Chu Văn Huy
Giới thiệu về bản thân
Nước Y vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia của WTO vì chỉ ưu đãi cho doanh nghiệp trong nước mà không áp dụng cho doanh nghiệp nước ngoài dù cùng hoạt động tại nước mình
b) Nước M vi phạm nguyên tắc tối huệ quốc vì áp dụng mức thuế khác nhau đối với cùng một loại sản phẩm từ các nước thành viên WTO mà không có lý do chính đáng.
a, việc làm của anh T là vi phạm,việc sau khi có con anh T đã bắt vợ chồng phải nghỉ làm, việc làm này sẽ dẫn tới bất hoà trong gia đình cộng thêm anh còn kiểm soát toàn bộ tài chính trong nhà lâu dần sẽ dẫn tới cãi nhau thậm chí có thể gây ức chế và đánh nhau. Nếu có thể thì anh T chỉ nên khuyên vợ anh ở nhà và chăm con để anh đi làm
b,Ông M vi phạm , vì con nuôi và con đẻ có quyền thừa kế như nhau,ông M cho rằng con nuôi không được hưởng là sai pháp luật. Hậu quả dẫn tới tranh chấp tài sản,di chúc có thể bị vô hiệu
a) Tính năng lượng điện mà bóng đèn tiêu thụ trong 5 giờ
- Công suất của bóng đèn: P = 60\ W = 0{,}06\ kW
- Thời gian sử dụng: t = 5\ h
Năng lượng điện tiêu thụ:
A = P \times t
Thay số:
A = 0{,}06 \times 5 = 0{,}3\ \text{kWh}
Vậy năng lượng điện tiêu thụ trong 5 giờ là:
\boxed{0{,}3\ \text{kWh}}
b) Tính số tiền điện phải trả cho việc sử dụng bóng đèn trong 30 ngày
- Mỗi ngày bật 5 giờ, nên mỗi ngày tiêu thụ:
A_{\text{ngày}} = 0{,}3\ \text{kWh} - Trong 30 ngày:
A_{\text{30 ngày}} = 0{,}3 \times 30 = 9\ \text{kWh} - Giá điện: 3000 đồng/kWh
Vậy tiền điện phải trả:
\text{Tiền điện} = 9 \times 3000 = 27000\ \text{đồng}
Vậy số tiền điện phải trả là:
\boxed{27\ 000\ \text{đồng}}
a) Định nghĩa cường độ dòng điện và công thức:
- Cường độ dòng điện là đại lượng đo bằng điện lượng chuyển qua tiết diện thẳng của vật dẫn trong một đơn vị thời gian.
- Công thức tính:
I = \frac{q}{t}
Trong đó: - I là cường độ dòng điện (A)
- q là điện lượng (Coulomb)
- t là thời gian (giây)
Áp dụng tính điện lượng:
Ta có:
- I = 3\ A
- t = 2\ s
Dùng công thức:
q = I \times t = 3 \times 2 = 6\ C
Vậy điện lượng chuyển qua trong 2 giây là:
\boxed{6\ C}
b) Giải thích vì sao cường độ dòng điện có thể dùng để đánh giá mức độ mạnh yếu của dòng điện trong mạch:
- Cường độ dòng điện càng lớn thì số lượng điện tích chuyển qua tiết diện dây trong một giây càng nhiều, tức là dòng điện mạnh.
- Cường độ dòng điện nhỏ thì ít điện tích chuyển qua hơn, tức là dòng điện yếu.
=> Vì vậy, cường độ dòng điện phản ánh mức độ mạnh yếu của dòng điện.
a) Tính điện dung tương đương của bộ tụ:
- Ghép nối tiếp C_1 và C_2:
\frac{1}{C_{12}} = \frac{1}{C_1} + \frac{1}{C_2} = \frac{1}{4} + \frac{1}{6} = \frac{5}{12}
C_{12} = \frac{12}{5} = 2{,}4\ \mu F - Ghép song song C_{12} với C_3:
C_{\text{tổng}} = C_{12} + C_3 = 2{,}4 + 12 = 14{,}4\ \mu F
Vậy điện dung tương đương của bộ tụ là:
\boxed{14{,}4\ \mu F}
b) Tính điện tích trên mỗi tụ điện:
- Tổng điện tích của bộ tụ:
Q_{\text{tổng}} = C_{\text{tổng}} \times U = 14{,}4\ \mu F \times 24\ V = 345{,}6\ \mu C - Vì C_3 ghép song song nên:
U_3 = U = 24\ V
Q_3 = C_3 \times U = 12\ \mu F \times 24\ V = 288\ \mu C - Điện tích trên nhánh C_1 và C_2 (gọi chung là nhánh C_{12}):
Q_{12} = Q_{\text{tổng}} - Q_3 = 345{,}6 - 288 = 57{,}6\ \mu C - Vì C_1 và C_2 nối tiếp, nên điện tích trên từng tụ là bằng nhau:
Q_1 = Q_2 = Q_{12} = 57{,}6\ \mu C - Hiệu điện thế trên từng tụ:
- Với C_1:
U_1 = \frac{Q_1}{C_1} = \frac{57{,}6}{4} = 14{,}4\ V
Với C_2:
U_2 = \frac{Q_2}{C_2} = \frac{57{,}6}{6} = 9{,}6\ V
Câu 1:
Câu nói "Bí mật của cuộc sống là ngã bảy lần và đứng dậy tám lần" trong tác phẩm
Nhà giả kim của Paulo Coelho là một triết lý sâu sắc về nghị lực và sự kiên trì. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vượt qua khó khăn, thất bại để đạt được thành công.
Cuộc sống vốn dĩ không bằng phẳng, ai cũng sẽ trải qua những vấp ngã, những lần thất bại, những cú ngã đau đớn. Quan trọng không phải là việc ta ngã bao nhiêu lần, mà là ý chí đứng dậy, mạnh mẽ bước tiếp sau mỗi lần vấp ngã ấy.Mỗi lần vấp ngã là một bài học kinh nghiệm quý giá, giúp ta rút ra những bài học, điều chỉnh hướng đi và chuẩn bị tốt hơn cho những thử thách tiếp theo. Sự kiên trì, bền bỉ, ý chí không khuất phục mới là chìa khóa để ta có thể đứng dậy sau mỗi lần ngã.
Chính những lần vấp ngã ấy rèn luyện cho ta bản lĩnh, sự dũng cảm và lòng quyết tâm.
Chỉ khi ta dám đối mặt với thất bại, rút kinh nghiệm từ nó, ta mới có thể trưởng thành và tiến đến gần hơn với mục tiêu của mình.Tuy nhiên, việc đứng dậy không chỉ đơn thuần là hành động thể chất, mà còn là sự nỗ lực về tinh thần. Ta cần có niềm tin vào bản thân, vào khả năng của mình, và quan trọng hơn cả là niềm tin vào tương lai tươi sáng. Sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè cũng là nguồn động lực to lớn giúp ta vượt qua khó khăn. Cuối cùng, "bí mật" của cuộc sống không chỉ là đứng dậy sau mỗi lần ngã, mà còn là việc ta học được gì từ những lần ngã đó, và ta đã mạnh mẽ hơn như thế nào.
Câu 2:
Bài thơ “Bảo kính cảnh giới” của Nguyễn Trãi là một tác phẩm tiêu biểu trong tập “Quốc âm thi tập”, thể hiện sâu sắc tư tưởng nhân sinh, nhân cách và lối sống thanh cao của một bậc hiền triết ẩn sĩ. Qua bài thơ, tác giả gửi gắm lý tưởng sống an nhàn, xa rời danh lợi, đồng thời khẳng định phẩm chất đạo đức và trí tuệ vững vàng của chính mình.
“Rộng khơi ngại vượt bể triều quan,
Lui tới đòi thì miễn phận an.”
Nguyễn Trãi đã thể hiện thái độ dứt khoát với chốn quan trường đầy thị phi, tranh đấu. Từ “ngại vượt” cho thấy sự thờ ơ, không mặn mà với con đường công danh. Ông lựa chọn “miễn phận an” – tức giữ mình trong sự an nhiên, ung dung, không màng danh lợi. Đây không phải là sự chối bỏ trách nhiệm mà là sự lựa chọn tỉnh táo, khi nhận ra thời thế không cho phép người quân tử thực hiện lý tưởng.
“Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,
Quét hiên ngày lệ bóng hoa tan.”
Khung cảnh bình dị, thanh vắng nơi cửa thiền như hòa vào tâm hồn thanh cao của nhà thơ. Những hình ảnh “hương quế”, “bóng hoa” không chỉ gợi tả vẻ đẹp thiên nhiên mà còn ẩn chứa sự tĩnh lặng, trong sáng của cõi lòng.
“Đời dùng người có tài Y, Phó,
Nhà ngặt, ta bền đạo Khổng, Nhan.”
Nguyễn Trãi nhìn nhận mình trong bối cảnh lịch sử và xã hội. Dù tài năng như Y Doãn, Phó Duyệt, nhưng khi thời thế không thuận, ông vẫn giữ vững đạo đức như Khổng Tử, Nhan Hồi – những biểu tượng cho tinh thần học đạo, sống ẩn dật thanh cao.
“Kham hạ hiền xưa toan lẩn được,
Ngâm câu: ‘Danh lợi bất như nhàn.’”
Nguyễn Trãi khẳng định lối sống nhàn tản, không màng danh lợi là lựa chọn của bậc hiền nhân. “Danh lợi bất như nhàn” là triết lý sống xuyên suốt cả đời ông – một nhân sinh quan sâu sắc, thấm đượm tư tưởng Nho – Phật – Lão.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ thuần Việt, hình ảnh giản dị mà giàu tính biểu cảm. Cách kết hợp giữa tâm cảnh và ngoại cảnh đã tạo nên một không gian nghệ thuật đậm chất thiền, gợi cảm giác thanh thoát, tĩnh lặng.
Tóm lại, bài thơ không chỉ là lời tự sự của Nguyễn Trãi mà còn là tuyên ngôn sống của một bậc đại trí. Trong hoàn cảnh bị chèn ép, ông vẫn giữ trọn nhân cách, lý tưởng và lòng yêu nước thầm lặng. Bài thơ vì thế không chỉ mang giá trị văn học mà còn là bài học đạo đức, nhân sinh sâu sắc.
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin.
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính là thuyết minh.
Câu 3. Tác giả không đặt nhan đề, bài báo mượn nhan đề của trang tin đăng tải. Việc này không gây khó hiểu cho người đọc vì nội dung bài báo đã rõ ràng.
Câu 4. Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng là hình ảnh mô phỏng sao Barnard và các hành tinh của nó. Hình ảnh giúp người đọc hình dung cụ thể về phát hiện khoa học, tăng tính hấp dẫn và dễ hiểu cho bài viết.