Dương Thùy Ngân
Giới thiệu về bản thân
tru6tyhhj
Theo Darwin, trong quần thể hươu ban đầu luôn tồn tại các biến dị cá thể về chiều dài cổ (cổ ngắn, cổ dài).
Khi môi trường sống thay đổi, nguồn thức ăn ở mặt đất khan hiếm, những cá thể hươu cổ dài có lợi thế hơn trong việc lấy thức ăn trên cao.
Thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên, các cá thể hươu cổ dài sống sót, sinh sản và truyền lại đặc điểm cổ dài cho thế hệ sau.
Ngược lại, những cá thể hươu cổ ngắn gặp khó khăn trong việc kiếm ăn, dần bị đào thải.
Qua hàng loạt thế hệ, đặc điểm cổ dài được tích lũy và trở nên phổ biến, hình thành nên loài hươu cao cổ ngày nay.
Nhóm gene liên kết là tập hợp các gene cùng nằm trên một nhiễm sắc thể và có xu hướng di truyền cùng nhau. Morgan chọn ruồi giấm làm đối tượng nghiên cứu vì nhiều lý do thuận lợi cho thí nghiệm di truyền.
Ruồi giấm dễ nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Chúng sinh sản nhanh, đẻ nhiều, vòng đời ngắn (khoảng 10-14 ngày cho một thế hệ).
Có nhiều biến dị dễ quan sát, và bộ nhiễm sắc thể ít (2n = 8).
Dễ phân biệt giới tính đực/cái
Đột biến gene được xem là nguồn nguyên liệu chính cho quá trình tiến hóa vì những lý do sau:
Đột biến gene làm xuất hiện các alen mới, cung cấp nguồn nguyên liệu sơ cấp, tạo nên sự đa dạng di truyền trong quần thể.
Tần số đột biến gene phổ biến hơn so với đột biến nhiễm sắc thể.
Đột biến gene thường ít gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức sống và khả năng sinh sản của cơ thể so với đột biến nhiễm sắc thể.
Tế bào thực hiện phân bào
- Nguyên phân: Tế bào sinh dưỡng , tế bào sinh dục sơ khai
-Giảm phâm: tế bào sinh dục chín ( tế bào sinh tinh , sinh trứng )
Kết quả phân bào từ một tế bào mẹ (2n )
-Nguyên Phân: tạo ra 2 tế bào con
-Giam phân : tạo ra 4 tế bào con
Số lượng NST trong tế bào con
-Nguyên phân : bộ NST ( 2n ) giống hệt tế bào mẹ
-Giảm phân: Bộ NST (n ) giảm đi một nửa so với tế bào mẹ
Các tế bào con có bộ NST giống hay khác tế bào mẹ
-Nguyên Phân: giống hệt tế bào mẹ
-Giảm phân: khác tế bào mẹ ( do có sự phân li độc lập và trao đổi chéo NST )
đạo đức sinh học là những quy tắc đến vấn đề đạo đức sinh học trong nghiên cứu và ứng dụng thàh tựu của sinh học vào thực tiễn phù hợp với đạo đức xã hội
Cần quan tâm đặc biệt đến vấn đề đạo đức sinh học trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ di truyền vì:
Công nghệ di truyền can thiệp trực tiếp vào hệ gene của sinh vật, làm thay đổi sự phát triển tự nhiên của chúng.
Sinh vật biến đổi gene có thể gây nguy hiểm cho con người và môi trường.
Nghiên cứu và ứng dụng trên người vi phạm các tiêu chuẩn về đạo đức và nhân quyền.
Nếu không đảm bảo các vấn đề đạo đức, có thể dẫn đến nhiều hệ lụy cho sự ổn định và phát triển của xã hội.
đạo đức sinh học là những quy tắc đến vấn đề đạo đức sinh học trong nghiên cứu và ứng dụng thàh tựu của sinh học vào thực tiễn phù hợp với đạo đức xã hội
Cần quan tâm đặc biệt đến vấn đề đạo đức sinh học trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ di truyền vì:
Công nghệ di truyền can thiệp trực tiếp vào hệ gene của sinh vật, làm thay đổi sự phát triển tự nhiên của chúng.
Sinh vật biến đổi gene có thể gây nguy hiểm cho con người và môi trường.
Nghiên cứu và ứng dụng trên người vi phạm các tiêu chuẩn về đạo đức và nhân quyền.
Nếu không đảm bảo các vấn đề đạo đức, có thể dẫn đến nhiều hệ lụy cho sự ổn định và phát triển của xã hội.
Sâu đục thân, Nấm linh chi, Giun đất có thể sống trong các khu vực rừng hoặc đất ẩm.
Cá đuối, Bạch tuộc có cùng môi trường sống là biển hoặc đại dương.
Dế trũi và Giun đất cùng sống trong đất.
Để hệ sinh thái đầm không bị ô nhiễm nặng hơn cần: Đánh bắt bớt tôm và cá nhỏ hoặc thả thêm vào đầm một số cá dữ (bậc 4) ăn tôm và cá nhỏ nhằm tạo điều kiện cho động vật phù du phát triển mạnh hơn để ăn vi khẩn lam và các loài tảo, ngăn chặn sự phát triển quá mức của tảo và vi khuẩn lam trong đầm. Ngoài ra có thể hạn chế nguồn thức ăn của vi khuẩn lam và tảo bằng cách tháo nước, nạo vét bùn ở đầm để loại bớt các chất gây ô nhiễm.
Quần thể A: Nhóm tuổi sinh sản và sau sinh sản chiếm tỉ lệ cao → quần thể suy giảm.
Quần thể B: Các nhóm tuổi khá cân đối (trước sinh sản hơi cao) → quần thể ổn định.
Quần thể C: Nhóm tuổi trước sinh sản rất cao → quần thể phát triển.
có thể vẽ biểu đồ cột hoặc tháp tuổi cho từng quần thể, theo tỷ lệ phần trăm vừa tính.