Trần Bảo Trang
Giới thiệu về bản thân
Hồ Xuân Hương là nhà thơ nổi tiếng cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX. Ở giai đoạn lịch sử này, chế độ phong kiến suy tàn đã bộc lộ những hạn chế, bất công. Hồ Xuân Hương đã gửi gắm vào thơ những suy tư, trăn trở trước hiện thực của xã hội, trước thân phận bất hạnh của con người, nhất là người phụ nữ. Những tác phẩm thơ Nôm tiêu biểu của bà thời kì này không thể không kể đến bài thơ “Mời trầu”. “Mời trầu” cũng như nhiều bài thơ khác của Hồ Xuân Hương thuộc thể tuyệt cú cổ điển. Đấy là một thể Đường luật thi, một thứ văn chương bác học. Nhưng đọc “Mời trầu” không ai có ý nghĩ đây là bài thơ Đường du nhập từ Trung Quốc vào qua những nhà trí thức Hán học. Có một cái gì thật là nôm na dân dã ở lời thơ hết sức bình dị và giọng điệu mộc mạc.
Hình ảnh miếng trầu đã mang đến cho chúng ta những liên tưởng về miếng trầu truyền thống gắn liền với những niềm vui như đám cưới, nó cũng gắn liền với những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam trong sự tích trầu cau. Còn ở đây thì sao?. Miếng trầu ấy thể hiện được nỗi lòng Xuân Hương khao khát có một tình yêu thật sự, một hạnh phúc vợ chồng đời thường êm ấm, nồng đượm. Trước hết hai câu thơ đầu nhà thơ nói về miếng trầu ấy và chủ nhân làm ra miếng trầu ấy chính là Xuân Hương: “Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương mới quệt rồi” Miếng trầu ấy có quả cau, có lá trầu. Hai thứ ấy đi liền với nhau để làm nên một miếng trầu. Hình ảnh những miếng trầu têm xanh ngắt cánh phượng mới đẹp làm sao. Quả cau thì nho nhỏ gợi lên cái hình ảnh nhỏ bé của miếng trầu nhưng lại rất đẹp. Sự nhỏ bé ấy hay cũng chính là sự nhỏ bé của thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa. Miếng trầu hôi không phải là nó có mùi hôi mà do lá trầu cay nên nói như thế. Hình ảnh miếng trầu có ngàn năm tuổi như thể hiện cho nguyện ước khát khao lứa đôi của bà chúa thơ Nôm. Người sở hữu miếng trầu ấy chính là nhà thơ. Từ “này” thể hiện được tiếng mời, tiếng xưng danh của Xuân Hương. Miếng trầu ấy mới quệt xong, nó vẫn còn tươi xanh, ngọt bùi lắm. Miếng trầu của Xuân Hương không khác gì miếng trầu bình thường khác về hình thức nhưng miếng trầu ấy chất chứa biết bao nhiêu là tâm sự là nỗi lòng của người con gái kia. Đó chính là miếng trầu của lòng khao khát hạnh phúc lứa đôi của thi sĩ. Thế nhưng, sau tấm chân tình gần như bình thản ấy là một giọng nói nhẹ nhàng chất chứa bao cảm xúc, bao nỗi niềm. “Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi”. Hồ Xuân Hương đưa ra một câu hỏi vừa đưa ra một yêu cầu. “Có phải duyên nhau thì thắm lại”. Từ “thắm” sử dụng rất đắt. “Duyên” theo quan niệm dân gian là sự ràng buộc lẫn nhau từ kiếp trước đến kiếp này, Hồ Xuân Hương muốn nói đến cái duyên ấy. Hai câu thơ đầu nói về chuyện ăn trầu, hai câu cuối chuyển sang chuyện duyên số, chuyện con người vậy mà ý thơ vẫn liền mạch, không gò bó chứng tỏ tài dùng ẩn dụ của nhà thơ đến mức tuyệt vời. Nhà thơ còn vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong câu kết làm cho ý thơ thật đặc sắc. Bài thơ không chỉ đơn giản nói về duyên trầu mà Hồ Xuân Hương đã nói đến duyên phận của con người, của người phụ nữ thời phong kiến. Cái duyên ấy bấp bênh bạc bẽo như vôi. Như trong một số bài khác bà có nhắc nhiều đến duyên phận của người phụ nữ ‘thân em vừa trắng lại vừa tròn – bảy nổi ba chìm với nước non” (Bánh trôi nước). Qua đó gợi lòng thương cảm tới những con người có niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi, một tình yêu son sắt thủy chung. Với ngôn từ giản dị, giàu ý nghĩa, bài thơ “Mời trầu” như bao quát chuyện tình duyên lận đận của tác giả. Bà luôn khao khát sống với hạnh phúc lứa đôi. Đó là một tình cảm thật sự chứ không phải là thứ tình cảm vợ lẽ, chính vì thế mà ta cảm thấy yêu quý hơn người phụ nữ tài ba ấy.
Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi được thể hiện qua bài thơ "Cảnh ngày hè" là sự hòa hợp giữa tình yêu thiên nhiên thiết tha và tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc.
"Đùn đùn": Gợi tả sức sống trào dâng, tầng tầng lớp lớp của tán lá hòe, như có một lực đẩy mạnh mẽ từ bên trong. "Giương": Hành động mở rộng, bao phủ của tán cây, tạo cảm giác che chở và không gian rộng lớn. "Phun": Diễn tả màu đỏ rực rỡ của hoa lựu không chỉ nở mà như đang phun ra, lan tỏa màu sắc, thể hiện sự tươi mới, tràn đầy năng lượng.
Bài thơ Mời trầu là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Hồ Xuân Hương, thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ, thông minh và bản lĩnh của người phụ nữ trong xã hội xưa. Qua lời mời trầu giản dị, bài thơ đã bộc lộ quan niệm sống và khát vọng tình cảm rất rõ ràng của tác giả. Mở đầu bài thơ là lời mời trầu rất tự nhiên, gần gũi. Trầu cau vốn là nét đẹp văn hóa truyền thống, thường gắn với tình cảm, đặc biệt là tình duyên đôi lứa. Lời mời trầu tưởng như đơn giản nhưng lại chứa đựng sự chủ động, thẳng thắn của người phụ nữ. Điều đó cho thấy tác giả không cam chịu, e dè mà dám bày tỏ suy nghĩ, tình cảm của mình. Hai câu thơ tiếp theo sử dụng hình ảnh trầu, cau, vôi để nói về tình nghĩa con người. Miếng trầu chỉ ngon khi có đủ các thành phần, cũng giống như tình cảm phải xuất phát từ sự chân thành, gắn bó. Qua đó, Hồ Xuân Hương khẳng định quan niệm về tình yêu: phải rõ ràng, sâu sắc, không hời hợt, không giả dối. Câu thơ cuối thể hiện rõ thái độ dứt khoát của tác giả. Nếu không có tình cảm thật lòng thì “xanh như lá, bạc như vôi” cũng không thể gắn bó lâu dài. Đây vừa là lời nhắc nhở, vừa là sự tự trọng của người phụ nữ, cho thấy Hồ Xuân Hương coi trọng giá trị bản thân và không chấp nhận một tình yêu hời hợt. Tóm lại, bài thơ Mời trầu tuy ngắn gọn nhưng giàu ý nghĩa. Qua đó, Hồ Xuân Hương đã thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, cá tính mạnh mẽ và khát vọng về một tình yêu chân thành, bình đẳng. Bài thơ để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc và sự cảm phục đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.
Nhà văn Nam Cao từng viết rằng: "Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu?" Nhân vật Tư trong bài "Đứa con người vợ lẽ cũng vậy". Anh chỉ là con của người vợ ba - người được lấy về để chăm lo chuyện ruộng đồng, anh từ nhỏ đã không được thầy yêu thương, lớn lên thì ngay cả bát phở cũng phải lén ăn của người đã ăn xong. Từ nhân vật Tư, em đã có suy nghĩ rằng trong cuộc đời của mỗi con người, hoàn cảnh sống có tác động rất lớn đối với con người. Có những người sinh ra trong sự chiều chuộng của gia đình, còn có những đứa trẻ sinh ra đã không được quan tâm. Giống như nhân vật Cậu cả trong bài, là con được yêu thương không phải lo nghĩ, được tùy ý làm việc. Trái lại đó là nhân vật Tư vốn chỉ là con của vợ lẽ, không có địa vị trong nhà, đến cả cơm nguội đối với cậu cũng là một thứ không dám nghĩ tới. Từ đó, ta cũng có thể thấy rằng hoàn cảnh cuộc sống có tác động rất lớn với con người. Nó ảnh hưởng đến suy nghĩ, tính cách, hành động và ước mơ của mỗi người. Khi sống trong hoàn cảnh khó khăn, con người trở nên tự ti, lo lắng buộc phải thay đổi để thích nghi với cuộc sống.
"Lỉnh”: Chỉ hành động lén lút bỏ đi, trốn đi một cách nhanh chóng, thường để tránh bị phát hiện.
“Cáu ghét”: Nghĩa là rất ghét, ghét cay ghét đắng, thể hiện mức độ ghét mạnh.
“Nhớn nhác”: Chỉ trạng thái hoảng hốt, sợ sệt, lo lắng, thường là dáng vẻ không yên tâm, hay nhìn trước ngó sau.