Đỗ Tường Vy
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Thể thơ: Tám chữ. Câu 2. Đề tài: Khung cảnh bến đò ngày mưa. Câu 3. – Biện pháp tu từ có trong bài thơ: Nhân hóa, so sánh, liệt kê. – Tác dụng của biện pháp tu từ: + Nhân hóa: Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át; Vài quán hàng không khách đứng xo ro;... khiến cho sự vật hiện lên sinh động hơn. + So sánh: Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ/ Thúng đội đầu như đội cả trời mưa. Hình ảnh so sánh gợi lên trong tâm tưởng của bạn đọc khung cảnh ảm đạm, tiêu điều trong một ngày mưa ở bến đò. + Liệt kê: Chỉ ra những hình ảnh cảnh vật, con người trong ngày mưa tại bến đò, góp phần khắc họa chi tiết khung cảnh ảm đạm, tiêu điều ấy. Câu 4. – Bức tranh bến đò ngày mưa được tác giả miêu tả qua những hình ảnh: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ, quán hàng đứng xo ro, quán hàng đứng xo ro, một bác lái ghé vào hút điếu, bà hàng sù sụ sặc hơi, ho, họa hoằn có người đến chợ, họa hoằn có con thuyền ghé chở, thúng đội đầu như đội cả trời mưa. – Những hình ảnh đó gợi cho em cảm nhận về một khung cảnh ảm đạm, hoang vắng, tiêu điều. Câu 5. Bức tranh bến đò ngày mưa là một bức tranh vắng lặng, ảm đạm, đơn điệu và tẻ nhạt, ẩn chứa nỗi buồn man mác. Dù bức tranh cảnh vật có bóng dáng của con người nhưng hình ảnh con người đều ít ỏi, dường như chỉ là "một", "họa hoằn" mới xuất hiện; còn khi xuất hiện thì hầu hết con người đều trong trạng thái mệt mỏi, buồn lặng, càng tô đậm thêm sự đơn điệu, ảm đạm của cảnh vật. Như vậy, qua bức tranh này, bài thơ gợi lên nỗi buồn man mác, sự lạnh lẽo, cô đơn trước cuộc sống vắng lặng, tiêu điều nơi đây.
Câu 1. Thể thơ: Tám chữ. Câu 2. Đề tài: Khung cảnh bến đò ngày mưa. Câu 3. – Biện pháp tu từ có trong bài thơ: Nhân hóa, so sánh, liệt kê. – Tác dụng của biện pháp tu từ: + Nhân hóa: Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át; Vài quán hàng không khách đứng xo ro;... khiến cho sự vật hiện lên sinh động hơn. + So sánh: Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ/ Thúng đội đầu như đội cả trời mưa. Hình ảnh so sánh gợi lên trong tâm tưởng của bạn đọc khung cảnh ảm đạm, tiêu điều trong một ngày mưa ở bến đò. + Liệt kê: Chỉ ra những hình ảnh cảnh vật, con người trong ngày mưa tại bến đò, góp phần khắc họa chi tiết khung cảnh ảm đạm, tiêu điều ấy. Câu 4. – Bức tranh bến đò ngày mưa được tác giả miêu tả qua những hình ảnh: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ, quán hàng đứng xo ro, quán hàng đứng xo ro, một bác lái ghé vào hút điếu, bà hàng sù sụ sặc hơi, ho, họa hoằn có người đến chợ, họa hoằn có con thuyền ghé chở, thúng đội đầu như đội cả trời mưa. – Những hình ảnh đó gợi cho em cảm nhận về một khung cảnh ảm đạm, hoang vắng, tiêu điều. Câu 5. Bức tranh bến đò ngày mưa là một bức tranh vắng lặng, ảm đạm, đơn điệu và tẻ nhạt, ẩn chứa nỗi buồn man mác. Dù bức tranh cảnh vật có bóng dáng của con người nhưng hình ảnh con người đều ít ỏi, dường như chỉ là "một", "họa hoằn" mới xuất hiện; còn khi xuất hiện thì hầu hết con người đều trong trạng thái mệt mỏi, buồn lặng, càng tô đậm thêm sự đơn điệu, ảm đạm của cảnh vật. Như vậy, qua bức tranh này, bài thơ gợi lên nỗi buồn man mác, sự lạnh lẽo, cô đơn trước cuộc sống vắng lặng, tiêu điều nơi đây.
Câu 1. Thể loại: Truyện trinh thám. Câu 2. Ngôi kể: Ngôi thứ ba. Câu 3. – Kiểu câu ghép: Câu ghép đẳng lập. – Quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép: + Vế 1: Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà. + Vế 2: tôi thấy rõ những vệt bánh xe, loại xe nhỏ hai chỗ chở thuê. + Vế 3: tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước. => Các vế câu được nối với nhau bởi kết từ và, thể hiện quan hệ bổ sung giữa các vế câu. Câu 4. Vụ án này được coi là một vụ án nan giải, hóc búa vì: – Trên thi thể của nạn nhân không hề có vết thương nào nhưng trong căn phòng lại có nhiều vết máu. – Tại hiện trường vụ án có nhiều điểm đáng ngờ như chiếc nhẫn cưới, chữ viết “Rache” trên mé tường tối tăm và dưới thi thể của nạn nhân thứ hai. – Hai vụ án xảy ra liên tiếp khiến cho các điều tra viên phải đau đầu vì khó mà xác định được nghi phạm và động cơ gây án thực sự. Câu 5. – Cách lập luận của Holmes trong văn bản . – Holmes là một thám tử tài ba vì ông có cách lập luận vô cùng chặt chẽ, giàu sức thuyết phục: + Trước một vụ án nan giải, ông đã tư duy ngược để tìm ra hung thủ thực sự dựa trên cái nhìn khách quan, công bằng. + Ông còn tận dụng được triệt để các manh mối, dù là manh mối nhỏ nhất bị cảnh sát bỏ qua để xác lập nên các giả thiết, thu hẹp các khả năng để từ đó tìm ra hung thủ.
Câu 1. Thể loại: Truyện trinh thám. Câu 2. Ngôi kể: Ngôi thứ ba. Câu 3. – Kiểu câu ghép: Câu ghép đẳng lập. – Quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép: + Vế 1: Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà. + Vế 2: tôi thấy rõ những vệt bánh xe, loại xe nhỏ hai chỗ chở thuê. + Vế 3: tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước. => Các vế câu được nối với nhau bởi kết từ và, thể hiện quan hệ bổ sung giữa các vế câu. Câu 4. Vụ án này được coi là một vụ án nan giải, hóc búa vì: – Trên thi thể của nạn nhân không hề có vết thương nào nhưng trong căn phòng lại có nhiều vết máu. – Tại hiện trường vụ án có nhiều điểm đáng ngờ như chiếc nhẫn cưới, chữ viết “Rache” trên mé tường tối tăm và dưới thi thể của nạn nhân thứ hai. – Hai vụ án xảy ra liên tiếp khiến cho các điều tra viên phải đau đầu vì khó mà xác định được nghi phạm và động cơ gây án thực sự. Câu 5. – Cách lập luận của Holmes trong văn bản . – Holmes là một thám tử tài ba vì ông có cách lập luận vô cùng chặt chẽ, giàu sức thuyết phục: + Trước một vụ án nan giải, ông đã tư duy ngược để tìm ra hung thủ thực sự dựa trên cái nhìn khách quan, công bằng. + Ông còn tận dụng được triệt để các manh mối, dù là manh mối nhỏ nhất bị cảnh sát bỏ qua để xác lập nên các giả thiết, thu hẹp các khả năng để từ đó tìm ra hung thủ.
Câu 1. Trong đoạn trích, Lê Tương Dực hiện lên là một vị vua hôn quân, mê tửu sắc, xa hoa và hoàn toàn bỏ bê chính sự. Khi Trịnh Duy Sản xin vào tâu việc nước, vua ngay từ đầu đã tỏ thái độ khó chịu, cho thấy sự thiếu trách nhiệm, chỉ quan tâm đến việc xây Cửu Trùng Đài – nơi hưởng lạc của mình. Trong suốt cuộc đối thoại, nhà vua liên tục bác bỏ lời can gián của trung thần dù tình hình đất nước đang vô cùng nguy cấp. Trước những báo cáo về giặc giã nổi lên khắp nơi, vua vẫn tỏ ra chủ quan, xem nhẹ nguy cơ, thậm chí cười nhạo, chứng tỏ sự ngu muội và mù quáng của một kẻ đứng đầu triều đình nhưng không hiểu thời cuộc. Không những vậy, khi bị phê phán tội mê sắc đẹp và tin vào bọn cung nữ, vua hoàn toàn mất bình tĩnh, nổi giận và xúc phạm trung thần, bộc lộ bản chất độc đoán, ích kỉ, chỉ biết hưởng lạc. Lê Tương Dực là điển hình của kiểu vua tàn bạo, đắm chìm trong sắc dục và công trình xa xỉ, khiến lòng dân oán than, giặc giã nổi loạn. Qua hình tượng này, tác giả đã lên án gay gắt sự suy đồi của tầng lớp cầm quyền, đồng thời nhấn mạnh bi kịch của đất nước dưới tay một kẻ hôn quân như Lê Tương Dực. --- Câu 2. Trong xã hội hiện đại, khi nhịp sống trở nên vội vã và mỗi người phải đối mặt với nhiều áp lực, “bệnh vô cảm” ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt là trong giới trẻ. Vô cảm là thái độ lạnh lùng, thờ ơ trước nỗi đau, khó khăn của người khác, thậm chí dửng dưng trước những điều tốt đẹp hay xấu xa diễn ra quanh mình. Đây là một hiện tượng đáng lo ngại, bởi lớp trẻ chính là tương lai của đất nước, là những người sẽ tạo nên nền tảng đạo đức và nhân văn cho xã hội mai sau. Biểu hiện của bệnh vô cảm không khó nhận ra: thấy người gặp nạn nhưng không giúp; thấy bạn bè bị bạo lực mà chỉ đứng quay phim, chụp hình; thờ ơ với những câu chuyện bất công; dửng dưng trước nỗi đau của cha mẹ; hay khép mình trong thế giới mạng, ngại giao tiếp và không muốn chia sẻ. Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ lối sống cá nhân hóa, ảnh hưởng của mạng xã hội, sự bận rộn của gia đình khiến trẻ thiếu sự giáo dục về lòng trắc ẩn, và đặc biệt là sự xuống cấp của những giá trị nhân văn truyền thống. Hậu quả của bệnh vô cảm vô cùng nghiêm trọng: nó làm cho con người xa cách nhau, khiến xã hội trở nên lạnh lẽo, mất đi sự gắn kết; cái ác dễ dàng phát triển hơn khi nhiều người chọn im lặng trước bất công. Một cộng đồng mà con người không còn biết yêu thương, giúp đỡ nhau thì sẽ không thể phát triển bền vững. Vì vậy, giới trẻ cần học cách quan tâm, thấu hiểu người khác, biết mở lòng sẻ chia và hành động trước những hoàn cảnh bất hạnh. Mỗi bạn trẻ hãy bắt đầu từ những việc nhỏ: giúp đỡ bạn bè, cảm thông với cha mẹ, tham gia hoạt động tình nguyện… Khi trái tim biết rung động trước nỗi đau của người khác cũng là lúc ta tạo nên giá trị đẹp cho chính mình. Sự tử tế sẽ làm cho xã hội tốt đẹp hơn và giúp mỗi người sống ý nghĩa hơn.
Câu 1. Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc nào? Đoạn trích tái hiện lại cuộc đối thoại gay gắt giữa Trịnh Duy Sản và vua Lê Tương Dực, trong đó Trịnh Duy Sản can gián vua dừng xây Cửu Trùng Đài, chấn chỉnh chính sự, lo việc nước và cảnh báo giặc giã nổi lên khắp nơi. Vua không nghe mà còn nổi giận, đuổi Trịnh Duy Sản ra ngoài. --- Câu 2. Dẫn ra một lời độc thoại của nhân vật trong đoạn trích. Lời độc thoại là lời nhân vật tự nói một mình, không hướng tới người khác. Ví dụ: “Dâm dật là mầm bại vong, xa xỉ là nguồn loạn lạc.” (Trịnh Duy Sản) Hoặc: “Lão gàn quái! Có việc gì khẩn cấp?” (Lê Tương Dực nói một mình, trước khi cho vào yết kiến) Chỉ cần dẫn một câu. --- Câu 3. Nhận xét về những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực. Chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực thường thể hiện cử chỉ, thái độ, sắc mặt, ví dụ: (cau mặt), (nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ). Những chỉ dẫn này giúp: Khắc họa rõ tính cách hôn quân, nóng nảy, độc đoán. Thể hiện diễn biến tâm lý: từ khó chịu, bực tức đến giận dữ khi bị can ngăn. Tăng tính kịch tính và trực quan cho cảnh diễn, hỗ trợ diễn viên thể hiện vai vua. --- Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn văn: Biện pháp tu từ được sử dụng: Liệt kê (tên các nhóm giặc, các tội ác, tình trạng khổ cực của dân). Nói quá / phóng đại: “Tiếng oán thán nổi lên đầy trời”. Điệp cấu trúc: lặp kiểu liệt kê để tăng dồn dập. Tác dụng: Tái hiện bức tranh loạn lạc rộng lớn, căng thẳng và bất ổn của đất nước. Nhấn mạnh tình trạng khổ cực cùng cực của nhân dân và mức độ nghiêm trọng của giặc giã. Tố cáo sự đổ nát của triều đình thời Lê Tương Dực. Thể hiện tấm lòng trung quân, lo cho dân cho nước của Trịnh Duy Sản. Tăng sức thuyết phục để cảnh báo vua về hiểm họa đang tới gần. --- Câu 5. Từ đoạn trích, em có nhận xét gì về bối cảnh xã hội lúc bấy giờ? Xã hội loạn lạc, rối ren, giặc nổi lên khắp nơi. Nhân dân rơi vào cảnh cùng cực, bị bóc lột sưu thuế, nhà cửa bị đốt phá, phải bỏ ruộng vườn. Triều đình suy yếu và mục nát: vua thì mê tửu sắc, xa hoa; quan lại bất lực, bịt tai trước lời can gián. Mâu thuẫn giữa triều đình – nhân dân, giữa nhà vua – các trung thần trở nên gay gắt. Đất nước đứng trước nguy cơ sụp đổ, “họa đến nơi”. → Đây là bối cảnh khủng hoảng chính trị – xã hội, báo hiệu sự sụp đổ của triều Lê Tương Dực.
--- Câu 1 Nhân vật Dung trong đoạn trích Hai lần chết của Thạch Lam là hình ảnh tiêu biểu cho số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Từ nhỏ, Dung đã lớn lên trong sự hờ hững của gia đình và bị chính mẹ đẻ bán đi để đổi lấy mấy trăm đồng bạc. Cuộc đời nàng rơi vào bi kịch khi phải làm dâu trong một gia đình hà khắc: mẹ chồng cay nghiệt, chồng nhu nhược, em chồng ghê gớm. Dung bị bóc lột cả sức lao động lẫn tinh thần, không có chỗ dựa, không được thương yêu hay cảm thông. Trong tuyệt vọng, nàng viết thư về nhà cầu cứu nhưng chỉ nhận lại sự lạnh lùng và ích kỷ của cha mẹ. Khi bị dồn đến đường cùng, Dung tìm đến cái chết như lối thoát cuối cùng cho cuộc đời tăm tối. Tuy nhiên, ngay cả khi từ cõi chết trở về, nàng vẫn tiếp tục phải chịu sự đay nghiến và thái độ độc đoán của mẹ chồng, để rồi cuối cùng buồn bã chấp nhận “xin về”. Qua nhân vật Dung, Thạch Lam thể hiện niềm thương xót sâu sắc trước số phận bi thảm của người phụ nữ thời phong kiến, đồng thời lên án những hủ tục và bất công xã hội đã đẩy họ vào con đường bế tắc. --- Câu 2 Trong xã hội hiện đại, bình đẳng giới là một trong những giá trị nhân văn quan trọng, phản ánh mức độ phát triển của mỗi quốc gia. Bình đẳng giới không chỉ là việc nam và nữ được đối xử công bằng, mà còn là cơ hội như nhau để học tập, lao động, cống hiến và được tôn trọng. Hiện nay, vấn đề này đã có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận: phụ nữ tham gia ngày càng nhiều trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học; nam giới cũng được khuyến khích chia sẻ công việc gia đình. Tuy vậy, thực tế vẫn còn tồn tại nhiều rào cản. Không ít phụ nữ phải chịu định kiến giới, lựa chọn nghề nghiệp bị hạn chế, chịu bạo lực gia đình hoặc áp lực “giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Trong khi đó, nhiều nam giới cũng đối mặt với những khuôn mẫu khắt khe, bị yêu cầu luôn mạnh mẽ, thành đạt, không được phép bộc lộ cảm xúc. Những quan niệm lạc hậu ấy khiến cả hai giới đều bị tổn thương. Để xây dựng một xã hội văn minh, điều quan trọng là mỗi người cần thay đổi nhận thức: tôn trọng giá trị cá nhân thay vì áp đặt vai trò giới. Gia đình cần giáo dục trẻ em từ nhỏ về sự công bằng; nhà trường đưa nội dung bình đẳng giới vào giảng dạy; xã hội tạo môi trường để mọi người phát huy năng lực mà không bị phân biệt. Bình đẳng giới không chỉ đem lại quyền lợi cho phụ nữ hay nam giới, mà còn góp phần tạo nên một cộng đồng hài hòa, tiến bộ và hạnh phúc. Khi cả hai giới đều được sống là chính mình, được yêu thương và tôn trọng, đó mới là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của xã hội.
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản. Luận đề: Chi tiết cái bóng trong Chuyện người con gái Nam Xương là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần tạo nên tình huống truyện độc đáo và giúp làm nổi bật tư tưởng lên án thói ghen tuông mù quáng của con người. --- Câu 2. Tình huống truyện độc đáo nào làm truyện hấp dẫn? Theo người viết, truyện hấp dẫn bởi tình huống: → Sau khi Trương Sinh đi lính trở về, đứa con lại nhận cái bóng là “cha” và kể rằng đêm nào cũng có một người đàn ông theo mẹ, khiến Trương Sinh hiểu lầm, dẫn đến bi kịch. (Được nêu rõ ở đoạn (1).) --- Câu 3. Mục đích của việc nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu? Việc nhắc lại tình huống truyện nhằm: Dẫn dắt vào vấn đề chính của bài viết – bàn về chi tiết cái bóng. Khẳng định vai trò quan trọng của tình huống truyện trong sự hấp dẫn của tác phẩm. Tạo cơ sở để người viết phân tích vì sao chi tiết cái bóng có ý nghĩa nghệ thuật lớn. --- Câu 4. Chỉ ra một chi tiết khách quan và một chi tiết chủ quan trong đoạn (2). Nhận xét mối quan hệ giữa chúng. Chi tiết khách quan: Mô tả trò chơi soi bóng ngày xưa: → “Ngày xưa chưa có tivi… con cái thường quây quần… chơi trò soi bóng trên tường.” → “Người vợ… tối tối cũng chỉ còn biết chơi đùa với con bằng trò chơi ấy.” Chi tiết chủ quan (cảm nhận, suy đoán của tác giả): “Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà…” “Và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng…” Nhận xét về mối quan hệ: Chi tiết khách quan làm cơ sở thực tế – nền tảng của phân tích. Chi tiết chủ quan mở rộng ý nghĩa, cho thấy chiều sâu cảm xúc, cách hiểu của tác giả. → Hai kiểu trình bày này bổ sung cho nhau, giúp lập luận thêm thuyết phục, sinh động và giàu tính nhân văn. --- Câu 5. Vì sao người viết cho rằng chi tiết cái bóng là chi tiết nghệ thuật đặc sắc? Người viết cho rằng chi tiết cái bóng đặc sắc vì: 1. Được lấy từ đời sống dân gian quen thuộc (trò chơi soi bóng), nên tự nhiên, hợp lí. 2. Được nâng lên thành cái cớ tạo nên tình huống truyện độc đáo, dẫn trực tiếp đến bi kịch. 3. Không mang “oan khiên” như có người nghĩ, mà là một dụng ý nghệ thuật tinh tế của người kể chuyện. 4. Giúp khắc hoạ tấm lòng thuỷ chung, thương nhớ chồng và yêu con của Vũ Nương. 5. Góp phần làm nổi bật chủ đề lên án thói ghen tuông mù quáng của Trương Sinh.
Câu 1. Đạm Tiên hiện lên trong đoạn trích là một hình ảnh điển hình của “hồng nhan bạc phận”: nàng sở hữu vẻ đẹp, tài năng được ca ngợi (“Nổi danh tài sắc một thì”), nhưng đồng thời số phận mong manh, dễ bị lung lay (“Phận hồng nhan có mong manh”), cuộc đời nàng trở nên cô đơn, lặng lẽ khi không còn chỗ dựa. Hình ảnh buồng trống, dấu xe ngựa rêu lờ mờ xanh, lời than khôn xiết đầy tiếc thương đều khắc họa hoàn cảnh bị lãng quên và nỗi bi thương. Tác giả còn dùng nhiều từ láy, hình ảnh gợi cảm để nhấn mạnh sự tàn phai, hoa rụng và sự bấp bênh của phận người đẹp. Như vậy, Đạm Tiên vừa là biểu tượng của vẻ đẹp văn chương vừa là hình ảnh bi kịch cho cái “mỏng manh” của số phận phụ nữ trong xã hội phong kiến, khiến người đọc vừa thương vừa xót. Câu 2 Trong thời đại công nghệ, mạng xã hội đem lại nhiều tiện ích: cung cấp thông tin, kết nối bạn bè, hỗ trợ học tập. Tuy nhiên, việc lạm dụng mạng xã hội khiến không ít học sinh sa đà, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập và đời sống xã hội. Trước hết, sử dụng quá nhiều mạng xã hội làm giảm thời gian học tập, dễ xao nhãng vì thông báo, video giải trí; dẫn tới kết quả học tập sa sút. Thứ hai, thói quen này làm giảm khả năng giao tiếp trực tiếp, khiến nhiều em e dè, thiếu kỹ năng ứng xử nơi công cộng. Cuối cùng, nếu không chọn lọc thông tin, học sinh có thể tiếp nhận tin giả, nội dung tiêu cực ảnh hưởng đến tư tưởng, hành vi. Để khắc phục, cần có biện pháp từ gia đình, nhà trường và bản thân. Gia đình nên quản lý thời gian sử dụng thiết bị của con, khuyến khích hoạt động ngoài trời, trò chuyện trực tiếp. Nhà trường cần có chương trình giáo dục kĩ năng số, hướng dẫn sử dụng mạng xã hội an toàn và có lợi cho học tập; đồng thời tổ chức các hoạt động tập thể thu hút học sinh tham gia. Bản thân mỗi học sinh cần tự giác thiết lập giờ học cố định, tắt thông báo khi học, chọn lọc nội dung và biết dùng mạng xã hội như công cụ hỗ trợ chứ không phải để giải trí vô tội vạ. Ngoài ra, có thể sử dụng ứng dụng quản lý thời gian để kiểm soát màn hình. Tóm lại, mạng xã hội là công cụ hữu ích nếu biết sử dụng hợp lý. Việc kết hợp quản lý từ gia đình – nhà trường – bản thân sẽ giúp học sinh tận dụng ưu điểm của mạng xã hội mà tránh được hệ lụy xấu, giữ cân bằng giữa học tập và giải trí.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. Văn bản được viết theo thể thơ lục bát Câu 2. Xác định kiểu lời thoại của nhân vật trong hai dòng thơ sau: Rằng: “Sao trong tiết Thanh minh, Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?” Đây là lời dẫn trực tiếp ,có dấu ngoặc kép, trích dẫn lời nói , kiểu lời thoại trực tiếp, biểu hiện sự thán phục,thắc mắc, chất giọng của người kể/nhân vật khi nhận xét. Câu 3. Nhận xét về hệ thống từ láy được tác giả sử dụng trong văn bản. Trong đoạn trích có nhiều từ láy như “sè sè”, “dầu dẫu”, “xôn xao”, “rêu lờ mờ”… Từ láy được dùng phong phú, tạo âm điệu mềm mại, nhịp điệu du dương, kết hợp với hình ảnh gợi cảm khiến câu thơ vừa giàu nhạc tính vừa giàu sức gợi. Từ láy giúp miêu tả cảnh vật và tâm trạng , làm cho cảnh buồn, cô đơn, phai nhạt hiện rõ hơn, đồng thời nhấn mạnh tính mong manh, bẽ bàng của số phận người phụ nữ. Câu 4 Thúy Kiều tỏ ra thương cảm, xót xa, đồng cảm sâu sắc với số phận Đạm Tiên (thán lên: “Đau đớn thay, phận đàn bà!”). Cảm xúc của Kiều cho thấy cô là người con gái đồng cảm, giàu lòng trắc ẩn, tinh tế và có nhân cách nhạy cảm — biết nhìn thấy nỗi khổ của người khác, dễ rung động trước bất hạnh, không chỉ nghĩ cho riêng mình. Câu 5 Bài học rút ra: cần giữ lòng trắc ẩn, đồng cảm với người khác, không thờ ơ trước nỗi bất hạnh. Ngoài ra nên biết đề phòng, trân trọng giá trị đạo đức, trau dồi nhân cách để không vô tình làm tổn thương người khác. Vì văn bản nhắc ta thấy số phận con người mong manh và cần sự chia sẻ, thương yêu để bớt cô đơn.