ĐẶNG THỊ KIỀU OANH
Giới thiệu về bản thân
2Al2O3 ----> 4Al + 3O2
m( Al2O3) = \(\frac{4*204}{108}\) ~ 7,556 tấn
m(tt) = \(\frac{7,556*100}{95}\) ~ 7,953 tấn
m = \(\frac{7,953*100}{48}\) ~ 16,57 tấn
X là Na2CO3
Y là Na2CO3
1. 2NaCl + 2H20 ---> 2NaOH + H2 + Cl2
2. NaOH + CO2 ---> NaHCO3
3. 2NaHCO3 ---> Na2CO3 + H2O + CO2
4. Na2CO3 + 2HNO3 ---> 2NaNO3 + H2O
Để tinh chế bạn tinh khiết ta sử dụng dung dịch muối bạc dư như AgNO3 để hòa tan các tạp chất kim loại đứng trước bạc trong dãy hoạt động hóa học.
Cách làm cho hỗn hợp bột vào dung dịch AgNO3 dư khuấy đều cho đến khi phản ứng kết thúc sau đó lọc lấy chất rắn không tan chính là bạc tinh khiết.
Pthh:
Al + 3AgNO3 ---> Ag(NO3)3 + 3Ag
Cu + 2AgNO3 ---> Cu(NO2)2 + 2Ag
Liên kết kim loại được hình thành do lực hút tĩnh điện giữa các ion dương kim loại tại các nút mạng tinh thể và các electron tự do di chuyển trong toàn bộ mạng lưới tinh thể đó.
Khối lượng mol NaCl ~ 58,5 g/mol
Khối lượng mol NaOH ~ 40g/mol
m(LT) = \(\frac{80*40}{58,5}\) ~ 54,7 g
m(TT) = 54,7 x 80% ~ 43,76 g
Đề xuất: Gắn các lá kẽm vào phần thân tàu chìm dưới nước biển (phương pháp bảo vệ điện hóa) hoặc sơn chống gỉ bề mặt vỏ tàu. Giải thích: Dùng kẽm: Kẽm là kim loại hoạt động mạnh hơn sắt, nên khi ở trong môi trường nước biển (chất điện ly), kẽm sẽ bị ăn mòn trước, bảo vệ cho lớp thép của vỏ tàu không bị oxi hóa. Sơn: Tạo lớp ngăn cách không cho vỏ thép tiếp xúc trực tiếp với nước biển và oxy, từ đó ngăn chặn quá trình ăn mòn hóa học.
+ Với CuSO4:
Fe + CuSO4 ----> FeSO4 + Cu
+ Với Fe(SO4)3 :
Fe + Fe(SO4)3 ----> 3FeSO4
+ Với AgNO3:
Fe + 2AgNO3 ----> Fe(NO3)3 + Ag
+ Với Pb (NO3)2 :
Fe + Pb(NO3)2 ----> Fe(NO3)2 + Pb
+ Gang là hợp kim của sắt với carbon trong đó hàm lượng carbon chiếm từ 2% đến 5% về khối lượng, ngoài ra còn có một số nguyên tố khác như Si, Mn, S, P,...
+ Thép là hợp kim của sắt, carbon và một số nguyên tố khác trong đó hàm lượng carbon dưới 2% về khối lượng.
Câu 1:
Bảo vệ môi trường là một vấn đề vô cùng quan trọng trong cuộc sống hiện nay. Môi trường không chỉ là nơi con người sinh sống mà còn là nguồn cung cấp không khí, nước và các điều kiện cần thiết để duy trì sự sống. Tuy nhiên, dưới tác động của con người, môi trường đang bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng: rừng bị tàn phá, không khí bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt. Những điều đó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của con người, khiến nhiều người rơi vào trạng thái lo lắng, bất an. Vì vậy, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta. Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức bằng những hành động nhỏ như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Đồng thời, xã hội cũng cần có những biện pháp mạnh mẽ để giảm thiểu ô nhiễm. Chỉ khi con người biết trân trọng và gìn giữ môi trường, chúng ta mới có thể hướng tới một tương lai bền vững.
Câu 2:
Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ thường gắn liền với lối sống thanh cao, hòa mình với thiên nhiên và tránh xa danh lợi. Điều này được thể hiện rõ qua hai bài thơ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến. Tuy cùng viết về cuộc sống ẩn dật, nhưng mỗi tác giả lại có những nét riêng trong cách cảm nhận và thể hiện. Trước hết, ở bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Trãi, hình ảnh người ẩn sĩ hiện lên với một cuộc sống giản dị mà ung dung, tự tại. Những câu thơ như “Một mai, một cuốc, một cần câu” đã gợi ra một cuộc sống lao động bình dị, gần gũi với thiên nhiên. Điệp từ “một” kết hợp với nhịp thơ chậm rãi tạo cảm giác thư thái, nhàn nhã. Nhà thơ chủ động lựa chọn lối sống “ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ”, thể hiện thái độ quay lưng với chốn quan trường đầy bon chen. Cuộc sống ấy tuy đơn sơ nhưng lại chứa đựng niềm vui tinh thần sâu sắc: “Rượu đến cội cây ta sẽ uống / Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Đối với Nguyễn Trãi, danh lợi chỉ là phù du, không đáng để bận tâm. Qua đó, ta thấy một nhân cách cao đẹp, coi trọng tự do và sự thanh thản của tâm hồn. Trong khi đó, bài thơ của Nguyễn Khuyến cũng khắc họa hình ảnh người ẩn sĩ nhưng mang đậm chất trữ tình và tâm trạng hơn. Cảnh thu hiện lên với “trời thu xanh ngắt”, “nước biếc”, “cần trúc lơ phơ”, tạo nên một không gian yên bình, tĩnh lặng. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ đẹp ấy lại là nỗi cô đơn và chút buồn man mác. Nếu Nguyễn Trãi thể hiện sự dứt khoát trong việc rời xa danh lợi, thì Nguyễn Khuyến lại mang tâm trạng hoài niệm, trăn trở. Câu thơ “Một tiếng trên không ngỗng nước nào?” gợi lên cảm giác bâng khuâng, như một nỗi lòng chưa dứt. Hình tượng người ẩn sĩ ở đây không chỉ là người hòa mình với thiên nhiên mà còn là người mang nặng tâm tư về thời cuộc. So sánh hai bài thơ, có thể thấy cả hai tác giả đều gặp nhau ở quan niệm sống: đề cao sự thanh cao, coi nhẹ danh lợi và tìm đến thiên nhiên như một chốn bình yên cho tâm hồn. Tuy nhiên, điểm khác biệt nằm ở sắc thái cảm xúc. Nguyễn Trãi thể hiện sự ung dung, tự tại và chủ động lựa chọn cuộc sống nhàn. Trong khi đó, Nguyễn Khuyến lại gửi gắm nhiều tâm trạng, nỗi niềm sâu kín, thể hiện một cái tôi trữ tình nhạy cảm trước thời cuộc.
Như vậy, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên vừa thống nhất vừa đa dạng. Dù ở góc nhìn nào, đó vẫn là biểu tượng của một lối sống đẹp, hướng con người đến sự giản dị, thanh thản và gần gũi với thiên nhiên. Những giá trị ấy vẫn còn ý nghĩa sâu sắc đối với cuộc sống hiện đại hôm nay.
Câu 1: Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là trạng thái tâm lí đau buồn, lo lắng, thậm chí khủng hoảng của con người trước những mất mát về môi trường (như thiên nhiên bị tàn phá, biến đổi khí hậu), kể cả những mất mát đã xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra trong tương lai
Câu 2:
Bài viết trình bày thông tin theo trình tự: Từ thực trạng chung (biến đổi khí hậu và tác động tâm lí) đến giải thích khái niệm “tiếc thương sinh thái”, đưa dẫn chứng cụ thể (Inuit, nông dân Australia, cháy rừng Amazon…), mở rộng vấn đề (ảnh hưởng tới nhiều đối tượng, đặc biệt là giới trẻ hiện nay).
Câu 3: Tác giả sử dụng các bằng chứng như: + Nghiên cứu khoa học (Cunsolo và Ellis, Caroline Hickman…) + Dẫn chứng thực tế (người Inuit, nông dân Australia, cháy rừng Amazon) + Số liệu khảo sát (tỉ lệ % người trẻ lo lắng về biến đổi khí hậu) + Lời trích dẫn trực tiếp từ người trong cuộc.
Câu 4: Cách tiếp cận của tác giả: Mới mẻ, nhân văn: không chỉ nhìn biến đổi khí hậu ở góc độ tự nhiên mà còn ở tâm lí con người. Khoa học và thuyết phục: kết hợp lí thuyết với dẫn chứng thực tế, số liệu cụ thể. Gần gũi, có sức cảnh tỉnh: giúp người đọc nhận ra tác động sâu sắc của biến đổi khí hậu đến đời sống tinh thần, từ đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
Câu 5:
Thông điệp sâu sắc nhất mà em nhận được từ văn bản là: biến đổi khí hậu không chỉ tàn phá môi trường tự nhiên mà còn gây tổn thương sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người, vì vậy mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường ngay từ hôm nay. Văn bản giúp em nhận ra rằng con người không tách rời khỏi thiên nhiên; khi thiên nhiên bị hủy hoại, con người cũng phải gánh chịu cả về vật chất lẫn tinh thần. Do đó, cần sống có trách nhiệm hơn với môi trường, chung tay hành động để bảo vệ Trái Đất và tương lai của chính mình.