Lê Thị Ngọc Thúy
Giới thiệu về bản thân
Ý nghĩa của phát triển kinh tế-xã hội đối với an ninh vùng Tây Nguyên
• tạo nền tảng để và phát triển an ninh quốc phòng
• cải thiện đời sống người dân, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc
• giữ vững ổn định chính trị-xã hội, chống lại các thế lực thù địch
• thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc
Thuận lợi
Đồng bằng có diện tích đất phù sa lớn(khoảng 1,2 triệu ha) , màu mỡ, thích hợp cho trồng lúa và các loại cây trồng khác
Đất đai và diện tích mặt nước rộng, tập trung, cho phát triển kinh tế trang trại và nuôi trồng thủy sản
Khó khăn
Đất phèn và đất mặn chiếm phần lớn lớn tích, gây khó khăn cho việc sử dụng và cải tạo
Mùa khô kéo dài, nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền, làm tăng độ chua và chua mặn trong
Đồng bằng sông cửu long có nhiều diện tích chủ yếu do địa hình thấp giáp biển và ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu làm nước và xâm nhập mặn sâu Vào
1. Đặc điểm phân bố dân cư Hoa Kỳ
- Dân cư phân bố không đều.
- Tập trung đông ở ven biển phía Đông, phía Tây, vùng Hồ Lớn và các đô thị lớn.
- Thưa dân ở miền núi, cao nguyên, vùng nội địa phía Tây và trung tâm.
- Dân cư có xu hướng dịch chuyển về phía Tây và phía Nam.
2. Ảnh hưởng của gia tăng dân số cơ học (nhập cư) đến phát triển kinh tế – xã hội
- Tác động tích cực:
- Bổ sung nguồn lao động trẻ, có trình độ, thúc đẩy sản xuất và đổi mới công nghệ.
- Tăng quy mô thị trường tiêu thụ, góp phần phát triển kinh tế.
- Làm đa dạng văn hóa, nâng cao sức sáng tạo xã hội.
- Tác động tiêu cực:
- Gây áp lực lên việc làm, nhà ở, giao thông và an sinh xã hội.
- Phát sinh một số vấn đề xã hội ở các đô thị lớn.
Hoa Kỳ là nền kinh tế hàng đầu thế giới vì:
- Hoa Kỳ có quy mô GDP lớn nhất thế giới, đóng góp tỉ trọng cao trong nền kinh tế toàn cầu.
- Nền kinh tế phát triển toàn diện, với công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đều rất hiện đại; đặc biệt là dịch vụ chiếm tỉ trọng cao.
- Hoa Kỳ có khoa học – công nghệ tiên tiến, nhiều tập đoàn kinh tế và tài chính hàng đầu thế giới.
- Năng suất lao động cao, nguồn nhân lực chất lượng, hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại.
- Có vai trò chi phối lớn trong thương mại, tài chính quốc tế, đồng USD là đồng tiền thanh toán chủ yếu trên thế giới.
→ Vì vậy, Hoa Kỳ được xem là nền kinh tế hàng đầu thế giới.
• Quy mô GDP: Hoa Kỳ hiện có GDP danh nghĩa lớn nhất thế giới (khoảng 27 nghìn tỉ USD năm 2024, chiếm ~25% kinh tế toàn cầu).
• Công nghiệp – dịch vụ phát triển hàng đầu:
• Công nghiệp: Dẫn đầu về công nghệ cao (hàng không – vũ trụ, máy tính, phần mềm, điện tử, vũ khí, dược phẩm).
• Dịch vụ: Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục, y tế và du lịch đóng vai trò cực kỳ lớn.
• Nông nghiệp hiện đại: Dù chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong GDP nhưng Hoa Kỳ là nước xuất khẩu nông sản hàng đầu (ngô, đậu tương, bông, thịt bò, thịt gà…).
• Thương mại quốc tế: Hoa Kỳ là một trong những trung tâm thương mại lớn nhất, đứng đầu thế giới về nhập khẩu và trong nhóm dẫn đầu về xuất khẩu.
• Đầu tư, khoa học – công nghệ: Các tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu (Apple, Microsoft, Google, Amazon, Tesla…) đều có trụ sở tại Mỹ. Quốc gia này cũng dẫn đầu về nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, có nhiều giải Nobel nhất.
a) Đặc điểm phân bố dân cư
• Mật độ dân số trung bình không cao (~36 người/km²), nhưng phân bố không đều.
• Tập trung đông ở vùng Đông Bắc (Đông Bắc Cận Đại Tây Dương), vùng Hồ Lớn và ven Thái Bình Dương (California).
• Thưa thớt ở miền núi và vùng nội địa (Tây và Trung Tây).
• Các thành phố lớn (New York, Los Angeles, Chicago, Houston…) là trung tâm dân cư, công nghiệp và dịch vụ.
b) Ảnh hưởng của gia tăng dân số cơ học (do nhập cư là chính)
• Bổ sung nguồn lao động dồi dào, nhất là lao động có trình độ cao (khoa học, công nghệ, y tế, giáo dục…).
• Đa dạng văn hoá – xã hội: nhập cư tạo nên một xã hội đa sắc tộc, đa văn hoá, làm giàu bản sắc Mỹ.
• Thúc đẩy kinh tế: di dân trẻ bổ sung lực lượng sản xuất, đóng góp vào đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, tăng năng suất.
• Gây sức ép xã hội: tạo ra các vấn đề về việc làm, an ninh, phân hoá giàu nghèo, cạnh tranh nguồn lực xã hội (y tế, giáo dục, phúc lợi).
Câu1:
1. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã thức tỉnh tinh thần độc lập: Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40-43) chống lại ách đô hộ của nhà Hán, đã duy trì nền độc lập trong 3 năm. Đây là một minh chứng rõ nét cho tinh thần yêu nước và ý chí tự cường của dân tộc Việt Nam. Như các tư liệu lịch sử ghi lại, đây là một cuộc khởi nghĩa do phụ nữ lãnh đạo, đã giành thắng lợi và đi vào lịch sử. Ngay cả sử gia Trung Quốc cũng phải kính nể gọi Hai Bà là “Vương” và ca ngợi sự “hùng dũng” của các bà. Cuộc khởi nghĩa này đã khơi dậy tinh thần yêu nước, bản lĩnh tự chủ, tự cường, không chịu khuất phục ngoại bang. Trong suốt chiều dài lịch sử, cuộc khởi nghĩa luôn được nhắc đến như là điểm tựa tinh thần của lòng yêu nước, đặc biệt là trong những giai đoạn đất nước bị đô hộ hay xâm lược.
2. “Đó là lần đầu tiên trong lịch sử mà người dân Việt Nam đứng lên vì nền độc lập”:
◦ Chúng ta cần xem xét kỹ lưỡng nhận định này. Trước thời Hai Bà Trưng, Việt Nam đã có lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời. Các thư tịch cổ và truyền thuyết dân gian thường nhắc đến Vua Hùng và các thủ lĩnh thời kỳ dựng nước.
◦ Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một cột mốc quan trọng, đánh dấu sự trỗi dậy mạnh mẽ của dân tộc ta chống lại ách đô hộ phương Bắc sau một thời gian dài bị cai trị. Đây là một trong những lần đầu tiên ghi nhận một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn do phụ nữ lãnh đạo, huy động đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và giành được thắng lợi, khôi phục lại nền độc lập dân tộc.
◦ Bác Hồ đã từng nhắc đến tinh thần này trong các tác phẩm của mình, ví dụ như trong bài “Lịch sử nước ta” (năm 1942), Bác đã viết: “Phụ nữ ta chẳng tầm thường / Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời.” hay “Hai Bà Trưng có đại tài / Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian / Ra tay khôi phục giang san / Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.” Điều này cho thấy Bác Hồ đánh giá rất cao vai trò và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa này.
◦ Tuy nhiên, nếu xét về “lần đầu tiên trong lịch sử mà người dân Việt Nam đứng lên vì nền độc lập” thì cần xem xét các giai đoạn trước đó. Lịch sử Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn đấu tranh dựng nước và giữ nước. Tuy nhiên, có thể nói cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một trong những sự kiện tiêu biểu, có ý nghĩa lịch sử to lớn trong việc khẳng định ý chí độc lập và tinh thần dân tộc. Một số nguồn lịch sử có thể ghi nhận các cuộc kháng cự, đấu tranh trước đó, nhưng quy mô và mức độ ảnh hưởng của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là rất đáng kể.
Câu 2: Góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc
Là một học sinh, em có nhiều cách để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, thể hiện tình yêu quê hương đất nước và trách nhiệm của mình:
1. Nâng cao kiến thức:
◦ Tìm hiểu về lịch sử, địa lý, tầm quan trọng của biển đảo Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng của đất nước.
◦ Tìm hiểu về các bằng chứng lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
◦ Theo dõi thông tin chính thống về tình hình biển đảo để có cái nhìn khách quan và đúng đắn.
2. Tuyên truyền và lan tỏa thông tin:
◦ Chia sẻ những kiến thức đã học được với bạn bè, gia đình và cộng đồng thông qua các buổi nói chuyện, viết bài, đăng tải trên mạng xã hội (với thông tin chính xác, có nguồn gốc rõ ràng).
◦ Tham gia các hoạt động ngoại khóa, cuộc thi tìm hiểu về biển đảo do trường học hoặc các tổ chức phát động.
◦ Phê phán những thông tin sai lệch, xuyên tạc về chủ quyền biển đảo Việt Nam trên không gian mạng.
3. Hành động thiết thực:
◦ Tích cực tham gia các phong trào, hoạt động bảo vệ môi trường biển, giữ gìn vệ sinh môi trường nơi em sinh sống, đặc biệt là các khu vực ven biển (nếu có điều kiện).
◦ Thực hiện tốt các quy định của pháp luật về bảo vệ tài nguyên biển, không xả rác bừa bãi.
◦ Học tập tốt, rèn luyện sức khỏe để sau này có thể đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có lĩnh vực biển đảo.
◦ Khi đi du lịch biển, đảo, hãy là một du khách có ý thức, tôn trọng môi trường và các quy định tại địa phương.
4. Thể hiện tinh thần yêu nước và trách nhiệm:
◦ Luôn giữ vững tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo.
◦ Không dao động trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Câu 1
Nguyễn Bính được nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhận xét là nhà thơ “quê mùa” bởi dù sống ở thời đại của những hồn thơ mới nhưng sáng tác của Nguyễn Bính luôn hướng về cảnh, người nhà quê. Bài thơ “Chân quê” được xem như tuyên ngôn về nghệ thuật của ông, cho thấy đặc trưng phong cách và cái tình sâu nặng mà Nguyễn Bính dành cho những giá trị văn hóa truyền thống.
“Chân quê” được sáng tác năm 1936, là một trong những sáng tác nổi bật nhất của Nguyễn Bính. Mở đầu là khung cảnh thân quen của làng quê Việt:
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!
Những bài thơ có điệu nói, kể về một câu chuyện (thường là những đổ vỡ, đợi chờ, ngóng trông) là một đặc trưng của thơ Nguyễn Bính. Ta đã từng đắm mình trong cơn mưa xuân có “Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy”, nhìn theo màu xanh của giàn trầu, cau cho thỏa nỗi “Tương tư”. Đến với “Chân quê”, ta lại lắng nghe tiếng nói của chàng trai với người con gái. Câu chuyện bắt nguồn từ việc “em đi tỉnh về”. Dường như trong những ngày tháng xa nhau, chàng trai đã chất chứa trong lòng biết bao nhớ thương, chờ đợi. Đến ngày cô gái trở về, anh đứng đợi cô nơi con đê đầu làng rất lâu. Hình ảnh những bờ sông, con đê, bến bãi,…luôn gắn liền với những cuộc ra đi hoặc trở về trong ca dao, dân ca. Đó là biểu tượng cho nghĩa tình làng quê, truyền thống quê hương vẫn mãi tồn tại bất biến dù con người có đi xa tới phương nào. Bốn tiếng cuối câu thơ thứ hai “con đê đầu làng” đều là thanh bằng khiến câu thơ như kéo dài ra theo niềm thương nỗi nhớ. Thế rồi, cô gái xuất hiện với một diện mạo mới: “Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng/Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!”. Sự thay đổi của cô gái đã làm biến đổi dòng tâm trạng của nhân vật trữ tình. Từ láy “rộn ràng” ở cuối dòng thơ thứ ba cho thấy sự vui tươi, rạng rỡ của cô, đối lập với trạng thái khổ đau, tan vỡ của chàng trai. Khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuya bấm đều là những món đồ tân thời, khác hẳn với trang phục giản dị ở thôn quê. Chính điều ấy đã làm chàng trai phải thốt lên: “em làm khổ tôi!”. Câu thơ có âm điệu tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày với cách xưng hô “em” - “tôi” tình cảm, duyên dáng.
Câu 2
Kinh tế phát triển như vũ bão, có rất nhiều ngành nghề ra đời và đời sống của con người ngày cũng được khởi sắc. Tuy nhiên chúng ta có thể thấy bên cạnh đó thì có rất nhiều vấn đề lo ngại đó chính là vấn đề về biến đổi khí hậu.
Vậy, đầu tiên chúng ta phải hiểu được biến đổi khí hậu là gì? Ta hiểu đó chính là sự thay đổi của khí hậu diễn ra trong một khoảng thời gian rất dài. Điều này dường như cũng đã tác động đến môi trường sống của nhiều sinh vật sống trên Trái Đất. Sự biến đổi khí hậu này thực sự nó có thể là sự nóng lên của trái đất, hay đó cũng có thể chính là những sự dâng cao mực nước biển do tan băng. Đồng thời thêm một biểu hiện của nó cũng chính là những sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, đồng thời ta dường như cũng thấy được có cả những chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên cũng đã bị biết đổi không theo quy luật tự nhiên như trước kia nữa.
Chúng ta hoàn toàn có thể nhận thấy được rằng chính sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Và một trong những biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, kéo theo đó chính là nước biển dâng cao. Hoặc có thể chính là các hiện tượng thời tiết bất thường có thể kể ra đó chính là các hiện tượng như bão lũ, sóng thần, động đất, và ở đó cũng chính còn là hạn hán và giá rét kéo dài… Tất cả những điều này, dường như cũng đã dẫn đến thiếu lương thực. Nguyên nhân quan trọng nhất để dẫn đến sự biến đổi khí hậu này chính là những tác động của con người. Con người đã có những hành vi xả thải các chất thải, những nhà máy xả nguồn thải nhiễm độc chưa qua xử lý vào môi trường bên ngoài gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến với môi trường. Không chỉ dừng lại ở các hoạt động kinh tế mà nông nghiệp với thuốc trừ sâu liều lượng vượt mức, sử dụng bừa bãi,… đã làm ảnh hưởng đến các sinh vật. Con người còn đã làm ảnh hưởng đến thảm thực vật rất lớn.
Có thể nhận thấy được rằng, chính những sự biến đổi khí hậu đang tác động rộng lớn trên toàn thế giới. Và ta có thể thấy được cũng chính từ vài năm trở lại đây thì tất cả nhân loại phải đứng trước những đe dọa của thiên nhiên, đứng trước những thảm họa của thiên tai và dịch bệnh gây nguy hại cho đời sống con người. Có thể kể ra đó chính là các hiện tượng như băng tan hai cực, sóng thần,… Quả thật ta như thấy được lần lượt các thảm họa thiên tai diễn ra trên diện rộng trên nhiều quốc gia. Không nói đâu xa thì ngay trên dải đất hình chữ S của ta cũng đã xảy ra những sự biến đổi bất thường theo chiều hướng cực đoan của thời tiết. Mùa đông như lạnh hơn và mùa hè nóng lên, không còn sự rõ ràng 4 mùa như trước đây nữa. Con người mỗi chúng ta cũng hãy tự ý thức về những việc mình làm có tác động gì xấu đến tự nhiên hay không. Thực sự thì việc biến đổi khí hậu không phải là trách nhiệm của riêng ai mà nó còn là trách nhiệm và nghĩa vụ của tất cả chúng ta. Hãy chung tay và bảo vệ trái đất và bảo vệ chính chúng ta.
Có thế nói được rằng, đây cũng chính là một trong những hiện tượng phổ biến trong thời gian qua. Theo như con số thống kê, số cơn bão trên biển Đông ảnh hưởng đến nước ta với cường độ như cũng rất mạnh có chiều hướng tăng lên, mùa bão kết thúc muộn. Tất cả như không theo những quy luật ổn định như trước đây nữa mà nó biết đổi không theo một quy luật nào càng khiến cho con người chúng ta có nhiều những bất lợi về sức khỏe cũng như đời sống kinh tế đặc biệt là trồng trọt – ngành mà phụ thuộc rất lớn về thời tiết.
Dễ nhận thấy được những sự biến đổi khí hậu còn gây nên tình trạng lũ lụt, thiên tai… Tất cả những điều này dường như cũng đã ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, thiếu nước sinh hoạt hoặc ô nhiễm nguồn nước. Lúc này đây thì chính kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Không những vậy thì lại còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nông dân
Có rất nhiều nguyên nhân để dẫn đến tình trạng biến đổi khí hậu mà chúng ta có thể nhận thấy được. Đó chính là do những sự tác động của con người vào chính tự nhiên được coi là nguyên nhân chính gây ra sự biến đổi này
Mỗi người chúng ta cũng nên cần phải thật chủ động nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Chúng ta cũng nên kêu gọi sự chung tay góp sức của cộng đồng quốc tế để có thể đứng ra cứu thế giới và cứu chính chúng ta. Các hoạt động như “giờ trái đất” như cũng là một hoạt động hay để giúp cho trái đất phần nào giảm thiểu được những sự biến đổi khí hậu.
Mỗi người hãy có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường, chúng ta cũng nên hãy tham gia và tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường. Thực sự ta như thấy được có những hoạt động tình nguyện của các cá nhân, tập thể thực sự có ý nghĩa rất là thiết thực và góp phần phát triển cộng đồng bền vững
*Đặc điểm:
+ Là nước đông dân, năm 2020 là 126,2 triệu người, tỉ lệ gia tăng dân số thấp và có xu hướng giảm.
+ Cơ cấu dân số già, số dân ở nhóm 0-14 tuổi chiếm 12% dân số, số dân ở nhóm từ 65 tuổi trở lên chiếm 29% dân số; tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới (84 tuổi năm 2020).
+ Mật độ dân số trung bình khoảng 228 người/km2, phân bố dân cư không đều.
+ Tỉ lệ dân thành thị cao và tăng nhanh, nhiều đô thị nối với nhau tạo thành dải đô thị như Ô-xa-ca, Kô-bê, Tô-ky-ô,…
+ Có các dân tộc: Ya-ma-tô (98% dân số) và Riu-kiu, Ai-nu. Tôn giáo chính là đạo Shin-tô và đạo Phật.
*Phân tích ảnh hưởng
- Số dân đông tạo cho Nhật Bản có một thị trường tiêu thụ nội địa mạnh.
- Cơ cấu dân số già gây ra sự thiếu hụt về lực lượng lao động trong tương lai, tạo ra sức ép lên hệ thống phúc lợi xã hội và giảm khả năng cạnh tranh kinh tế của Nhật Bản.
- Dân cư tập trung với mật độ cao ở các vùng đô thị cũng nảy sinh các vấn đề về nhà ở, việc làm..
*Đặc điểm:
+ Là nước đông dân, năm 2020 là 126,2 triệu người, tỉ lệ gia tăng dân số thấp và có xu hướng giảm.
+ Cơ cấu dân số già, số dân ở nhóm 0-14 tuổi chiếm 12% dân số, số dân ở nhóm từ 65 tuổi trở lên chiếm 29% dân số; tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới (84 tuổi năm 2020).
+ Mật độ dân số trung bình khoảng 228 người/km2, phân bố dân cư không đều.
+ Tỉ lệ dân thành thị cao và tăng nhanh, nhiều đô thị nối với nhau tạo thành dải đô thị như Ô-xa-ca, Kô-bê, Tô-ky-ô,…
+ Có các dân tộc: Ya-ma-tô (98% dân số) và Riu-kiu, Ai-nu. Tôn giáo chính là đạo Shin-tô và đạo Phật.
*Phân tích ảnh hưởng
- Số dân đông tạo cho Nhật Bản có một thị trường tiêu thụ nội địa mạnh.
- Cơ cấu dân số già gây ra sự thiếu hụt về lực lượng lao động trong tương lai, tạo ra sức ép lên hệ thống phúc lợi xã hội và giảm khả năng cạnh tranh kinh tế của Nhật Bản.
- Dân cư tập trung với mật độ cao ở các vùng đô thị cũng nảy sinh các vấn đề về nhà ở, việc làm..