Nguyễn Thị Ánh Dương
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Văn bản trên bàn về vấn đề gì? Văn bản bàn về vẻ đẹp của mùa gặt ở nông thôn miền Bắc Việt Nam, đồng thời khắc họa cảm xúc và tâm tư của người nông dân qua các giai đoạn của mùa gặt như gặt lúa, tuốt lúa, phơi khô, và quạt sạch.
Câu 2: Xác định câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3). Câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3) là: “Không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm.”
Câu 3: Xác định thành phần biệt lập trong các câu sau: a. Thành phần biệt lập: “hình như” (thành phần tình thái). b. Thành phần biệt lập: “ấy”, “của một đồng, công một nén là đây” (thành phần tình thái và thành phần giải thích).
Câu 4: Đoạn (2) sử dụng những cách trích dẫn bằng chứng nào? Tác dụng của việc dùng cách trích dẫn ấy là gì?
- Cách trích dẫn: Đoạn (2) trích dẫn trực tiếp các hình ảnh và từ ngữ tiêu biểu từ bài thơ như “phả từ cánh đồng lên”, “cánh cò dẫn gió”, và “liếm ngang chân trời”.
- Tác dụng: Việc trích dẫn này làm nổi bật sự sinh động của không gian mùa gặt, đồng thời tăng tính thuyết phục cho luận điểm khi kết hợp phân tích ngôn ngữ giàu hình ảnh của bài thơ.
Câu 5: Các lí lẽ và bằng chứng được dùng trong đoạn (4) có vai trò như thế nào trong việc thể hiện luận điểm của đoạn văn này?
- Vai trò: Các lí lẽ và bằng chứng trong đoạn (4) làm rõ tính cách “cả nghĩ” của người nông dân. Tâm lý xót xa, lo toan được nhấn mạnh qua các câu thơ trích dẫn như: “Tay nhè nhẹ chút, người ơi” và “Thân rơm rách để hạt lành lúa ơi!”. Những lí lẽ này không chỉ thể hiện chiều sâu trong cảm xúc của người nông dân mà còn làm nổi bật sự gắn bó giữa đời người và đời lúa, qua đó khẳng định sự cần mẫn và ân cần trong lao động.
Câu 6: Em thích nhất điều gì trong nghệ thuật nghị luận của tác giả? Vì sao?
- Điều yêu thích: Em thích nhất cách tác giả phân tích và bình luận dựa trên các hình ảnh và ngôn từ giàu cảm xúc của bài thơ.
- Lý do: Cách phân tích vừa gần gũi, vừa sâu sắc, giúp người đọc hình dung rõ ràng không gian mùa gặt và cảm nhận được cái hồn của bài thơ cũng như tâm hồn của người nông dân Việt Nam. Tác giả còn kết hợp được cả tình cảm chân thành, tạo nên sự lôi cuốn đặc biệt.
DT Đinh Thảo Ngân 18 tháng 3 2025
Cô
Vietnam frequently suffers from various natural disasters, with floods being one of the most common, especially in the central and Mekong Delta regions. These floods are often caused by heavy monsoon rains and typhoons during the rainy season, typically from September to November. When rivers overflow their banks, large areas become submerged, leading to significant damage to infrastructure, agriculture, and homes. Many people are displaced, and the clean-up process often takes a long time. To cope, local authorities and residents have implemented better early warning systems and built stronger dykes, but the threat remains a serious annual challenge for millions of Vietnamese people.
1)He asked the villagers how often earthquakes occurred in that region.
2)They told me that I could find a wide range of beauty products in their store.
1)I think robots can’t replace the role of teachers in education
2)People will still send letters to each other in 2050.
Having a translation machine offers numerous significant benefits in our increasingly connected world. The primary advantage is breaking down language barriers instantly. Whether traveling abroad or conducting international business, these devices allow for seamless, real-time communication, eliminating misunderstandings. Furthermore, translation machines improve access to global information, enabling users to read foreign news, academic papers, or literature without needing fluency in the source language. They serve as excellent learning aids, helping language learners grasp new vocabulary and sentence structures quickly. In essence, a translation machine fosters global understanding, promotes cultural exchange, and greatly enhances efficiency in cross-cultural interactions.
1)The boys said that they were picking up litter on the beach then.
2)Before Lucas arrives at the restaurant, we will not order our meals.
1)You should listen to the instructions of the local authorities during a flood.
2)Mars is one of the most promising planets for life in the solar system.
Ý thơ "Ta hoá phù sa mỗi bến chờ" thể hiện sự cống hiến, hy sinh âm thầm nhưng bền bỉ của con người Việt Nam dành cho quê hương, tương tự như phù sa vun đắp cho đất. Hình ảnh này biểu tượng cho tình yêu thương, nuôi dưỡng tình cảm (bến chờ) và đạo lý "uống nước nhớ nguồn," thể hiện tấm lòng gắn bó, sẵn sàng hoá thân vào đất mẹ.
Câu 1
Trong đời sống hiện đại, hiện tượng vô cảm đang ngày càng trở nên đáng lo ngại. Vô cảm là thái độ thờ ơ trước nỗi đau, sự bất hạnh hay khó khăn của người khác – một lối sống lạnh lùng khiến tình người bị bào mòn. Không khó để bắt gặp những hình ảnh khiến ta phải suy nghĩ: người chứng kiến tai nạn nhưng quay đi, học sinh thấy bạn bị bắt nạt nhưng im lặng, thậm chí ngay trong gia đình, nhiều người cũng không còn dành thời gian lắng nghe, chia sẻ với nhau. Nguyên nhân của vô cảm xuất phát từ áp lực cuộc sống, từ guồng quay bận rộn khiến con người chỉ nghĩ đến bản thân, từ sự xuống cấp trong nhận thức đạo đức và lối sống ích kỉ của một bộ phận không nhỏ trong xã hội. Hậu quả của vô cảm thật nặng nề: nó làm suy giảm tình thương, khiến xã hội trở nên lạnh lẽo và vô trách nhiệm. Vì thế, hơn bao giờ hết, mỗi chúng ta cần sống nhân ái hơn, biết mở lòng, biết quan tâm, biết giúp đỡ người khác bằng những hành động nhỏ nhưng chân thành. Chỉ khi xua tan được sự vô cảm, cuộc sống mới thật sự ấm áp và đầy yêu thương.
Câu 2
“Chợ Đồng” là một trong những bài thơ đặc sắc của Nguyễn Khuyến viết về cảnh sinh hoạt quê hương những ngày cuối năm. Tác phẩm ngắn gọn, dung dị nhưng lại chứa đựng chiều sâu cảm xúc, thể hiện nỗi gắn bó thiết tha của nhà thơ với làng quê Bắc Bộ cùng những phong tục truyền thống quen thuộc đang dần lùi vào quá vãng.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến gợi lại một thời điểm đặc biệt:
“Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?”
Hai câu thơ vang lên như lời hỏi thăm chân tình giữa những người quen cũ. “Tháng chạp hai mươi bốn” không chỉ xác định thời gian mà còn gợi không khí rạo rực, tất bật của ngày giáp Tết – thời điểm người người nhà nhà chuẩn bị cho năm mới. Câu hỏi của nhà thơ mang chút bâng khuâng, thể hiện sự quan tâm đến sự đổi thay của chợ quê, đồng thời gợi lên nỗi nhớ những phiên chợ đông vui ngày xưa.
Hai câu tiếp theo vẽ nên cảnh sắc mùa đông miền Bắc:
“Dở trời, mưa bụi còn hơi rét,
Nếm rượu, tường đền được mấy ông?”
Những hạt mưa bụi lất phất, cái rét đặc trưng cuối năm như phủ lên chợ quê một lớp sương mờ lạnh giá. Nhưng giữa cái lạnh ấy, hình ảnh “mấy ông” ngồi nếm rượu dựa lưng tường đền lại gợi sự ấm áp, gần gũi. Đây là một phong tục đẹp của quê hương tác giả: các bô lão thử rượu để chọn thứ ngon nhất dâng lễ đầu năm. Nguyễn Khuyến nhắc đến phong tục ấy với sự trìu mến và trân trọng, như muốn giữ lại những giá trị cổ truyền đang dần bị thời gian phủ mờ.
Tới hai câu sau, không khí chợ trở nên nhộn nhịp, tấp nập hơn:
“Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.”
Từ “xáo xác” vừa diễn tả âm thanh xôn xao vừa gợi cảm giác bối rối của những ngày cuối năm. Con người hối hả mua bán, tất bật chuyện nợ nần, lo toan cho một năm sắp khép lại. Chỉ bằng vài nét chấm phá, Nguyễn Khuyến đã dựng lên một bức tranh đời sống sinh động, giản dị nhưng rất thật của chợ quê.
Hai câu kết mở ra không khí rộn ràng đón xuân:
“Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.”
Một tiếng pháo vang lên như báo hiệu mùa xuân đã đến rất gần. Dù chỉ là “pháo trúc”, giản dị và mộc mạc, nhưng nó vẫn gợi sự náo nức, háo hức của con người trước thời khắc chuyển mùa. Qua âm thanh ấy, nhà thơ như cảm nhận được hơi ấm của mùa xuân đang lan tỏa, xua đi cái lạnh của những ngày cuối đông. Không khí ấy vừa gợi lòng người vừa làm sáng bừng toàn bài thơ.
“Chợ Đồng” tuy ngắn nhưng chứa đựng vẻ đẹp sâu lắng của đời sống nông thôn. Bài thơ là sự hòa quyện giữa cảnh và tình: cảnh là chợ quê gần gũi, tình là nỗi nhớ, nỗi thương của Nguyễn Khuyến dành cho quê hương. Với ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh giản dị và giọng thơ chân thành, tác phẩm đã khắc họa rõ nét nét đẹp văn hóa truyền thống, đồng thời bộc lộ tâm hồn yêu quê tha thiết của nhà thơ. Đây chính là lí do khiến bài thơ sống mãi trong lòng người đọc.
Câu 1
Văn bản kể về câu chuyện châm biếm thói giả dối của viên quan chỉ biết luồn cúi cấp trên và hách dịch với dân thường.
Câu 2
Từ “hách dịch” có nghĩa là thái độ hống hách, coi thường người khác, tỏ ra quyền uy và thích bắt nạt người yếu thế.
Câu 3
Câu nói của người thợ may thực chất mang ý châm biếm viên quan. Người thợ không thật sự hỏi để may áo cho vừa mà muốn mượn chuyện may áo để chỉ ra bộ mặt hai chiều của ông quan này: khi gặp cấp trên thì khom lưng, nhún nhường; còn khi gặp dân thì hống hách, coi thường. Cách nói khéo léo ấy vừa tế nhị vừa sắc bén, vạch trần sự đạo đức giả của viên quan nhưng vẫn giữ được phép tôn trọng bề ngoài.
Câu 4
Câu chuyện phê phán kiểu người nắm quyền lực nhưng thiếu đạo đức, sống giả tạo, đối xử không công bằng, luôn tìm cách nịnh bợ cấp trên và thô bạo với người dân. Đây là lớp người quan lại tha hóa, làm xấu đi bộ mặt xã hội.
Câu 5
Qua câu chuyện, ta có thể rút ra nhiều thông điệp có giá trị trong cuộc sống. Trước hết, mỗi người cần sống trung thực, thẳng thắn, không nên hành xử hai mặt hay thay đổi thái độ tùy theo địa vị của người khác. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, việc tôn trọng mọi người, đặc biệt là những người yếu thế, là điều cần thiết để giữ gìn nhân phẩm của chính mình. Câu chuyện cũng nhắc nhở rằng quyền lực đi kèm trách nhiệm; người có chức quyền phải biết dùng nó để giúp dân, chứ không được ức hiếp hay lợi dụng. Ngoài ra, chúng ta cần biết phê phán những hành vi giả dối, bất công để xây dựng một xã hội trong sạch và công bằng. Khi mỗi người đều biết cư xử tử tế, cuộc sống sẽ trở nên nhân văn và tốt đẹp hơn.