trích trong truyện ngắn "Trở về" là một minh chứng điển hình, nơi Thạch Lam đã phơi bày một cách đau xót sự tha hóa của con người trước bã lợi danh qua cuộc gặp gỡ đầy gượng gạo giữa nhân vật Tâm và người mẹ già.
Mở đầu đoạn trích, không gian làng quê hiện lên với vẻ tĩnh lặng đến nao lòng. Sau sáu năm biền biệt, Tâm trở về căn nhà xưa, nhưng thay vì sự bồi hồi của một đứa con xa quê, chàng lại nhìn mọi thứ với con mắt của một "người lạ". Dưới nhãn quan của Tâm, mái nhà tranh trở nên "sụp thấp hơn", "xơ xác hơn". Cái nhìn ấy không chứa đựng sự thương xót mà là sự xa cách, cho thấy tâm hồn Tâm đã hoàn toàn thuộc về nơi phố thị phồn hoa, không còn chỗ cho những gì mộc mạc, nghèo khó.
Sự đối lập rõ rệt nhất nằm ở hình ảnh người mẹ và đứa con. Người mẹ hiện lên với tất cả sự tần tảo và tình yêu thương vô điều kiện. Bà "già đi nhiều", vẫn mặc bộ áo "cũ kỹ như mấy năm về trước" – hình ảnh gợi lên một đời hy sinh, chắt bóp từng đồng để nuôi con thành tài. Khi thấy con về, bà "ứa nước mắt", "cảm động đến nỗi không nói được". Đó là những giọt nước mắt của sự vỡ òa sau bao ngày mong ngóng. Bà lo lắng khi nghe tin con ốm, bà hỏi han về công việc, về cuộc sống của con với tất cả sự ân cần. Đối với bà, con dù đã làm ông nọ bà kia thì vẫn luôn là đứa con bé bỏng cần được chở che.
Ngược lại với tấm lòng biển trời của mẹ, nhân vật Tâm lại hiện lên với sự lạnh lùng đến tàn nhẫn. Đáp lại những lời yêu thương của mẹ chỉ là những câu trả lời "khó khăn mới mở khỏi miệng được", những cái "nhún vai không trả lời" hay thái độ "dửng dưng không để ý". Tâm coi những câu chuyện làng quê là "nhạt dần", coi sự quan tâm của mẹ là "khó chịu". Sự tha hóa của Tâm đã đạt đến đỉnh điểm khi chàng rút ra "bốn tấm giấy bạc năm đồng" đưa cho mẹ với thái độ "hơi kiêu ngạo". Với Tâm, đồng tiền giờ đây là thước đo duy nhất. Chàng dùng tiền để mua sự thanh thản cho lương tâm, để "trả nợ" công ơn dưỡng dục như một cuộc giao dịch sòng phẳng. Đáng buồn thay, khi thấy mẹ "run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt", Tâm lại "làm như không thấy gì" và vội vàng bước đi vì sợ "vợ đợi". Hành động ấy như một nhát dao cắt đứt sợi dây tình cảm cuối cùng giữa chàng và cội nguồn.
Về nghệ thuật, Thạch Lam đã rất thành công khi sử dụng thủ pháp đối lập giữa hình ảnh và tâm lý. Ngôn ngữ văn xuôi của ông giàu hình ảnh và nhịp điệu, giúp lột tả sâu sắc những biến chuyển tinh tế trong lòng nhân vật. Qua đó, tác giả không chỉ phê phán lối sống bạc bẽo, trọng vật chất mà còn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về đạo làm con: Sự giàu sang sẽ trở nên vô nghĩa nếu con người ta đánh mất đi lòng biết ơn và sự thấu cảm với những người thân yêu nhất.
Đoạn trích "Trở về" khép lại bằng hình ảnh bà cụ nhìn theo con một cách khẩn khoản, để lại trong lòng độc giả một nỗi xót xa khôn nguôi. Tác phẩm nhắc nhở mỗi chúng ta rằng, dù đi xa đến đâu, dù thành đạt thế nào, đừng bao giờ để sự vô tâm làm xơ xác đi tâm hồn mình, bởi "hơi ấm" thực sự của một đời người không nằm ở những tờ giấy bạc, mà nằm ở tình yêu thương chân thành dưới mái nhà xưa.
Câu 1:
Thể thơ: tự do
Câu 2:
Người bộc lộ cảm xúc là nhân vật "tôi".
Cuộc gặp gỡ diễn ra giữa nhân vật "tôi" và người mẹ chủ nhà tốt bụng.
Câu 3:
Biện pháp tu từ: So sánh
Tác dụng: Giúp câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn,tăng sức gợi hình,gợi cảm cho sự diễn đạt.Nhấn mạnh hơi ấm nồng ấm của tình mẫu tử, tình quân dân thiêng liêng, qua đó thể hiện long biết ơn sâu sắc của tác giả đối với tấm lòng nhân hậu của người mẹ nghèo.
Câu 4:
Nhận xét hình ảnh "ổ rơm": Là 1 hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng.Nó vừa là nơi trú chân bình dị, đơn sơ của người lính trong đêm lỡ đường, vừa là biểu tượng cho lòng nhân hậu, sự chở che và hơi ấm của tình mẫu tử, tình quân dân bền chặt.
Câu 5:
Cảm hứng chủ đạo: lòng biết ơn sâu lặng và niềm xúc động chân thành trước tình yêu thương sự chở che của những người mẹ nghèo dành cho người lính trong chiến tranh.
Câu 6:
Cảm hứng chủ đạo là lòng biết ơn sâu nặng và niềm xúc động chân thành trước tình yêu thương, sự chở che của những người mẹ nghèo dành cho người lính trong chiến tranh.
Câu 6. Viết đoạn văn (5 – 7 câu):
Bài thơ "Hơi ấm ổ rơm" là một nốt nhạc cảm động về tình quân dân trong những năm tháng kháng chiến. Qua hình ảnh "ổ rơm" mộc mạc, tác giả đã khắc họa thành công tấm lòng nhân hậu, bao dung của người mẹ dành cho anh bộ đội lỡ đường. Hơi ấm từ những cọng rơm "xơ xác" thực chất chính là hơi ấm nồng nàn của tình người, làm xua tan cái lạnh lẽo của đêm mưa. Việc sử dụng biện pháp so sánh độc đáo đã giúp người đọc cảm nhận được sự trân trọng của nhà thơ đối với những giá trị bình dị của quê hương. Qua đó, em càng thêm hiểu và biết ơn những con người thầm lặng đã làm nên sức mạnh dân tộc từ chính tình yêu thương chân chất nhất.
Nhắc đến văn học thiếu nhi Việt Nam, không thể không nhắc đến nhà văn Tô Hoài và tác phẩm kinh điển "Dế Mèn phiêu lưu ký". Tác phẩm không chỉ mở ra một thế giới loài vật sinh động, đầy màu sắc mà còn khắc họa thành công hình tượng nhân vật Dế Mèn – một chú dế thanh niên cường tráng, thông minh nhưng cũng không ít nông nổi. Dế Mèn đã trở thành một người bạn đồng hành thân thiết của bao thế hệ độc giả, và hành trình phiêu lưu của chú không chỉ là những cuộc khám phá thế giới mà còn là một quá trình tự nhận thức và trưởng thành sâu sắc. Ngay từ những trang đầu tiên, Dế Mèn hiện lên với vẻ đẹp ngoại hình đầy sức sống: "Tôi có một đôi càng mẫm bóng, vuốt ở chân cứ nhọn hoắt và cứng cáp. Đôi cánh tôi dài kín xuống tận chấm đuôi, lại thêm một cái áo giáp đen bóng như mực tàu." Những chi tiết miêu tả này không chỉ cho thấy vẻ đẹp khỏe khoắn, cường tráng của một chàng dế thanh niên mà còn ngầm báo hiệu một tính cách mạnh mẽ, tự tin, thậm chí có phần kiêu hãnh. Dế Mèn ý thức rõ sức mạnh của mình và không ngần ngại "ra oai với tất cả bà con trong xóm", thậm chí "quát một tiếng, làm rung cả cỏ khô". Tuy nhiên, sự cường tráng ấy lại đi liền với tính cách kiêu căng, tự phụ và thói quen thích trêu chọc người khác. Dế Mèn tự mãn với vẻ ngoài và sức mạnh của mình, coi thường những người xung quanh, đặc biệt là Dế Choắt – một chàng dế yếu ớt, gầy gò. Thái độ trịch thượng của Dế Mèn thể hiện rõ qua lời kể: "Cái anh chàng Dế Choắt người gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện... Tôi thường trêu cợt anh ta, véo râu anh ta." Sự trêu chọc quá đáng của Dế Mèn đã gây ra một hậu quả vô cùng bi thảm: cái chết oan uổng của Dế Choắt dưới mỏ nhọn của chị Cốc. Chính cái chết thương tâm này đã trở thành một bước ngoặt lớn trong cuộc đời Dế Mèn. Từ một chàng dế kiêu căng, ngạo mạn, Dế Mèn đã phải đối diện với sự hối hận sâu sắc: "Tôi hối hận lắm. Tôi biết rằng mình đã dại dột; chỉ vì một phút nông nổi mà tôi đã gây ra một tội ác tày trời. Tôi tự trách mình không biết bao nhiêu lần." Sự ăn năn muộn màng này đã đánh thức lương tâm và gieo vào lòng Dế Mèn những hạt mầm của sự thay đổi. Hành trình phiêu lưu sau đó của Dế Mèn là một quá trình tự khám phá và trưởng thành đầy gian nan nhưng cũng vô cùng ý nghĩa. Bước ra khỏi cái hang nhỏ bé, Dế Mèn được tiếp xúc với một thế giới rộng lớn, đầy những điều mới lạ và cả những hiểm nguy. Chú đã gặp gỡ những người bạn tốt như Xiến Tóc, Trũi, và cùng họ trải qua những thử thách, chiến đấu chống lại kẻ ác. Qua những trải nghiệm này, Dế Mèn dần học được sự khiêm tốn, lòng tốt bụng, tinh thần đoàn kết và ý thức về lẽ phải. Chú không còn là chàng dế kiêu căng, nông nổi ngày nào mà đã trở thành một người bạn đáng tin cậy, sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn. Nhân vật Dế Mèn không chỉ là một hình tượng sinh động trong thế giới loài vật mà còn mang đến những bài học sâu sắc cho người đọc. Qua những phẩm chất và cả những sai lầm của Dế Mèn, Tô Hoài đã gửi gắm thông điệp về sự cần thiết của lòng khiêm tốn, sự trân trọng đối với người khác và ý nghĩa của việc trưởng thành qua những trải nghiệm trong cuộc sống. Dế Mèn là hình ảnh của tuổi trẻ với những nhiệt huyết, sự bồng bột nhưng cũng đầy tiềm năng để thay đổi và vươn lên. Tóm lại, nhân vật Dế Mèn là một sáng tạo độc đáo và thành công của Tô Hoài. Từ một chàng dế cường tráng nhưng kiêu căng, qua những biến cố và hành trình phiêu lưu, Dế Mèn đã dần trưởng thành, trở thành một biểu tượng đẹp về sự thay đổi và vươn tới những giá trị tốt đẹp. Hình ảnh Dế Mèn vẫn mãi in sâu trong tâm trí độc giả, không chỉ là một nhân vật văn học mà còn là một người bạn, một bài học quý giá về cuộc sống.
Để lại thông điệp sâu sắc : Khiêm nhường trước thiên nhiên, trân trọng sức mạnh tinh thần và ý chí con người.
Tình yêu, theo mahattma Gandhi , là sức mạnh lớn nhất của nhân loại vì nó vượt mọi rào cản, thúc đẩy hành động, chữa lành tinh thần và xây dựng xã hội tốt đẹp.
a, *Nguyên nhân:+, Sự rủ rê , lôi kéo từ bạn bè.
+, Tò mò và muốn thử.
+, Thiếu hiểu biết về tác hại.
+, Ảnh hưởng từ những người xung quanh.
+,...
*Hậu quả :+, Bị kỷ luật trước hội đồng trường gây ảnh hưởng đến hồ sơ học bạ, uy tín cá nhân và cơ sở phát hiện trong tương lai.
+, Ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý.
+, Mất lòng tin từ gia đình, thầy cô gây rạn nứt mối quan hệ.
+, Tạo ra hình ảnh không tốt và khuyến khích những hành vi tương tự ở học sinh khác.
+,...
* "Thuận vợ thuận chồng": Cụm từ này chỉ sự hòa thuận, đồng lòng, thấu hiểu và nhường nhịn giữa vợ và chồng. Đó là sự đồng điệu về ý chí, mục tiêu và cách hành động. Khi vợ chồng có sự đồng thuận, họ sẽ tạo ra một sức mạnh tinh thần to lớn. * "Tát biển Đông cũng cạn": Biển Đông là một vùng biển rộng lớn, bao la. Việc "tát cạn biển Đông" là một nhiệm vụ gần như không thể thực hiện được bằng sức lực của một người. Tuy nhiên, câu tục ngữ sử dụng hình ảnh này để nhấn mạnh rằng, sức mạnh của sự đồng lòng vợ chồng là vô cùng lớn lao, có thể đạt được những điều tưởng chừng như không thể. Như vậy, câu tục ngữ này không chỉ đề cao vai trò của sự hòa thuận trong gia đình mà còn là một lời khẳng định về sức mạnh đoàn kết nói chung. Khi mọi người cùng nhau hướng về một mục tiêu, cùng nhau cố gắng thì không có khó khăn nào là không thể vượt qua. Trong cuộc sống, em thấy có rất nhiều ví dụ minh chứng cho câu tục ngữ này. Những gia đình hạnh phúc, thành công thường là những gia đình mà vợ chồng luôn yêu thương, tin tưởng và hỗ trợ nhau. Họ cùng nhau xây dựng sự nghiệp, nuôi dạy con cái và vượt qua những sóng gió của cuộc đời.
a, X chưa thực hiện đúng quyền và trách nhiệm của mình vì:
+, X đã hiểu sai về quyền tự do riêng tư, có thái độ khó chịu khi bố mẹ khuyên và ngăn cản bạn đi gặp người lạ.
+, Người lạ quen trên mạng có thể là lừa đảo hoặc dễ dẫn đến những hành vi lừa đào, cướp giật...
+, Hành động của bố mẹ bạn X đã thể hiện đúng trách nhiệm của bố mẹ trong việc chăm sóc, quan tâm chỉ bảo con cái.
+, Hành động của bạn X là thiếu tôn trọng cha mẹ, chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của con cái.
b. Nếu là X, em sẽ hẹn bạn vào 1 dịp khác hoặc mời bạn đến nhà chơi khi có cả bố mẹ ở nhà.