Trần Hải Yến

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Hải Yến
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1 : văn bản trên thuộc kiểu văn bản nghị luận
câu 2 : Vấn đề là thái độ sử dụng chữ ngước ngoài trong đời sống và sự tự trọng ngôn ngữ dân tộc
câu 3 : Để làm rõ quan điểm của mình, tác giả đã nêu ra những so sánh cụ thể giữa Hàn Quốc và Việt Nam. Ở Hàn Quốc, chữ viết tiếng Hàn luôn được đặt ở vị trí nổi bật, còn chữ nước ngoài chỉ mang tính phụ trợ. Trong khi đó, ở một số nơi của Việt Nam, chữ nước ngoài lại được sử dụng tràn lan, thậm chí có trường hợp còn lớn hơn chữ Việt trên biển hiệu. Ngoài ra, tác giả còn dẫn chứng từ báo chí, khi nhiều tờ báo ở Việt Nam thêm phần tóm tắt bằng tiếng nước ngoài không thật sự cần thiết.
câu 4 :Một thông tin mang tính khách quan là việc ở Hàn Quốc, quảng cáo không được đặt ở công sở, hội trường lớn và danh lam thắng cảnh.

Còn ý kiến mang tính chủ quan của tác giả thể hiện ở câu hỏi suy ngẫm: “Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm.” Đây là nhận xét và quan điểm riêng của người viết.
câu 5 : Cách lập luận của tác giả khá chặt chẽ và thuyết phục. Người viết đã sử dụng phương pháp so sánh giữa hai quốc gia để làm nổi bật vấn đề, đồng thời kết hợp lí lẽ và dẫn chứng thực tế trong đời sống. Giọng văn vừa khách quan vừa giàu suy ngẫm, giúp người đọc dễ hiểu và tự rút ra bài học về việc giữ gìn bản sắc ngôn ngữ dân tộc.

Đoạn trích trong “Chinh phụ ngâm” đã diễn tả sâu sắc nỗi cô đơn, buồn tủi và khắc khoải của người chinh phụ trong những đêm dài mong nhớ chồng nơi biên ải. Không gian “hiên vắng”, “rèm thưa”, “đèn khuya” cùng tiếng “gà eo óc gáy sương năm trống” gợi lên sự tĩnh mịch, lạnh lẽo, khiến nỗi cô đơn càng thấm thía hơn. Từng hành động “dạo hiên vắng”, “ngồi rèm thưa”, “đốt hương”, “soi gương”, “gảy đàn” đều là những cử chỉ quen thuộc của người phụ nữ, nhưng ở đây lại trở nên gượng gạo, vô nghĩa vì lòng đang ngập tràn thương nhớ. Nhà thơ đã dùng nhiều hình ảnh ẩn dụ tinh tế như “đèn biết chăng”, “hoa đèn kia với bóng người khá thương” để nhân hóa cảnh vật, khiến chúng như biết chia sẻ nỗi niềm cùng con người. Những từ láy “đằng đẳng”, “dằng dặc” cùng cách so sánh “tựa miền biển xa” diễn tả thời gian kéo dài lê thê và nỗi sầu vô hạn. Về nghệ thuật, đoạn thơ sử dụng thể song thất lục bát uyển chuyển, ngôn ngữ trang nhã, giàu tính biểu cảm, hình ảnh thơ tinh tế mà thấm đẫm nỗi buồn nhân thế. Qua đó, đoạn trích thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả, cảm thương cho số phận người phụ nữ cô đơn, khao khát tình yêu và hạnh phúc trong cảnh chiến tranh chia lìa.

AH = 4

HB ≈ 2,13

HC ≈ 4,6

AC≈ 6,1

AH = 4

HB ≈ 2,13

HC ≈ 4,6

AC≈ 6,1

Góc C ≈ 41°

Góc A ≈ 79°

AC ≈ 4

Góc C ≈ 41°

Góc A ≈ 79°

AC ≈ 4

Góc C ≈ 41°

Góc A ≈ 79°

AC ≈ 4

Góc C ≈ 41°

Góc A ≈ 79°

AC ≈ 4

Góc C ≈ 41°

Góc A ≈ 79°

AC ≈ 4

Góc C ≈ 32°

Góc A ≈ 78°

BC≈3,9