Nguyễn Thị Ánh Dương
Giới thiệu về bản thân
Ý thơ "Ta hoá phù sa mỗi bến chờ" thể hiện sự cống hiến, hy sinh âm thầm nhưng bền bỉ của con người Việt Nam dành cho quê hương, tương tự như phù sa vun đắp cho đất. Hình ảnh này biểu tượng cho tình yêu thương, nuôi dưỡng tình cảm (bến chờ) và đạo lý "uống nước nhớ nguồn," thể hiện tấm lòng gắn bó, sẵn sàng hoá thân vào đất mẹ.
Câu 1
Trong đời sống hiện đại, hiện tượng vô cảm đang ngày càng trở nên đáng lo ngại. Vô cảm là thái độ thờ ơ trước nỗi đau, sự bất hạnh hay khó khăn của người khác – một lối sống lạnh lùng khiến tình người bị bào mòn. Không khó để bắt gặp những hình ảnh khiến ta phải suy nghĩ: người chứng kiến tai nạn nhưng quay đi, học sinh thấy bạn bị bắt nạt nhưng im lặng, thậm chí ngay trong gia đình, nhiều người cũng không còn dành thời gian lắng nghe, chia sẻ với nhau. Nguyên nhân của vô cảm xuất phát từ áp lực cuộc sống, từ guồng quay bận rộn khiến con người chỉ nghĩ đến bản thân, từ sự xuống cấp trong nhận thức đạo đức và lối sống ích kỉ của một bộ phận không nhỏ trong xã hội. Hậu quả của vô cảm thật nặng nề: nó làm suy giảm tình thương, khiến xã hội trở nên lạnh lẽo và vô trách nhiệm. Vì thế, hơn bao giờ hết, mỗi chúng ta cần sống nhân ái hơn, biết mở lòng, biết quan tâm, biết giúp đỡ người khác bằng những hành động nhỏ nhưng chân thành. Chỉ khi xua tan được sự vô cảm, cuộc sống mới thật sự ấm áp và đầy yêu thương.
Câu 2
“Chợ Đồng” là một trong những bài thơ đặc sắc của Nguyễn Khuyến viết về cảnh sinh hoạt quê hương những ngày cuối năm. Tác phẩm ngắn gọn, dung dị nhưng lại chứa đựng chiều sâu cảm xúc, thể hiện nỗi gắn bó thiết tha của nhà thơ với làng quê Bắc Bộ cùng những phong tục truyền thống quen thuộc đang dần lùi vào quá vãng.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến gợi lại một thời điểm đặc biệt:
“Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?”
Hai câu thơ vang lên như lời hỏi thăm chân tình giữa những người quen cũ. “Tháng chạp hai mươi bốn” không chỉ xác định thời gian mà còn gợi không khí rạo rực, tất bật của ngày giáp Tết – thời điểm người người nhà nhà chuẩn bị cho năm mới. Câu hỏi của nhà thơ mang chút bâng khuâng, thể hiện sự quan tâm đến sự đổi thay của chợ quê, đồng thời gợi lên nỗi nhớ những phiên chợ đông vui ngày xưa.
Hai câu tiếp theo vẽ nên cảnh sắc mùa đông miền Bắc:
“Dở trời, mưa bụi còn hơi rét,
Nếm rượu, tường đền được mấy ông?”
Những hạt mưa bụi lất phất, cái rét đặc trưng cuối năm như phủ lên chợ quê một lớp sương mờ lạnh giá. Nhưng giữa cái lạnh ấy, hình ảnh “mấy ông” ngồi nếm rượu dựa lưng tường đền lại gợi sự ấm áp, gần gũi. Đây là một phong tục đẹp của quê hương tác giả: các bô lão thử rượu để chọn thứ ngon nhất dâng lễ đầu năm. Nguyễn Khuyến nhắc đến phong tục ấy với sự trìu mến và trân trọng, như muốn giữ lại những giá trị cổ truyền đang dần bị thời gian phủ mờ.
Tới hai câu sau, không khí chợ trở nên nhộn nhịp, tấp nập hơn:
“Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.”
Từ “xáo xác” vừa diễn tả âm thanh xôn xao vừa gợi cảm giác bối rối của những ngày cuối năm. Con người hối hả mua bán, tất bật chuyện nợ nần, lo toan cho một năm sắp khép lại. Chỉ bằng vài nét chấm phá, Nguyễn Khuyến đã dựng lên một bức tranh đời sống sinh động, giản dị nhưng rất thật của chợ quê.
Hai câu kết mở ra không khí rộn ràng đón xuân:
“Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.”
Một tiếng pháo vang lên như báo hiệu mùa xuân đã đến rất gần. Dù chỉ là “pháo trúc”, giản dị và mộc mạc, nhưng nó vẫn gợi sự náo nức, háo hức của con người trước thời khắc chuyển mùa. Qua âm thanh ấy, nhà thơ như cảm nhận được hơi ấm của mùa xuân đang lan tỏa, xua đi cái lạnh của những ngày cuối đông. Không khí ấy vừa gợi lòng người vừa làm sáng bừng toàn bài thơ.
“Chợ Đồng” tuy ngắn nhưng chứa đựng vẻ đẹp sâu lắng của đời sống nông thôn. Bài thơ là sự hòa quyện giữa cảnh và tình: cảnh là chợ quê gần gũi, tình là nỗi nhớ, nỗi thương của Nguyễn Khuyến dành cho quê hương. Với ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh giản dị và giọng thơ chân thành, tác phẩm đã khắc họa rõ nét nét đẹp văn hóa truyền thống, đồng thời bộc lộ tâm hồn yêu quê tha thiết của nhà thơ. Đây chính là lí do khiến bài thơ sống mãi trong lòng người đọc.
Câu 1
Văn bản kể về câu chuyện châm biếm thói giả dối của viên quan chỉ biết luồn cúi cấp trên và hách dịch với dân thường.
Câu 2
Từ “hách dịch” có nghĩa là thái độ hống hách, coi thường người khác, tỏ ra quyền uy và thích bắt nạt người yếu thế.
Câu 3
Câu nói của người thợ may thực chất mang ý châm biếm viên quan. Người thợ không thật sự hỏi để may áo cho vừa mà muốn mượn chuyện may áo để chỉ ra bộ mặt hai chiều của ông quan này: khi gặp cấp trên thì khom lưng, nhún nhường; còn khi gặp dân thì hống hách, coi thường. Cách nói khéo léo ấy vừa tế nhị vừa sắc bén, vạch trần sự đạo đức giả của viên quan nhưng vẫn giữ được phép tôn trọng bề ngoài.
Câu 4
Câu chuyện phê phán kiểu người nắm quyền lực nhưng thiếu đạo đức, sống giả tạo, đối xử không công bằng, luôn tìm cách nịnh bợ cấp trên và thô bạo với người dân. Đây là lớp người quan lại tha hóa, làm xấu đi bộ mặt xã hội.
Câu 5
Qua câu chuyện, ta có thể rút ra nhiều thông điệp có giá trị trong cuộc sống. Trước hết, mỗi người cần sống trung thực, thẳng thắn, không nên hành xử hai mặt hay thay đổi thái độ tùy theo địa vị của người khác. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, việc tôn trọng mọi người, đặc biệt là những người yếu thế, là điều cần thiết để giữ gìn nhân phẩm của chính mình. Câu chuyện cũng nhắc nhở rằng quyền lực đi kèm trách nhiệm; người có chức quyền phải biết dùng nó để giúp dân, chứ không được ức hiếp hay lợi dụng. Ngoài ra, chúng ta cần biết phê phán những hành vi giả dối, bất công để xây dựng một xã hội trong sạch và công bằng. Khi mỗi người đều biết cư xử tử tế, cuộc sống sẽ trở nên nhân văn và tốt đẹp hơn.
Cuộc sống luôn có mặt phải mặt trái, có người tốt người xấu, cũng như có người sống có trách nhiệm, có người lại vô trách nhiệm. Vô trách nhiệm chính là việc mỗi con người trốn tránh trước lỗi lầm, những hành động chưa đúng của mình, không có ý thức, trách nhiệm trước công việc của bản thân. Vô trách nhiệm là một tính xấu mà mỗi chúng ta cần phải bài trừ. Người vô trách nhiệm thường không quan tâm, mặc kệ những công việc mà bản thân mình được giao, không hoàn thành đúng hạn công việc hoặc chất lượng công việc không được tốt; không dám nhìn nhận thực tế vào những lỗi lầm của mình. Họ cũng là người không biết giữ lời hứa, từ đó vô tình khiến cho lời nói của mình trở nên mất giá trị, ảnh hưởng đến uy tín của bản thân. Người vô trách nhiệm là những người khó có được sự tin tưởng, tín nhiệm từ người khác, ngay cả công việc bản thân cũng không có trách nhiệm hoàn thành thì khó có thể làm được việc lớn, khó có được thành công trong cuộc sống.Vô trách nhiệm là một tính xấu không mang lại lợi ích cho con người, ngược lại nó khiến cuộc sống của chúng ta không phát triển được, chính vì thế, chúng ta cần gạt bỏ thói vô trách nhiệm, sống có trách nhiệm với bản thân, với cuộc sống của mình cũng như có trách nhiệm với xã hội. Bên cạnh đó trong xã hội có nhiều người sống có trách nhiệm với bản thân, luôn nỗ lực vươn lên, sẵn sàng chịu trách nhiệm trước hành vi, lỗi lầm của mình, biết suy nghĩ cho cục diện,… những người này xứng đáng là tấm gương sáng để chúng ta học tập và noi theo. Mỗi chúng ta chỉ được sống một lần, hãy sống và trở thành một người tốt, có trách nhiệm và giúp ích cho xã hội, khiến cho đất nước phát triển bền vững, giàu đẹp.
1. Quê hương - Tế Hanh.
- Xuất xứ: trích trong tập Nghẹn ngào (1919).
2.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
Tình cảm đối với quê hương được Tế Hanh trực tiếp thể hiện qua khổ thơ cuối này, nổi bật hơn cả là nỗi nhớ làng quê khôn nguôi của tác giả. Đó là một nỗi nhớ không hề chung chung mà hết sức cụ thể, sâu sắc.
3. Liệt kê
4.
- Nỗi nhớ độc đáo ở chỗ:
+ Có hình hài “màu nước xanh”, “cá bạc”, “chiếc buồm vôi”.
+ Có hương vị “mùi nồng mặn”, nó đã trở thành một ám ảnh da diết.
5: Phân tích hai câu thơ của Tú Xương
Hai câu thơ: "Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ / Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng" thể hiện tâm trạng đầy bi kịch và sự tự mỉa mai cay đắng của nhà thơ.
• "Ngán cho mình": Chữ "ngán" diễn tả sự chán ngán, mệt mỏi và thất vọng đến mức rệu rã. Tú Xương "ngán" chính bản thân mình vì bao năm đèn sách, đi thi nhiều lần (8 lần) mà kết quả vẫn lận đận, công danh dở dang.
• "Bia xanh, bảng vàng": Đây là những biểu tượng của sự đỗ đạt, thành danh trong chế độ khoa cử xưa (tên được khắc vào bia đá, viết trên bảng vàng).
• Cái "ngược đời" trong câu thơ: Lẽ ra có "bia xanh, bảng vàng" thì phải tự hào, vui sướng. Nhưng ở đây, Tú Xương lại dùng từ "cũng" với giọng điệu mỉa mai. Ông thấy những danh hiệu đó trong thời buổi giao thời (Tây - Tàu hỗn độn) chỉ là hư danh, giả tạo, không còn giá trị thực chất để giúp đời, giúp nước.
6 : Thay vì chạy theo bằng cấp ảo hay "hư danh" như thời của Tú Xương, giới trẻ cần:
• Chủ động tiếp cận khoa học công nghệ, ngoại ngữ để trở thành "công dân toàn cầu".
• Học đi đôi với hành, lấy kiến thức thực tế làm thước đo năng lực thay vì chỉ chăm chăm vào bảng điểm.