Vi Thị Mỹ Dung
Giới thiệu về bản thân
Đạm Tiên là một nhân vật phụ xuất hiện ngắn ngủi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nhưng mang nhiều ý nghĩa và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Đạm Tiên vốn xuất thân là một ca nhi, từng nổi danh nhờ tài sắc hơn người. Khi còn trẻ, nàng sống bằng nghề ca hát, được nhiều người biết đến và ngưỡng mộ. Nhưng theo thời gian, nhan sắc tàn phai, Đạm Tiên bị lãng quên, sống cô độc và chết trong cảnh lạnh lẽo, mồ hoang bên đường.Đạm Tiên là người tài hoa, nhạy cảm và giàu lòng tự trọng, thể hiện qua việc nàng từng “nổi danh tài sắc một thì”, có tài đàn hát và ý thức rõ giá trị bản thân. Tuy nhiên, nàng lại mang số phận bạc mệnh, bị xã hội vùi dập khi nhan sắc tàn phai, chết trong cô độc: “Sè sè nấm đất bên đường / Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”. Ngay cả khi đã khuất, linh hồn Đạm Tiên vẫn mang nỗi uất hận và đau đớn, cất lên lời than cho thân phận người phụ nữ: “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”, cho thấy bi kịch chung của những kiếp hồng nhan trong xã hội phong kiến .Để khắc hoạ nhân vật, Nguyễn Du đã sử dụng ngôi kể thứ ba, giúp câu chuyện mang tính khách quan nhưng vẫn thấm đẫm cảm xúc xót thương của tác giả. Nhân vật được đặt trong tình huống truyện mang yếu tố kì ảo – cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và hồn Đạm Tiên trong giấc mộng – vừa tăng sức gợi, vừa làm nổi bật nỗi oan khuất của nhân vật. Diễn biến tâm trạng Đạm Tiên được thể hiện qua lời than trách, đau đớn về kiếp hồng nhan bạc mệnh, từ xót xa cho bản thân đến đồng cảm với số phận người phụ nữ nói chung. Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, hình ảnh ước lệ, cùng giọng điệu thương cảm, ai oán đã làm nổi bật bi kịch và giá trị nhân đạo sâu sắc của hình tượng Đạm Tiên.Hình tượng nhân vật Đạm Tiên là một hình tượng độc đáo, giàu giá trị biểu tượng trong Truyện Kiều. Qua nhân vật này, Nguyễn Du phản ánh và lên án xã hội phong kiến tàn nhẫn đã vùi dập số phận người phụ nữ tài hoa, đồng thời bộc lộ sự cảm thông, xót thương sâu sắc đối với những kiếp hồng nhan bạc mệnh. Đạm Tiên còn gửi gắm thông điệp, triết lí nhân sinh về quy luật nghiệt ngã của số phận trong xã hội cũ, đặc biệt là lời cảnh tỉnh cho cuộc đời truân chuyên của Thúy Kiều. Bên cạnh đó, nhân vật góp phần làm tăng sức hấp dẫn, lôi cuốn và chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm nhờ yếu tố kì ảo giàu tính dự báo. Qua việc xây dựng hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ cái tâm nhân đạo, cái tài nghệ thuật và phong cách sáng tác giàu cảm xúc, giàu giá trị nhân văn, góp phần làm nên sức sống lâu bền của Truyện Kiều.Qua hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo sâu sắc và làm nổi bật bi kịch của những kiếp hồng nhan bạc mệnh trong xã hội phong kiến.
Đạm Tiên là một nhân vật phụ xuất hiện ngắn ngủi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nhưng mang nhiều ý nghĩa và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Đạm Tiên vốn xuất thân là một ca nhi, từng nổi danh nhờ tài sắc hơn người. Khi còn trẻ, nàng sống bằng nghề ca hát, được nhiều người biết đến và ngưỡng mộ. Nhưng theo thời gian, nhan sắc tàn phai, Đạm Tiên bị lãng quên, sống cô độc và chết trong cảnh lạnh lẽo, mồ hoang bên đường.Đạm Tiên là người tài hoa, nhạy cảm và giàu lòng tự trọng, thể hiện qua việc nàng từng “nổi danh tài sắc một thì”, có tài đàn hát và ý thức rõ giá trị bản thân. Tuy nhiên, nàng lại mang số phận bạc mệnh, bị xã hội vùi dập khi nhan sắc tàn phai, chết trong cô độc: “Sè sè nấm đất bên đường / Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”. Ngay cả khi đã khuất, linh hồn Đạm Tiên vẫn mang nỗi uất hận và đau đớn, cất lên lời than cho thân phận người phụ nữ: “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”, cho thấy bi kịch chung của những kiếp hồng nhan trong xã hội phong kiến .Để khắc hoạ nhân vật, Nguyễn Du đã sử dụng ngôi kể thứ ba, giúp câu chuyện mang tính khách quan nhưng vẫn thấm đẫm cảm xúc xót thương của tác giả. Nhân vật được đặt trong tình huống truyện mang yếu tố kì ảo – cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và hồn Đạm Tiên trong giấc mộng – vừa tăng sức gợi, vừa làm nổi bật nỗi oan khuất của nhân vật. Diễn biến tâm trạng Đạm Tiên được thể hiện qua lời than trách, đau đớn về kiếp hồng nhan bạc mệnh, từ xót xa cho bản thân đến đồng cảm với số phận người phụ nữ nói chung. Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, hình ảnh ước lệ, cùng giọng điệu thương cảm, ai oán đã làm nổi bật bi kịch và giá trị nhân đạo sâu sắc của hình tượng Đạm Tiên.Hình tượng nhân vật Đạm Tiên là một hình tượng độc đáo, giàu giá trị biểu tượng trong Truyện Kiều. Qua nhân vật này, Nguyễn Du phản ánh và lên án xã hội phong kiến tàn nhẫn đã vùi dập số phận người phụ nữ tài hoa, đồng thời bộc lộ sự cảm thông, xót thương sâu sắc đối với những kiếp hồng nhan bạc mệnh. Đạm Tiên còn gửi gắm thông điệp, triết lí nhân sinh về quy luật nghiệt ngã của số phận trong xã hội cũ, đặc biệt là lời cảnh tỉnh cho cuộc đời truân chuyên của Thúy Kiều. Bên cạnh đó, nhân vật góp phần làm tăng sức hấp dẫn, lôi cuốn và chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm nhờ yếu tố kì ảo giàu tính dự báo. Qua việc xây dựng hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ cái tâm nhân đạo, cái tài nghệ thuật và phong cách sáng tác giàu cảm xúc, giàu giá trị nhân văn, góp phần làm nên sức sống lâu bền của Truyện Kiều.Qua hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo sâu sắc và làm nổi bật bi kịch của những kiếp hồng nhan bạc mệnh trong xã hội phong kiến.
Đạm Tiên là một nhân vật phụ xuất hiện ngắn ngủi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nhưng mang nhiều ý nghĩa và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Đạm Tiên vốn xuất thân là một ca nhi, từng nổi danh nhờ tài sắc hơn người. Khi còn trẻ, nàng sống bằng nghề ca hát, được nhiều người biết đến và ngưỡng mộ. Nhưng theo thời gian, nhan sắc tàn phai, Đạm Tiên bị lãng quên, sống cô độc và chết trong cảnh lạnh lẽo, mồ hoang bên đường.Đạm Tiên là người tài hoa, nhạy cảm và giàu lòng tự trọng, thể hiện qua việc nàng từng “nổi danh tài sắc một thì”, có tài đàn hát và ý thức rõ giá trị bản thân. Tuy nhiên, nàng lại mang số phận bạc mệnh, bị xã hội vùi dập khi nhan sắc tàn phai, chết trong cô độc: “Sè sè nấm đất bên đường / Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”. Ngay cả khi đã khuất, linh hồn Đạm Tiên vẫn mang nỗi uất hận và đau đớn, cất lên lời than cho thân phận người phụ nữ: “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”, cho thấy bi kịch chung của những kiếp hồng nhan trong xã hội phong kiến .Để khắc hoạ nhân vật, Nguyễn Du đã sử dụng ngôi kể thứ ba, giúp câu chuyện mang tính khách quan nhưng vẫn thấm đẫm cảm xúc xót thương của tác giả. Nhân vật được đặt trong tình huống truyện mang yếu tố kì ảo – cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và hồn Đạm Tiên trong giấc mộng – vừa tăng sức gợi, vừa làm nổi bật nỗi oan khuất của nhân vật. Diễn biến tâm trạng Đạm Tiên được thể hiện qua lời than trách, đau đớn về kiếp hồng nhan bạc mệnh, từ xót xa cho bản thân đến đồng cảm với số phận người phụ nữ nói chung. Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, hình ảnh ước lệ, cùng giọng điệu thương cảm, ai oán đã làm nổi bật bi kịch và giá trị nhân đạo sâu sắc của hình tượng Đạm Tiên.Hình tượng nhân vật Đạm Tiên là một hình tượng độc đáo, giàu giá trị biểu tượng trong Truyện Kiều. Qua nhân vật này, Nguyễn Du phản ánh và lên án xã hội phong kiến tàn nhẫn đã vùi dập số phận người phụ nữ tài hoa, đồng thời bộc lộ sự cảm thông, xót thương sâu sắc đối với những kiếp hồng nhan bạc mệnh. Đạm Tiên còn gửi gắm thông điệp, triết lí nhân sinh về quy luật nghiệt ngã của số phận trong xã hội cũ, đặc biệt là lời cảnh tỉnh cho cuộc đời truân chuyên của Thúy Kiều. Bên cạnh đó, nhân vật góp phần làm tăng sức hấp dẫn, lôi cuốn và chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm nhờ yếu tố kì ảo giàu tính dự báo. Qua việc xây dựng hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ cái tâm nhân đạo, cái tài nghệ thuật và phong cách sáng tác giàu cảm xúc, giàu giá trị nhân văn, góp phần làm nên sức sống lâu bền của Truyện Kiều.Qua hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo sâu sắc và làm nổi bật bi kịch của những kiếp hồng nhan bạc mệnh trong xã hội phong kiến.
Đạm Tiên là một nhân vật phụ xuất hiện ngắn ngủi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nhưng mang nhiều ý nghĩa và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Đạm Tiên vốn xuất thân là một ca nhi, từng nổi danh nhờ tài sắc hơn người. Khi còn trẻ, nàng sống bằng nghề ca hát, được nhiều người biết đến và ngưỡng mộ. Nhưng theo thời gian, nhan sắc tàn phai, Đạm Tiên bị lãng quên, sống cô độc và chết trong cảnh lạnh lẽo, mồ hoang bên đường.Đạm Tiên là người tài hoa, nhạy cảm và giàu lòng tự trọng, thể hiện qua việc nàng từng “nổi danh tài sắc một thì”, có tài đàn hát và ý thức rõ giá trị bản thân. Tuy nhiên, nàng lại mang số phận bạc mệnh, bị xã hội vùi dập khi nhan sắc tàn phai, chết trong cô độc: “Sè sè nấm đất bên đường / Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”. Ngay cả khi đã khuất, linh hồn Đạm Tiên vẫn mang nỗi uất hận và đau đớn, cất lên lời than cho thân phận người phụ nữ: “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”, cho thấy bi kịch chung của những kiếp hồng nhan trong xã hội phong kiến .Để khắc hoạ nhân vật, Nguyễn Du đã sử dụng ngôi kể thứ ba, giúp câu chuyện mang tính khách quan nhưng vẫn thấm đẫm cảm xúc xót thương của tác giả. Nhân vật được đặt trong tình huống truyện mang yếu tố kì ảo – cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và hồn Đạm Tiên trong giấc mộng – vừa tăng sức gợi, vừa làm nổi bật nỗi oan khuất của nhân vật. Diễn biến tâm trạng Đạm Tiên được thể hiện qua lời than trách, đau đớn về kiếp hồng nhan bạc mệnh, từ xót xa cho bản thân đến đồng cảm với số phận người phụ nữ nói chung. Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, hình ảnh ước lệ, cùng giọng điệu thương cảm, ai oán đã làm nổi bật bi kịch và giá trị nhân đạo sâu sắc của hình tượng Đạm Tiên.Hình tượng nhân vật Đạm Tiên là một hình tượng độc đáo, giàu giá trị biểu tượng trong Truyện Kiều. Qua nhân vật này, Nguyễn Du phản ánh và lên án xã hội phong kiến tàn nhẫn đã vùi dập số phận người phụ nữ tài hoa, đồng thời bộc lộ sự cảm thông, xót thương sâu sắc đối với những kiếp hồng nhan bạc mệnh. Đạm Tiên còn gửi gắm thông điệp, triết lí nhân sinh về quy luật nghiệt ngã của số phận trong xã hội cũ, đặc biệt là lời cảnh tỉnh cho cuộc đời truân chuyên của Thúy Kiều. Bên cạnh đó, nhân vật góp phần làm tăng sức hấp dẫn, lôi cuốn và chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm nhờ yếu tố kì ảo giàu tính dự báo. Qua việc xây dựng hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ cái tâm nhân đạo, cái tài nghệ thuật và phong cách sáng tác giàu cảm xúc, giàu giá trị nhân văn, góp phần làm nên sức sống lâu bền của Truyện Kiều.Qua hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo sâu sắc và làm nổi bật bi kịch của những kiếp hồng nhan bạc mệnh trong xã hội phong kiến.
Đạm Tiên là một nhân vật phụ xuất hiện ngắn ngủi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nhưng mang nhiều ý nghĩa và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Đạm Tiên vốn xuất thân là một ca nhi, từng nổi danh nhờ tài sắc hơn người. Khi còn trẻ, nàng sống bằng nghề ca hát, được nhiều người biết đến và ngưỡng mộ. Nhưng theo thời gian, nhan sắc tàn phai, Đạm Tiên bị lãng quên, sống cô độc và chết trong cảnh lạnh lẽo, mồ hoang bên đường.Đạm Tiên là người tài hoa, nhạy cảm và giàu lòng tự trọng, thể hiện qua việc nàng từng “nổi danh tài sắc một thì”, có tài đàn hát và ý thức rõ giá trị bản thân. Tuy nhiên, nàng lại mang số phận bạc mệnh, bị xã hội vùi dập khi nhan sắc tàn phai, chết trong cô độc: “Sè sè nấm đất bên đường / Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”. Ngay cả khi đã khuất, linh hồn Đạm Tiên vẫn mang nỗi uất hận và đau đớn, cất lên lời than cho thân phận người phụ nữ: “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”, cho thấy bi kịch chung của những kiếp hồng nhan trong xã hội phong kiến .Để khắc hoạ nhân vật, Nguyễn Du đã sử dụng ngôi kể thứ ba, giúp câu chuyện mang tính khách quan nhưng vẫn thấm đẫm cảm xúc xót thương của tác giả. Nhân vật được đặt trong tình huống truyện mang yếu tố kì ảo – cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và hồn Đạm Tiên trong giấc mộng – vừa tăng sức gợi, vừa làm nổi bật nỗi oan khuất của nhân vật. Diễn biến tâm trạng Đạm Tiên được thể hiện qua lời than trách, đau đớn về kiếp hồng nhan bạc mệnh, từ xót xa cho bản thân đến đồng cảm với số phận người phụ nữ nói chung. Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, hình ảnh ước lệ, cùng giọng điệu thương cảm, ai oán đã làm nổi bật bi kịch và giá trị nhân đạo sâu sắc của hình tượng Đạm Tiên.Hình tượng nhân vật Đạm Tiên là một hình tượng độc đáo, giàu giá trị biểu tượng trong Truyện Kiều. Qua nhân vật này, Nguyễn Du phản ánh và lên án xã hội phong kiến tàn nhẫn đã vùi dập số phận người phụ nữ tài hoa, đồng thời bộc lộ sự cảm thông, xót thương sâu sắc đối với những kiếp hồng nhan bạc mệnh. Đạm Tiên còn gửi gắm thông điệp, triết lí nhân sinh về quy luật nghiệt ngã của số phận trong xã hội cũ, đặc biệt là lời cảnh tỉnh cho cuộc đời truân chuyên của Thúy Kiều. Bên cạnh đó, nhân vật góp phần làm tăng sức hấp dẫn, lôi cuốn và chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm nhờ yếu tố kì ảo giàu tính dự báo. Qua việc xây dựng hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ cái tâm nhân đạo, cái tài nghệ thuật và phong cách sáng tác giàu cảm xúc, giàu giá trị nhân văn, góp phần làm nên sức sống lâu bền của Truyện Kiều.Qua hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo sâu sắc và làm nổi bật bi kịch của những kiếp hồng nhan bạc mệnh trong xã hội phong kiến.
Đạm Tiên là một nhân vật phụ xuất hiện ngắn ngủi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du nhưng mang nhiều ý nghĩa và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Đạm Tiên vốn xuất thân là một ca nhi, từng nổi danh nhờ tài sắc hơn người. Khi còn trẻ, nàng sống bằng nghề ca hát, được nhiều người biết đến và ngưỡng mộ. Nhưng theo thời gian, nhan sắc tàn phai, Đạm Tiên bị lãng quên, sống cô độc và chết trong cảnh lạnh lẽo, mồ hoang bên đường.Đạm Tiên là người tài hoa, nhạy cảm và giàu lòng tự trọng, thể hiện qua việc nàng từng “nổi danh tài sắc một thì”, có tài đàn hát và ý thức rõ giá trị bản thân. Tuy nhiên, nàng lại mang số phận bạc mệnh, bị xã hội vùi dập khi nhan sắc tàn phai, chết trong cô độc: “Sè sè nấm đất bên đường / Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”. Ngay cả khi đã khuất, linh hồn Đạm Tiên vẫn mang nỗi uất hận và đau đớn, cất lên lời than cho thân phận người phụ nữ: “Đau đớn thay phận đàn bà / Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”, cho thấy bi kịch chung của những kiếp hồng nhan trong xã hội phong kiến .Để khắc hoạ nhân vật, Nguyễn Du đã sử dụng ngôi kể thứ ba, giúp câu chuyện mang tính khách quan nhưng vẫn thấm đẫm cảm xúc xót thương của tác giả. Nhân vật được đặt trong tình huống truyện mang yếu tố kì ảo – cuộc gặp gỡ giữa Thúy Kiều và hồn Đạm Tiên trong giấc mộng – vừa tăng sức gợi, vừa làm nổi bật nỗi oan khuất của nhân vật. Diễn biến tâm trạng Đạm Tiên được thể hiện qua lời than trách, đau đớn về kiếp hồng nhan bạc mệnh, từ xót xa cho bản thân đến đồng cảm với số phận người phụ nữ nói chung. Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, hình ảnh ước lệ, cùng giọng điệu thương cảm, ai oán đã làm nổi bật bi kịch và giá trị nhân đạo sâu sắc của hình tượng Đạm Tiên.Hình tượng nhân vật Đạm Tiên là một hình tượng độc đáo, giàu giá trị biểu tượng trong Truyện Kiều. Qua nhân vật này, Nguyễn Du phản ánh và lên án xã hội phong kiến tàn nhẫn đã vùi dập số phận người phụ nữ tài hoa, đồng thời bộc lộ sự cảm thông, xót thương sâu sắc đối với những kiếp hồng nhan bạc mệnh. Đạm Tiên còn gửi gắm thông điệp, triết lí nhân sinh về quy luật nghiệt ngã của số phận trong xã hội cũ, đặc biệt là lời cảnh tỉnh cho cuộc đời truân chuyên của Thúy Kiều. Bên cạnh đó, nhân vật góp phần làm tăng sức hấp dẫn, lôi cuốn và chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm nhờ yếu tố kì ảo giàu tính dự báo. Qua việc xây dựng hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ cái tâm nhân đạo, cái tài nghệ thuật và phong cách sáng tác giàu cảm xúc, giàu giá trị nhân văn, góp phần làm nên sức sống lâu bền của Truyện Kiều.Qua hình tượng Đạm Tiên, Nguyễn Du thể hiện rõ tấm lòng nhân đạo sâu sắc và làm nổi bật bi kịch của những kiếp hồng nhan bạc mệnh trong xã hội phong kiến.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
– Lời thoại của nhân vật: “Sao trong tiết thanh minh/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”.
– Kiểu lời thoại: Lời đối thoại.
Câu 3.
– Từ láy tác giả sử dụng trong văn bản: Sè sè, dàu dàu, xôn xao, mong manh, đầm đầm.
– Việc sử dụng nhiều từ láy (cả từ láy tượng hình và tượng thanh) có tác dụng khắc hoạ chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc hoạ trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản.
Câu 4.
– tâm trạng, cảm xúc của nàng Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên: Đau lòng, xót thương cho số phận của Đạm Tiên.
– Thuý Kiều: Nàng là người con gái nhân hậu. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, nàng không chỉ đồng cảm với cảnh ảm đạm, lạnh lẽo nhang khói của nấm mồ Đạm Tiên khi không người thăm nom, săn sóc; mà nàng còn khóc thương cho thân phận những người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong xã hội của nàng.
Câu 5.
– Từ bài văn bản em rút ra được bài học :
+ Biết trân trọng những người tài năng trong cuộc sống.
+ Biết đồng cảm với những con người có số phận đáng thương trong cuộc sống.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
– Lời thoại của nhân vật: “Sao trong tiết thanh minh/ Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?”.
– Kiểu lời thoại: Lời đối thoại.
Câu 3.
– Từ láy tác giả sử dụng trong văn bản: Sè sè, dàu dàu, xôn xao, mong manh, đầm đầm.
– Việc sử dụng nhiều từ láy (cả từ láy tượng hình và tượng thanh) có tác dụng khắc hoạ chân thực, sinh động những đối tượng, sự việc được khắc hoạ trong văn bản; đồng thời tạo âm hưởng nhịp nhàng, dễ nhớ cho văn bản.
Câu 4.
– tâm trạng, cảm xúc của nàng Kiều trước hoàn cảnh của Đạm Tiên: Đau lòng, xót thương cho số phận của Đạm Tiên.
– Thuý Kiều: Nàng là người con gái nhân hậu. Trước hoàn cảnh của Đạm Tiên, nàng không chỉ đồng cảm với cảnh ảm đạm, lạnh lẽo nhang khói của nấm mồ Đạm Tiên khi không người thăm nom, săn sóc; mà nàng còn khóc thương cho thân phận những người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh trong xã hội của nàng.
Câu 5.
– Từ bài văn bản em rút ra được bài học :
+ Biết trân trọng những người tài năng trong cuộc sống.
+ Biết đồng cảm với những con người có số phận đáng thương trong cuộc sống.