Lành Thị Bảo Trâm

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lành Thị Bảo Trâm
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Bà má Hậu Giang là hình tượng tiêu biểu cho người mẹ Nam Bộ trong kháng chiến Pháp. Bà là người nông dân giản dị, giàu tình thương và lòng yêu nước sâu sắc. Khi các chiến sĩ cách mạng về hoạt động, bà hết lòng cưu mang, che chở và coi họ như con ruột. Dù giặc đến đốt phá, bắt bớ, tra tấn, bà vẫn một lòng kiên trung, không hé lộ nơi giấu cán bộ. Hình ảnh người mẹ gan góc, chịu thương chịu khó, thà hi sinh chứ không phản bội tổ quốc khiến người đọc vô cùng xúc động. Qua nhân vật bà má, Tố Hữu đã khắc hoạ phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam: giàu lòng yêu thương, trung kiên, dũng cảm và giàu đức hi sinh. Bà má Hậu Giang trở thành biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước và tình mẹ bao la trong thời chiến.

Câu 2:

Trong bài thơ “Bà má hậu giang” Tố Hữu đã khắc hoạ một hình ảnh người mẹ Nam Bộ kiên trung, giàu tình yêu thương và hết lòng vì cách mạng. Từ hình tượng ấy, ta nhận ra bài học sâu sắc về lòng yêu nước và trách nhiệm của mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ hôm nay. Nếu trong thời chiến, bà má sẵn sàng hi sinh tất cả để bảo vệ tổ quốc, thì trong thời bình, trách nhiệm của thanh niên là phải sống có lý tưởng, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

Thanh niên hôm nay cần trau dồi kiến thức, rèn luyện đạo đức, gìn giữ bản sắc dân tộc, đồng thời biết yêu thương, chia sẻ, giúp đỡ cộng đồng. Bên cạnh đó, thế hệ trẻ phải có ý thức bảo vệ môi trường, tuân thủ pháp luật và tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Mỗi người trẻ cần hiểu rằng sự bình yên hôm nay có được là nhờ công lao to lớn của cha anh đi trước, để từ đó sống xứng đáng, có trách nhiệm với tổ quốc.

Như Bà Má Hậu Giang đã hy sinh cho cách mạng, tuổi trẻ hôm nay cần tiếp nối tinh thần ấy bằng hành động cụ thể: học tập tốt, làm việc sáng tạo và cống hiến hết mình cho đất nước phồn vinh.

Câu 1:

-Văn bản trên được viết theo thể thơ lục bát.

Câu 2:

-Sự việc xảy ra trong văn bản “Bà má Hậu Giang” là: Bài thơ kể về tình cảm sâu nặng, chân thành của bà má Nam Bộ đối với người chiến sĩ cách mạng. Trong bom đạn chiến tranh, bà nuôi giấu, chăm sóc chiến sĩ như con ruột, thể hiện lòng yêu nước, niềm tin vào kháng chiến và tình nghĩa Bắc-Nam thắm thiết.

Câu 3:

Những hành động thể hiện sự độc ác của tên giặc: đạp lên đầu má, bắt má khai nơi giấu cán bộ, hắn giết dân lành.

-Nhận xét về nhân vật tên giặc:

Là hình ảnh tiêu biểu cho bọn thực dân, đế quốc và tay sai phản động trong chiến tranh.

Hắn độc ác, vô nhân tính, tàn nhẫn với cả người già yếu.

Qua đó, Tố Hữu bày tỏ niềm căm phẫn sâu sắc đối với quân thù và lòng thương yêu, trân trọng vô hạn với những người dân Nam Bộ kiên trung như bà má Hậu Giang.

Câu 4:

-Biện pháp tu từ: so sánh

Tác dụng: làm nổi bật phẩm chất gan dạ, anh hùng của người con- những chiến sĩ cách mạng , đồng thời thể hiện niềm tự hào, yêu thương, tin tưởng của bà má đối với con và cách mạng.

Câu 5:

Hình tượng bà má Hậu Giang thể hiện rõ tinh thần yêu nước nồng nàn của nhân dân ta. Dù tuổi đã cao, bà vẫn một lòng trung thành với cách mạng, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ cán bộ và tổ quốc. Bà là biểu tượng cho lòng kiên cường, gan dạ và tình yêu thương con người sâu sắc. Qua hình ảnh ấy, em càng thêm tự hào và biết ơn những người mẹ Việt Nam anh hùng đã góp phần làm nên chiến thắng của dân tộc.


Câu 1:

Trong đoạn trích chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ hiện lên thật đau thương và đáng thương. Nàng là người vợ có chồng ra trận phải sống trong cảnh cô đơn, mong ngóng giữa không gian vắng lặng. Nỗi nhớ thương chồng khiến nàng “trải mấy xuân tin đi tin lại” nhưng tin vẫn “vắng không”. Dù xa cách, nàng vẫn luôn nghĩ đến chồng với tất cả tình yêu thương và lo lắng, “nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng”. Những hành động nhỏ bé ấy thể hiện tấm lòng thuỷ chung, son sắt của người phụ nữ. Nhưng càng thương nhớ, nàng càng cô đơn, chỉ biết tâm sự cùng ngọn đèn vô tri, để rồi “lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”. Nhân vật người chinh phụ là biểu tượng cho biết bao người phụ nữ trong thời chiến, phải chịu đựng cảnh chia ly mất mát. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc với số phận con người và khát vọng hạnh phúc, đoàn tụ trong cuộc sống hoà bình.

Câu 2:

Đọc đoạn trích chinh phụ ngâm, ta bắt gặp hình ảnh người chinh phụ cô đơn ngày ngày ngóng trông chồng nơi biên ải xa xôi. Hình ảnh ấy khiến ta cảm nhận sâu sắc những mất mát và đau thương mà chiến tranh gây ra cho con người, đặc biệt là những người ở hậu phương.

Chiến tranh không chỉ mang đến chết chóc, chia lìa mà còn để lại trong lòng người bao nỗi thương nhớ và cô độc. Người chinh phụ trong tác phẩm không trực tiếp ra trận nhưng lại chịu đựng nỗi đau tinh thần khôn nguôi. Nàng mong mỏi tin chồng “trải mấy xuân tin đi tin lại”, lo lắng cho chồng nơi gió sương giá lạnh, và cuối cùng chỉ biết trò chuyện cùng ngọn đèn đơn côi. Hình ảnh ấy không chỉ là nỗi đau của một người phụ nữ, mà còn là tiếng lòng của biết bao con người thời chiến- những người phải sống trong chia cắt, mất mát và chờ đợi vô vọng. Chiến tranh cướp đi hạnh phúc, tuổi xuân và cả những giấc mơ đoàn tụ giản dị nhất của con người.

Từ nỗi đau ấy, ta càng thấm thía giá trị của cuộc sống hoà bình hôm nay. Nhờ sự hy sinh của cha ông, chúng ta được sống trong độc lập, tự do, không còn cảnh chia ly. Bởi vậy, thế hệ trẻ hôm nay cần biết trân trọng và giữ gìn hoà bình bằng cách sống nhân ái, đoàn kết, tránh xung đột và lan toả yêu thương. Mỗi người cần nỗ lực học tập, rèn luyện đóng góp sức mình để xây dựng đất nước giàu đẹp, để những hy sinh của cha ông không trở nên vô nghĩa.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng âm vang của nó vẫn nhắc nhở chúng ta về giá trị hoà bình. Hiểu được nỗi đau của người chinh phụ, ta càng biết ơn những người đã ngã xuống, và càng thêm trân trọng cuộc sống bình yên, hạnh phúc mà ta đang có hôm nay.


Câu 1:

Trong đoạn trích chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ hiện lên thật đau thương và đáng thương. Nàng là người vợ có chồng ra trận phải sống trong cảnh cô đơn, mong ngóng giữa không gian vắng lặng. Nỗi nhớ thương chồng khiến nàng “trải mấy xuân tin đi tin lại” nhưng tin vẫn “vắng không”. Dù xa cách, nàng vẫn luôn nghĩ đến chồng với tất cả tình yêu thương và lo lắng, “nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng”. Những hành động nhỏ bé ấy thể hiện tấm lòng thuỷ chung, son sắt của người phụ nữ. Nhưng càng thương nhớ, nàng càng cô đơn, chỉ biết tâm sự cùng ngọn đèn vô tri, để rồi “lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”. Nhân vật người chinh phụ là biểu tượng cho biết bao người phụ nữ trong thời chiến, phải chịu đựng cảnh chia ly mất mát. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc với số phận con người và khát vọng hạnh phúc, đoàn tụ trong cuộc sống hoà bình.

Câu 2:

Đọc đoạn trích chinh phụ ngâm, ta bắt gặp hình ảnh người chinh phụ cô đơn ngày ngày ngóng trông chồng nơi biên ải xa xôi. Hình ảnh ấy khiến ta cảm nhận sâu sắc những mất mát và đau thương mà chiến tranh gây ra cho con người, đặc biệt là những người ở hậu phương.

Chiến tranh không chỉ mang đến chết chóc, chia lìa mà còn để lại trong lòng người bao nỗi thương nhớ và cô độc. Người chinh phụ trong tác phẩm không trực tiếp ra trận nhưng lại chịu đựng nỗi đau tinh thần khôn nguôi. Nàng mong mỏi tin chồng “trải mấy xuân tin đi tin lại”, lo lắng cho chồng nơi gió sương giá lạnh, và cuối cùng chỉ biết trò chuyện cùng ngọn đèn đơn côi. Hình ảnh ấy không chỉ là nỗi đau của một người phụ nữ, mà còn là tiếng lòng của biết bao con người thời chiến- những người phải sống trong chia cắt, mất mát và chờ đợi vô vọng. Chiến tranh cướp đi hạnh phúc, tuổi xuân và cả những giấc mơ đoàn tụ giản dị nhất của con người.

Từ nỗi đau ấy, ta càng thấm thía giá trị của cuộc sống hoà bình hôm nay. Nhờ sự hy sinh của cha ông, chúng ta được sống trong độc lập, tự do, không còn cảnh chia ly. Bởi vậy, thế hệ trẻ hôm nay cần biết trân trọng và giữ gìn hoà bình bằng cách sống nhân ái, đoàn kết, tránh xung đột và lan toả yêu thương. Mỗi người cần nỗ lực học tập, rèn luyện đóng góp sức mình để xây dựng đất nước giàu đẹp, để những hy sinh của cha ông không trở nên vô nghĩa.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng âm vang của nó vẫn nhắc nhở chúng ta về giá trị hoà bình. Hiểu được nỗi đau của người chinh phụ, ta càng biết ơn những người đã ngã xuống, và càng thêm trân trọng cuộc sống bình yên, hạnh phúc mà ta đang có hôm nay.


Câu1:

-Thể thơ song thất lục bát.

Câu 2:

-Dòng thơ cho thấy sự mong mỏi ngóng trông tin chồng của người chinh phụ là:

Trải mấy xuân tin đi tin lại,

Tới xuân này tin hãy vắng không.

Câu 3:

-Nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã:

“Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.”

-Hành động này thể hiện tấm lòng thương nhớ, lo lắng và chăm lo của người vợ dành cho chồng. Dù chồng ở nơi biên ải xa xôi, nàng vẫn chuẩn bị áo ấm, mong chồng giữ gìn sức khoẻ giữa gió sương giá lạnh.

-Qua đó, ta thấy người chinh phụ là người thuỷ chung, yêu thương sâu nặng và luôn hướng về chồng dù cách trở muôn trùng.

Câu 4:

Biện pháp tu từ mà em ấn tượng là:

-Biện pháp tu từ:nhân hoá “đèn” được gán cho hành động “biết” và “không biết”.

-Tác dụng:làm cho cảnh vật như có linh hồn, chia sẻ được nỗi cô đơn của người chinh phụ.

-Nhấn mạnh sự hiu quạnh, chống vắng: ngoài “đèn” ra, nàng không có ai để tâm sự, bộc bạch.

Thể hiện nỗi cô đơn tột cùng và lòng thương nhớ khắc khoải của người vợ có chồng ra trận.

-Đây là biện pháp tu từ đặc sắc, góp phần làm nổi bật nỗi cô đơn đau buồn và chung thuỷ của người chinh phụ trong cảnh xa cách.

Câu 5:

Qua văn bản này người chinh phụ đã thể hiện tâm trạng:

-Người chinh phụ thể hiện nỗi nhớ thương, cô đơn, buồn tủi và khát khao đoàn tụ-biểu hiện tâm trạng của người phụ nữ trong chiến tranh phong kiến, khi chồng ra trận mà tin tức mịt mù.

-Nỗi đau của người chinh phụ khiến em nhận ra rằng hoà bình là hạnh phúc vô giá, là điều đáng trân quý và cần được gìn giữ bằng lòng biết ơn và hành động thiết thực.


Câu1:

Nhân vật Hữu Chi trong truyện Lý Tướng Quân của nguyễn dữ là một tấm gương phản diện tiêu biểu, thể hiện bài học sâu sắc về lòng tham và sự tha hoá của con người. Khi còn sống, Hữu Chi vốn là người có tài năng và được vua trọng dụng, nhưng vì tham lam của cải, quyền lực, ông dần đánh mất phẩm chất đạo đức không biết điểm dừng, ông bị cuốn vào vòng danh lợi, để rồi phải nhận kết cục bi thảm và đầy đau đớn. Sau khi chết, linh hồn ông trở thành một vong hồn đầy ân hận, bị dân gian khinh ghét. Qua nhân vật này, Nguyễn Dữ phê phán gay gắt thói tham lam, ích kỉ-căn nguyên khiến con người tự huỷ hoại bản thân. Đồng thời, truyện cũng thể hiện quan niệm đạo đức nhân văn của tác giả: người làm điều thiện sẽ được đền đáp, kẻ tham lam, trái đạo lí ắt phải chịu quả báo. Nhân vật Lý Hữu Chi vì thế mang giá trị cảnh tỉnh mạnh mẽ, nhắc nhở mỗi con người cần sống liêm khiết, biết đủ và giữ lòng trong sạch giữa cuộc đời đầy cám dỗ.

Câu 2:

Trong truyện Lý Tướng Quân, Lý Hữu Chi vì lòng tham vô độ mà đánh mất nhân cách, để rồi phải nhận kết cục đầy đau đớn và nhục nhã. Câu chuyện ấy là lời cảnh tỉnh sâu sắc về tác hại của lòng tham trong cuộc sống con người.

tham lam là khi con người muốn chiếm đoạt, muốn có nhiều hơn mức cần thiết, bất chấp đạo lí, hậu quả và quyền lợi của người khác. Trong xã hội hiện nay, lòng tham có thể thể hiện ở nhiều dạng: tham tiền bạc, tham quyền lực, tham danh tiếng, hoặc thậm chí là tham điểm số, thành tích trong học tập. Lòng tham khiến con người mù quáng, đánh mất lương tri, dễ sa vào những hành vi sai trái như gian lận, lừa dối hay làm điều phi đạo đức để đạt được mục đích cá nhân. Nó có thể phá vỡ các mối quan hệ, gây mất niềm tin và tổn hại đến cộng đồng. Một người càng tham lam, càng không biết điểm dừng thì càng dễ chuốc lấy thất bại và cô độc.

Để hạn chế thói xấu này, mỗi người cần rèn luyện lối sống trung thực, biết đủ và biết chia sẻ. Hãy học cách trân trọng những gì mình đang có, sống giản dị, lao động chân chính và tự hào với thành quả do chính mình tạo ra. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần giáo dục đạo đức, bồi dưỡng nhân cách và lòng nhân ái cho con người, nhất là giới trẻ, để mỗi người hiểu rằng giá trị thật sự không nằm ở vật chất, mà ở nhân phẩm và lòng tử tế.

Từ câu chuyện Lý Hữu Chi, ta rút ra bài học sâu sắc: tham lam là nguồn gốc của tội lỗi và đau khổ, chỉ có sống liêm khiết, biết điểm dừng và hướng thiện mới giúp con người tìm được hạnh phúc và bình yên thật sự trong cuộc đời.

Câu1:

văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì

Câu2:

-Ngôi kể thứ ba

Câu 3:

Nhân vật chính Lý Hữu Chi

Nét tính cách như: người khoẻ mạnh và tính tình dữ dằn.

Câu4:

-chi tiết hoang đường là:Nguyễn Quỳ hiện hồn về nói với Thúc Khoản.

- Tác dụng:

Làm cho câu truyện li kì, gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc thể hiện dấu ấn dặc trưng của truyện truyền kì

Giúp tác giả bộc lộ quan điểm phê phán sự mê tín của quần chúng, khẳng định tinh thần thượng võ và lòng yêu nước, đồng thời đề cao những phẩm chất chính trực, dũng cảm của người làm tướng vì dân trừ hại.

Qua đó ta thấy được cái tâm cái tài và dấu ấn phong cách nghệ thuật của tác giả

Câu 5:

-ý nghĩa:

Truyện ca ngợi người anh hùng trung nghĩa, yêu nước, dù đã mất vẫn một lòng vì dân vì nước.

Thể hiện niềm tin của nhân dân vào công lí và chính nghĩa, rằng người trung nghĩa sẽ được đền đáp, được nhân dân tôn thờ.

-Bài học rút ra:

cần sống trung trực, có lòng yêu nước, sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng.

Phải biết ơn và trân trọng công lao của người đi trước.

Luôn tin vào lẽ phải, vào sức mạnh của chính nghĩa, vì cuối cùng cái thiện sẽ chiến thắng cái ác.