Nguyễn Phương Linh
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Lối sống chủ động đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thời đại xã hội phát triển và chuyển biến như vũ bão ngày nay. Chủ động – có thể được hiểu là tự mình lập kế hoạch, thực hiện, và chịu trách nhiệm với mọi vấn đề trong cuộc sống mà không chịu sự chi phối bởi hoàn cảnh bên ngoài. Có thể ví cuộc sống mỗi chúng ta như một chặng đường, thì chủ động chính là chúng ta biết được hướng đi, tốc độ, đích đến để chinh phục mục tiêu . Không chỉ vậy ,nó giúp ta tự tin và biết mình cần làm gì trong cuộc sống.Đặc biệt,lối sống chủ động tiếp cho ta niềm đam mê, lòng nhiệt huyết và quyết tâm để vượt qua khó khăn trong cuốc sống.Nó giúp ta biết suy nghĩ, hành động độc lập, làm chủ được tình thế trong mọi tình huống.Chỉ có sống và làm chủ bản thân, Bill Gates mới bỏ ngang trường đại học danh giá nhất nước Mỹ để thực hiện ước mơ của mình và trở thành tỷ phú. Bên cạnh đó trong cuộc sống vẫn có những kẻ sống thụ động,không có mục tiêu,ước mơ thậm chí còn sống phụ thuộc vào người khác.Nhưng chủ động không phải là làm bừa, liều lĩnh mà cần phải tỉnh táo,cẩn trọng, sẵn sàng đối diện với khó khăn.Hiểu được tầm quan trọng của lối sống chủ động,mỗi học sinh chúng ta cần rèn luyện bản thân,chủ động học tập,tìm tòi để chinh phục ước mơ.
Câu 2 :
Nguyễn Trãi không chỉ biết đến với tác phẩm nổi tiếng, một áng thiên cổ hùng văn bình ngô đại cáo mà còn được biết đến với những bài thơ thiên nhiên và con người như Côn Sơn Ca, Cây Chuối… một trong những tác phẩm thiên nhiên và con người ấy còn phải kể đến bài thơ bảo kính cảnh giới 43 của ông. Đó là bài thơ cảnh ngày hè với những thiên nhiên con người và tâm trạng của Nguyễn Trãi.
Trong những bài thơ về tình yêu thiên nhiên Côn Sơn chính là nơi dừng chân của Nguyễn Trãi trong những ngày tháng buồn bã mệt mỏi nơi quan trường.
Rồi hóng mát thuở ngày trường
Câu thơ như mở ra những ngày tháng thảnh thơi, hóng mát những ngày dài, những hình ảnh dài của những ngày tháng ấy dần được mở ra ở những câu sau. Những ngày tháng ấy là những ngày tháng an nhàn khi gác lại chuyện chính sự sang một bên, khiến cho không chỉ tâm hồn mà thể xác cũng rất nhàn hạ. cuộc sống với ông chỉ cần thế mùa hè đến ông không cảm nhận thấy cái nóng của đất trời mà ông chỉ cảm nhận được gió mát. Thiên nhiên nơi chốn quê hương chính là nguồn cảm hứng vô tân cho tác giả. làm cho ông cảm thấy vui vẻ phần nào trong cuộc sống ở quê.
“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”
Đây là những câu thơ đặc tả những cảnh đẹp mùa hè nơi chốn quê hương ông, là hương sắc mùa hè rất sinh động và hấp dẫn. hình ảnh của mùa hè hiện ra với những gam màu nóng:màu đỏ của hoa hòe, màu lựu đỏ, màu hồng của cánh sen và chúng được kết hợp với những động từ mạnh như “ đùn đùn”, “ phun”, “ tiễn” cho thấy một bức tranh quê hương với màu sắc và hương vị đặc trưng và sự sinh sôi nảy nở mạnh mẽ trong mùa hè.
Bức họa đồng quê hiện ra với biết bao nhiêu màu sắc bao nhiêu thay đổi đẹp đẽ, và đó còn là sự sinh trưởng mạnh mẽ của hoa cỏ cây cối. nó mang tới cho chúng ta những cảm giác thật yên bình, không những thế ta còn cảm nhận được cái hương vị của mùa hè qua động từ “tiễn”.
Không những thế mùa hè còn mang đến cho tác giả những những phiên chợ những làng ngư phủ. Cuộc sống thôn dã hiện ra với vẻ tấp nập hiếm có của con người nơi đây. Chính chợ phản ánh cuộc sống của con người có no đủ, giàu có hay không
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”
Cuộc sống thật sự náo nhiệt, những phiên chợ của những ngư dân vùng biển, hình ảnh ảnh những con người lao động hiện lên thật đẹp với phiên chợ vui vẻ của những lưới cá bội thu.
Dân giàu đủ khắp đòi phương”.
Cất lên một khúc đàn của cây đàn vua Ngu Thuấn mang lại cho nhân dân cuộc sống ấm no hạnh phúc. MƯợn được hình ảnh vua Ngu Thuấn cây cầm ấy để làm cho nhân dân ta giàu mạnh khắp phương. Dù đã trở về với cuộc sống nơi thôn dã nhưng ông luôn luôn giữ tình yêu thương và lòng mong mỏi một cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân trăm họ.
Bài thơ là những dòng chảy cảm xúc về thiên nhiên cũng như nỗi khát khao mong mỏi và tấm lòng yêu nước nồng nhiệt của Nguyễn Trãi. Bìa thơ tuy ngắn nhưng để lại cho người đọc nhiều ấn tượng mạnh. Kết thúc bài thơ là tinh thần nhân nghĩa cao cả và tình yêu nhân dân vô bờ bến của ông.
Câu 1: Thể thơ: thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2: Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả: ăn măng truc,ăn giá,tắm hồ sen,tắm ao
Câu 3
– Biện pháp tu từ liệt kê: ''Một mai, một cuốc, một cần câu''
– Tác dụng:
+ Giúp tạo sự cân xứng, hài hòa cho lời thơ.
+ Đồng thời nhấn mạnh sự lựa chọn phương châm sống, tác giả chọn lối sống tĩnh tại, an nhàn thay vì cách sống ham danh vọng.Qua đó thể hiện được sự mỉa mai đối với lối sống phú quý,giàu sang,ham danh vọng,...
Câu 4:
Quan niệm khôn – dại của tác giả:
– Dại: “tìm nơi vắng vẻ” – nơi yên tĩnh của thiên nhiên;lối sống an nhàn.
– Khôn: “đến chốn lao xao” – chốn cửa quyền bon chen, thủ đoạn sát phạt.
->Thái độ tự tin vào sự lựa chọn của bản thân và hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của thiên hạ.
Câu 5: Qua bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với sự thanh cao,trong sạch, ông k ham vật chất và hướng tới lối sống giản dị cũng như là người có bản lĩnh khi thể hiện thái độ mỉa mai với lối sống ham danh vọng.Không chỉ vậy ,tác giả là còn là người mẫu mực ,có trí tuệ và là tấm gương để mọi người noi theo
Các nhân tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp:
- Dân cư và lao động : ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tiêu thụ sản phẩm của ngành
Ví dụ: Ở Đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng lao động nông nghiệp lớn, giàu kinh nghiệm canh tác lúa nước, giúp khu vực này trở thành vựa lúa lớn nhất Việt Nam.
- Khoa học - công nghệ: Tiến bộ khoa học - kĩ thuật trong nông nghiệp tạo ra nhiều giống mới; tăng năng suất, chất lượng nông sản; sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nước.
Ví dụ: Công nghệ tưới tiêu hiện đại và hệ thống nhà kính tại Nhật Bản giúp phát triển mạnh mẽ ngành trồng rau, hoa chất lượng cao.
- Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật: Thúc đẩy sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp; tăng cường liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Ví dụ: Các tuyến giao thông kết nối vùng sản xuất nông nghiệp lớn như Tây Nguyên với các cảng xuất khẩu giúp tăng giá trị xuất khẩu cà phê.
- Chính sách phát triển nông nghiệp, vốn đầu tư và thị trường: Tác động đến phương hướng sản xuất, cơ cấu ngành, quy mô sản xuất; xác định các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp; thúc đẩy nông nghiệp sản xuất hàng hoá.
+ Chính sách phát triển kinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp nói riêng có ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp.
+ Vốn đầu tư tác động đến quy mô sản xuất, thúc đẩy sản xuất hàng hoá,...
+ Thị trường tiêu thụ (trong nước, ngoài nước) tác động tới giá cả nông sản, đến việc điều tiết sản xuất và ảnh hưởng chuyên môn hóa.
Ví dụ: Chính sách thủy lợi hóa và đầu tư giống lúa chất lượng cao của Chính phủ Việt Nam giúp tăng năng suất lúa tại Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.
a) Phân loại nguồn lực
- Căn cứ vào nguồn gốc, có :
+ Vị trí địa lí: vị trí địa lí tự nhiên. vị trí địa lí kinh tế chính trị, giao thông.
+ Tự nhiên: đất, biển, sinh vật, khoáng sản...
+ Kinh tế - xã hội: dân số và nguồn lao động, vốn, thị trường, khoa học - kĩ thuật và công nghệ, thương hiệu quốc gia, lịch sử - văn hoá, đường lối chính sách.
- Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, có các loại nguồn lực phát triển kinh tế:
+ Nguồn lực trong nước: vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, nguồn vốn đầu tư, khoa học - công nghệ, lịch sử - văn hoá, hệ thống tài sản quốc gia, đường lối chính sách.
+ Nguồn lực nước ngoài: vốn đầu tư nước ngoài, lao động nước ngoài, kinh nghiệm tổ chức và quản lí, khoa học - công nghệ.
b) Phân tích tác động của nguồn lực vị trí địa lí đến phát triển kinh tế
- Thuận lợi:
+ Giao thương và hội nhập quốc tế
+ Tác động đến sự phát triển ngành kinh tế
+ Thu hút các nhà đầu tư
+ Điều kiện tự nhiên
- Khó khăn:
+ Chịu ảnh hưởng của thiên tai.
+ Hạn chế xa trung tâm kinh tế lớn.
Ví dụ: Việt Nam có vị trí nằm ở rìa phía đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm khu vực ĐNA, giáp biển => Thuận lợi giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực và thế giới.