Lê Thị Thu Trang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Thị Thu Trang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 : Văn bản trên thuộc thể loại : Truyện truyền kì
Câu 2 : Ngôi kể được sử dụng trong văn bản : Ngôi thứ ba
Câu 3 : Theo em : - nhân vật chính trong văn bản trên là : Lí Hữu Chi
- tính cách :
+ Là một người tham lam , độc ác , ngông cuồng , coi thường người khác
+ Ham muốn tiền của tài sản và sắc đẹp
+ Cậy quyên thế địa vị cao hành hạ , bốc lột nhân dân
Câu 4 :
- Chi tiết hoang đường, kì ảo : Lý Hữu Chí thấy cảnh bị trừng phạt dưới âm phủ trong chùm hạt châu .
-Tác dụng :
+ Làm cho câu văn tăng tính li kì cho truyện , huyền bí , sinh động , hấp dẫn , đem đến cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc .
+ Nhấn mạnh điềm báo trước hình phạt nghiêm khắc mà Hữu Chi sẽ phải chịu, khẳng định quy luật “thiện ác hữu báo”.
+ Qua đó, Nguyễn Dữ muốn muốn khuyên con người phải sống nhân nghĩa , tránh điều ác làm nhiều điều thiện vì dù đã thoát khỏi hình phạt ở trần gian thì vẫn không thoát khỏi báo ứng ở dưới cõi âm .
Câu 5 :
- Ý nghĩa :Truyện khẳng định đạo lí “ở hiền gặp lành, ở ác thì gặp ác”, cảnh tình những kẻ tham lam, tàn bạo sẽ phải trả giá trước những gì mình đã làm vì " luật nhân quả không chừa một ai ".
- Bài học : Bản thân em luôn hiểu được rằng cần phải sống lương thiện , ngay lành và phải biết yêu thương , không vì lợi ích riêng của bản thân mình mà làm điều trái đạo đức hay gây hại ch những người khác .

Trong nền văn học trung đại Việt Nam, “Chinh phụ ngâm” là khúc ngâm đầy xúc cảm nói về nỗi cô đơn, nhớ thương của người vợ có chồng đi chinh chiến. Tác phẩm do Đặng Trần Côn sáng tác bằng chữ Hán và được Đoàn Thị Điểm dịch ra thơ Nôm với ngôn từ trau chuốt, tinh tế. Đoạn trích sau đã tái hiện một cách chân thực và sâu sắc tâm trạng người chinh phụ trong những đêm dài trông ngóng, qua đó thể hiện rõ giá trị nhân đạo cùng nghệ thuật miêu tả nội tâm đặc sắc của tác phẩm.
Ngay từ những câu thơ đầu tiên , không gian và thời gian được gợi ra thật vắng lặng : “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, / Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.” Hình ảnh người chinh phụ đi đi lại lại nơi hiên vắng cho thấy nỗi cô đơn cùng sự nhớ mong trong lòng. Không gian “rèm thưa”, “hiên vắng” khiến nỗi buồn như thấm đẫm khắp nơi, từng bước chân cũng trở nên nặng nề, u uất. Những hình ảnh quen thuộc như rèm, đèn, bóng, tiếng gà, khói hương... được khéo léo sử dụng để diễn tả nội tâm người phụ nữ. Đó là một thế giới lặng lẽ, chỉ còn lại người và là nỗi nhớ . Thi sĩ đã nhân hóa ngọn đèn để thể hiện tâm trạng: “Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? / Đèn có biết dường bằng chẳng biết, / Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.” Người chinh phụ cô độc đến mức mong cả ngọn đèn vô tri có thể thấu hiểu được lòng mình. Câu hỏi tu từ đã cất lên như một tiếng thở dài, gợi cảm giác cô đơn đến tột cùng. Đèn – biểu tượng của sự sáng, của tri âm, lại trở nên bất lực trước nỗi đau của con người. Bởi vậy, dù “hoa đèn kia với bóng người khá thương”, nỗi buồn vẫn cứ vẫn trĩu nặng . Thời gian trong đoạn thơ như ngưng đọng. “Gà eo óc gáy sương năm trống, / Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.” Tiếng gà báo sáng mà đêm vẫn dài lê thê, bóng của cây hoè rủ buồn như cùng chia sẻ tâm trạng với con người. Nỗi buồn sầu của người chinh phụ được ví “dằng dặc tựa miền biển xa” – nỗi buồn vô tận, không có điểm dừng. Càng mong ngóng, càng đau buồn , thời gian lại càng nặng nề hơn , “khắc giờ đằng đẳng như niên”.Càng về sau, tâm trạng của nhân vật càng bộc lộ sâu sắc hơn qua các hành động “gượng”: “Hương gượng đốt hồn đà mê mải, / Gương gượng soi lệ lại châu chan. / Sắt cầm gượng gảy ngón đàn, / Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.” Từ “gượng” lặp lại ba lần gợi cảm giác gò ép, miễn cưỡng – người phụ nữ cố gắng tìm niềm vui trong những thú tiêu khiển quen thuộc, nhưng nỗi nhớ thương đã khiến mọi việc trở nên vô nghĩa. Hành động đốt hương, soi gương, gảy đàn – những hình ảnh ấy rất nữ tính – đều thất bại trong việc xoa dịu nỗi buồn. Đặc biệt, “dây uyên kinh đứt” là hình ảnh ẩn dụ sâu sắc cho sự tan vỡ của hạnh phúc, cho tình duyên bị chia lìa.

Về nghệ thuật, đoạn thơ song thất lục bát thể hiện tài năng bậc thầy của tác giả và người dịch. Các biện pháp nghệ thuật như nhân hoá, ẩn dụ, so sánh, điệp từ, câu hỏi tu từ được sử dụng tinh tế, góp phần khắc họa rõ nét nội tâm nhân vật. Giọng thơ trầm buồn, tha thiết, nhịp thơ uyển chuyển theo cảm xúc, khiến người đọc như lắng nghe được tiếng lòng thổn thức của người chinh phụ. Ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh, mỗi câu thơ như một nét chạm tinh tế vào nỗi buồn muôn thuở của con người trong cô đơn.

Như vậy , đoạn trích “Chinh phụ ngâm” không chỉ khắc họa nỗi cô đơn và nhớ thương của người vợ có chồng ra trận, mà còn thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc – cảm thông, trân trọng những khát khao hạnh phúc và tình yêu của con người. Cung với ngôn từ tinh tế, hình ảnh gợi cảm và cảm xúc chân thành, đoạn thơ đã trở thành một trong những khúc ngâm ca buồn nhưng đẹp nhất của văn học Việt Nam trung đại ta .

- Thông điệp ý nghĩa nhất mà em rút ra là : chúng ta không thể tham lam , không thể có được tất cả mọi thứ ; khi ta không chấp nhận bằng lòng thì cũng sẽ mất hết .
- Vì :
+ Mỗi người chúng ta trên cuộc đời này chẳng ai được hoàn hảo chẳng ai có thể có tất cả , mỗi người đều có những cái riêng của mình .
+ Nên biết chấp nhận một điều nào đó không thuộc về mình nhưng hãy nhớ có một ngày sẽ có những thứ tốt đẹp khác thuộc về mình
+ Nếu như chúng ta không tập sống cách chấp nhận thì cũng có thể sẽ mất đi những gì mà mình đã không trân trọng .


-Lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích: vào núi Hoành Sơn cỏ , rời xa cuộc sống trên trần gian
-Lý giải : Khi đó Từ Thức cảm thấy mình trở thành người lạc lõng , vì chốn đang ở cõi thần tiên không còn ở trần gian này . Hành động vào núi đã thể hiện nỗi buồn muốn tìm cách thoát khỏi và đành phải chấp nhận số phận, đồng thời bày tỏ cảm giác cô đơn và mất mát.