Đỗ Ngân Thương
Giới thiệu về bản thân
I enjoy living in the city because it offers many conveniences and opportunities.There are plenty of shops,restaurants,and entertainment options,so I rarely feel bored.Public transportation is easy to use which makes travling around the city quick and convenient.I also like meeting people from different backgrounds,which helps me learn new things.However,city life has some drawbacks,such as noise,traffic,and pollution,which can be stressful.Despite these challenges,I think the benefits of city life outwetgh the disadvantages
1.Unless you pay the parking fee,you cannot park here
2.Even though we do not talk much,I still get along with my neighbors
1.They asked me what we should bring to the wood carving demonstration
2.The harder it is to find jobs,the more peopke leave the country
3.He came unable to focus on his homework because he had a headache
Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 – 1914).
1. Tổ chức bộ máy nhà nước
- Sau khi đàn áp xong những cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914). Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, đứng đầu là viên toàn quyền người Pháp.
- Việt Nam bị chia làm 3 xứ với 3 chế độ cai trị khác nhau: Nam Kì (thuộc địa), Trung Kì (bảo hộ), Bắc Kì (nửa bảo hộ). Xứ và các tỉnh đều do viên quan người Pháp cai trị. Mỗi xứ gồm nhiều tỉnh, đứng đầu xứ và tỉnh là những viên quan người Pháp. Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu. Đơn vị hành chính cơ sở vẫn là làng xã do các chức dịch địa phương cai quản. Bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương đều do Pháp chi phối.
*Nhận xét:
- Chính sách của Pháp trong việc tổ chức bộ máy nhà nước vô cùng chặt chẽ, với tay xuống tận nông thôn.
- Kết hợp giữa thực dân và phong kiến cai trị.
2. Chính sách kinh tế
- Nông nghiệp:
+ Đẩy mạnh cướp đoạt ruộng đất. Ở Bắc Kì đến năm 1902, có tới 182.000 hécta ruộng đất bị Pháp chiếm.
+ Phát canh thu đô
- Công nghiệp: khai thác mỏ than và kim loại để xuất khẩu, đầu tư công nghiệp nhẹ như: sản xuất xi măng, gạch ngói, xay xát gạo, giấy, diêm,...
- Giao thông vận tải: xây dựng hệ thống đường giao thông để tăng cường bóc lột và đàn áp
- Thương nghiệp: độc chiếm thị trường Việt Nam, vì vậy chúng ưu tiên cho hàng hóa Pháp, đánh thuế nặng hàng hóa các nước khác nhập vào Việt Nam. Hàng hóa của Việt Nam chủ yếu chỉ xuất sang Pháp.
- Trong khi đó, Pháp lại tăng thêm các loại thuế, thuế mới chồng thuế cũ, đặc biệt là thuế rượu, muối, thuốc phiện.
=> Kinh tế Việt Nam vẫn là nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phụ thuộc, đời sống nhân dân khốn cùng.
3. Chính sách văn hoá, giáo dục
- Duy trì nền giáo dục phong kiến.
- Mở một số trường học và cơ sở y tế, văn hoá, đưa tiếng Pháp vào chương trình học bắt buộc ở bậc Trung học.
= > Những chính sách của thực dân Pháp đã tạo ra tầng lớp tay sai, kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt.
a)Vùng biển của nước ta bao gồm: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
-Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với đất liền, ở phía trong đường cơ sở. Ngày 12 - 11 - 1982, Chính phủ nước ta đã ra tuyên bố quy định đường cơ sở ven bờ để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Vùng nội thuỷ cũng được xem như bộ phận lãnh thổ trên đất liền.
-Lãnh hải là vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia trên biển. Lãnh hải Việt Nam có chiều rộng 12 hải lí (1 hải lí - 1852m). Ranh giới của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển.
-Vùng liếp giáp lãnh hải là vùng biển được quy định nhằm đảm bảo cho việc thực hiện chủ quyền của nước ven biển. Vùng tiếp giáp lãnh hải nước ta rộng 12 hải lí. Trong vùng này, Nhà nước ta có quyền thực hiện các biện pháp để bảo vệ an ninh quốc phòng, kiểm soát thuế quan, các quy định về y tế, môi trường, nhập cư,..
-Vùng đặc quyền kinh tế là vùng tiếp liền với lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng 200 hải lí tính từ đường cơ sở. Ở vùng này, Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về kinh tế nhưng các nước khác được đặt ống dẫn dầu, dây cáp ngầm và tàu thuyền, máy bay nước ngoài được tự do về hoạt động hàng hải và hàng không theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
-Thềm lục địa là phần ngầm dưới đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần lục địa kéo dài, mở rộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, có độ sâu khoảng 200m hoặc hơn nữa. Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lí các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam.
Như vậy, theo quan niệm mới về chủ quyền quốc gia thì vùng biển Việt Nam có diện tích khoảng 1 triệu km2km2 ở Biển Đông.
b)Phát triển tổng hợp kinh tế biển có ý nghĩa:
- Đối với nền kinh tế:
+ Hoạt động kinh tế biển rất đa dạng: đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản, khai thác khoáng sản biển - đảo, giao thông vận tải biển, du lịch biển - đảo. Chỉ có khai thác tổng hợp mới đem lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường.
+ Đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.
+ Thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế khác như công nghiệp, thương mại...
+ Tăng nguồn thu ngoại tệ để thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước: từ xuất khẩu thủy sản, khoáng sản, từ hoạt động du lịch, dịch vụ vận tải biển ....
+ Thu hút đầu tư nước, đẩy mạnh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
- Đối với việc bảo vệ an ninh quốc phòng:
+ Khẳng định chủ quyền lãnh thổ biển - đảo của nước ta.
+ Có điều kiện bảo vệ an ninh quốc phòng biển -đảo tốt hơn.
Vai trò của cảm biến trong mạch điện điều khiển:
Cảm biến có vai trò thu thập thông tin từ môi trường (như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, chuyển động...) và chuyển đổi chúng thành tín hiệu điện để đưa vào mạch điều khiển. Nhờ đó, hệ thống có thể tự động phản ứng hoặc điều chỉnh hoạt động phù hợp với điều kiện thực tế.
Một số loại cảm biến thường gặp :
- Cảm biến nhiệt độ (như LM35, DHT11)
- Cảm biến ánh sáng (LDR – Light Dependent Resistor)
- Cảm biến hồng ngoại (IR sensor)
- Cảm biến siêu âm (dùng đo khoảng cách)
- Cảm biến chuyển động (PIR sensor)
- Cảm biến độ ẩm (DHT11, DHT22)
- Cảm biến khí gas (MQ series)
- Các bước của quy trình thiết kế kĩ thuật:
+ Bước 1: Xác định yêu cầu sản phẩm
+ Bước 2: Tìm thông tin, đề xuất lựa chọn
+ Bước 3: Thiết kế sản phẩm
+ Bước 4: Kiểm tra, đánh giá
+ Bước 5: Lập hồ sơ kĩ thuật
a)7x+2=0
7x=-2
x=-2/7
b)18-5x=7+3x
5x+3x=18-7
8x=11
x=11/8
Vậy phương trình trên có nghiệm x=11/8
Dựa trên các loài sinh vật đã nêu, ta có thể phân nhóm theo môi trường sống chung như sau:
1. Môi trường đất:
- Sâu đục thân: Sinh sống trong đất, gây hại cho cây trồng bằng cách đào hầm trong thân cây.
- Giun đất: Sống trong đất, đóng vai trò quan trọng trong việc phân hủy chất hữu cơ và cải thiện cấu trúc đất.
- Dế trũi: Là loài côn trùng sống dưới đất, thường gây hại cho cây trồng bằng cách ăn rễ.
2. Môi trường nước:
- Cá đuối: Sống chủ yếu ở các vùng nước mặn hoặc nước lợ, đặc biệt là trong các đại dương.
- Bạch tuộc: Sống dưới đáy biển, trong các môi trường nước mặn.
3. Môi trường trên cạn (đặc biệt là môi trường rừng và đồng cỏ):
- Nấm linh chi: Thường mọc trên gỗ mục trong rừng, thuộc nhóm nấm sống trên cạn.
- Xương rồng: Là loài thực vật sống ở môi trường khô cằn, thường thấy ở sa mạc hoặc vùng đất khô hạn.
- Hươu cao cổ: Là động vật sống trên cạn, chủ yếu ở các đồng cỏ và savan châu Phi.
- Chim bồ câu: Sinh sống trên cạn, thường thấy ở các khu đô thị, nông thôn và môi trường tự nhiên.
4. Môi trường đường ruột của động vật:
- Vi khuẩn E. coli: Là vi khuẩn thường sống trong đường ruột của động vật có vú, bao gồm cả con người.
Như vậy, các loài sinh vật có cùng môi trường sống được phân nhóm như trên, dựa trên đặc điểm sinh thái và nơi cư trú của chúng.
Để ngăn ngừa ô nhiễm và duy trì sự cân bằng sinh thái trong đầm nước nuôi cá, cần thực hiện các biện pháp sau:
- Giảm nguồn dinh dưỡng vào đầm:
- Ngừng cung cấp phân bón hữu cơ: Dừng ngay việc đưa phân chuồng (như phân vịt, phân lợn, phân gà) xuống ao
- Kiểm soát thức ăn cho cá: Giảm 50% lượng thức ăn cung cấp cho cá, theo dõi và điều chỉnh để tránh dư thừa gây ô nhiễm
- Thay nước và cải thiện chất lượng nước:
- Thay nước định kỳ: Thay 30-40% lượng nước trong ao bằng cách rút nước đáy và bổ sung nước sạch, thực hiện liên tục trong 2-3 ngày.
- Tăng cường oxy hòa tan: Sử dụng quạt khí hoặc máy sục khí để cung cấp oxy, hỗ trợ vi sinh vật phân hủy chất hữu cơ và giảm khí độc
- Sử dụng chế phẩm sinh học:
- Ủ phân hữu cơ trước khi bón: Giảm quá trình phân giải gây ô nhiễm bằng cách ủ kỹ phân trước khi bón xuống ao.
- Sử dụng chế phẩm sinh học xử lý nước: Các chế phẩm chứa Bacillus, Lactopacillus giúp phân hủy chất hữu cơ, giảm khí độc và cải thiện chất lượng nước.
- Quản lý mật độ nuôi và môi trường:
- Điều chỉnh mật độ nuôi: Duy trì mật độ nuôi hợp lý để tránh quá tải, giảm tích tụ chất thải và ô nhiễm.
- Duy trì độ trong của nước: Giữ độ trong nước ao từ 25-40 cm, theo dõi và điều chỉnh màu nước để ngăn tảo phát triển quá mức.
Thực hiện đồng bộ các biện pháp trên sẽ giúp cải thiện chất lượng nước, ngăn ngừa ô nhiễm và duy trì sự cân bằng sinh thái trong đầm nước nuôi cá.