Vũ Ánh Nhật
Giới thiệu về bản thân
câu 1lục bát
câu 2 đối thoại
câu 3 góp phần đắc lực trong việc khắc họa tâm trạng cảm xúc của nhân vật và không gian
câu 4
tâm trạng dầm dầm châu sa và lời than đau đớn thay phận đàn bà
điều này cho thấy Thúy Kiều là người có tấm lòng vị tha nhân hậu và đồng cảm với những số phận của phụ nữ thời phong kiến
câu 5
bài học về sự đồng ca,r và lòng nhân ái
vì
văn bản dạy về sự thấu hiểu và chia sẻ vớinỗi đau của người khác
bài học về việc trân trọng những gì đang có, sống có ý nghĩa và biết vươn lên trước nghịch cảnh.
câu 1 thể thơ song thất lục bát
Câu2 trải mấy Xuân tin đi tin lại
Tới Xuân này tin hãy vắng không
Câu3
Sắm áo bông để chồng mặc
Dạo hiên vắng ngồi trông rèm cửa
Gieo que bói để mong biết tin
Ngẩn ngơ trong ánh trăng
Câu4 bptt nhân hoá
Tác dụng nhân hoá chiếcđèn như ng bạn tri kỉ chứng kiến nỗi buồn cô đơn của người chinh phụ
Câu 5 tâm trạng mong nhớ đau buồn đơn côi vì xa cách chồng
Suy nghĩ về giá trị
chiến tranh mang lại nhiều đau thương mất má trong cuộc sống
biết trân trọng hòa bình tự do vì nó là vô giá
câu 1 thể thơ song thất lục bát
Câu2 trải mấy Xuân tin đi tin lại
Tới Xuân này tin hãy vắng không
Câu3
Sắm áo bông để chồng mặc
Dạo hiên vắng ngồi trông rèm cửa
Gieo que bói để mong biết tin
Ngẩn ngơ trong ánh trăng
Câu4 bptt nhân hoá
Tác dụng nhân hoá chiếcđèn như ng bạn tri kỉ chứng kiến nỗi buồn cô đơn của người chinh phụ
Câu 5 tâm trạng mong nhớ đau buồn đơn côi vì xa cách chồng
Suy nghĩ về giá trị
chiến tranh mang lại nhiều đau thương mất má trong cuộc sống
biết trân trọng hòa bình tự do vì nó là vô giá
câu 1 thể thơ song thất lục bát
Câu2 trải mấy Xuân tin đi tin lại
Tới Xuân này tin hãy vắng không
Câu3
Sắm áo bông để chồng mặc
Dạo hiên vắng ngồi trông rèm cửa
Gieo que bói để mong biết tin
Ngẩn ngơ trong ánh trăng
Câu4 bptt nhân hoá
Tác dụng nhân hoá chiếcđèn như ng bạn tri kỉ chứng kiến nỗi buồn cô đơn của người chinh phụ
Câu 5 tâm trạng mong nhớ đau buồn đơn côi vì xa cách chồng
Suy nghĩ về giá trị
chiến tranh mang lại nhiều đau thương mất má trong cuộc sống
biết trân trọng hòa bình tự do vì nó là vô giá
câu 1 thể thơ song thất lục bát
Câu2 trải mấy Xuân tin đi tin lại
Tới Xuân này tin hãy vắng không
Câu3
Sắm áo bông để chồng mặc
Dạo hiên vắng ngồi trông rèm cửa
Gieo que bói để mong biết tin
Ngẩn ngơ trong ánh trăng
Câu4 bptt nhân hoá
Tác dụng nhân hoá chiếcđèn như ng bạn tri kỉ chứng kiến nỗi buồn cô đơn của người chinh phụ
Câu 5 tâm trạng mong nhớ đau buồn đơn côi vì xa cách chồng
Suy nghĩ về giá trị
chiến tranh mang lại nhiều đau thương mất má trong cuộc sống
biết trân trọng hòa bình tự do vì nó là vô giá
câu 1 thể thơ song thất lục bát
Câu2 trải mấy Xuân tin đi tin lại
Tới Xuân này tin hãy vắng không
Câu3
Sắm áo bông để chồng mặc
Dạo hiên vắng ngồi trông rèm cửa
Gieo que bói để mong biết tin
Ngẩn ngơ trong ánh trăng
Câu4 bptt nhân hoá
Tác dụng nhân hoá chiếcđèn như ng bạn tri kỉ chứng kiến nỗi buồn cô đơn của người chinh phụ
Câu 5 tâm trạng mong nhớ đau buồn đơn côi vì xa cách chồng
Suy nghĩ về giá trị
chiến tranh mang lại nhiều đau thương mất má trong cuộc sống
biết trân trọng hòa bình tự do vì nó là vô giá
câu 1 thể thơ song thất lục bát
Câu2 trải mấy Xuân tin đi tin lại
Tới Xuân này tin hãy vắng không
Câu3
Sắm áo bông để chồng mặc
Dạo hiên vắng ngồi trông rèm cửa
Gieo que bói để mong biết tin
Ngẩn ngơ trong ánh trăng
Câu4 bptt nhân hoá
Tác dụng nhân hoá chiếcđèn như ng bạn tri kỉ chứng kiến nỗi buồn cô đơn của người chinh phụ
Câu 5 tâm trạng mong nhớ đau buồn đơn côi vì xa cách chồng
Suy nghĩ về giá trị
chiến tranh mang lại nhiều đau thương mất má trong cuộc sống
biết trân trọng hòa bình tự do vì nó là vô giá
Caau1Nhân vật Hữu Chi trong truyện “Chuyện Lý tướng quân” là hình ảnh tiêu biểu cho kiểu người có tài nhưng bị lòng tham làm lu mờ lương tri và đạo đức. Ban đầu, Hữu Chi là một vị tướng tài, có công với triều đình, được người dân kính trọng. Tuy nhiên, khi có được địa vị và quyền lực, ông dần trở nên tham lam, sa vào con đường vơ vét, bóc lột dân chúng để làm giàu cho bản thân. Sự biến đổi trong tính cách và hành vi của Hữu Chi phản ánh sự tha hóa đạo đức khi con người bị chi phối bởi dục vọng cá nhân. Đỉnh điểm là khi ông bị trừng phạt một cách thích đáng, cho thấy sự nghiêm khắc của công lý và quy luật nhân quả trong cuộc sống. Thông qua nhân vật Hữu Chi, tác giả gửi gắm bài học sâu sắc về sự nguy hiểm của lòng tham và sự cần thiết phải sống lương thiện, biết điểm dừng. Đây là lời cảnh tỉnh cho mỗi người: nếu không biết kiểm soát dục vọng, con người có thể đánh mất tất cả – từ danh dự, sự nghiệp đến chính cuộc đời mình.
Caau1Văn bản thuộc thể loại truyện truyền kì.
Câu 2 ngôi kể thứ ba
Câu 3− Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.
− Đặc điểm nhân vật: Dữ tợn, tham lam, độc ác, ích kỉ, bạo ngược, coi thường đạo lí.
Câu4Chi tiết kì ảo: Thúc Khoản xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xử tội các linh hồn.
+ Tác dụng:
++ Làm tăng thêm sức hấp dẫn, li kì cho truyện.
++ Nhấn mạnh luật nhân quả, sự công minh của "lưới trời", qua đó thể hiện chủ đề, tư tưởng của truyện và nhấn mạnh đạo lí ở hiền
Câu5– Ý nghĩa văn bản: Qua truyện Chuyện Lý tướng quân, truyện không chỉ lên án, tố cáo Lý tướng quân đã lạm quyền mà trở nên tàn ác, tham lam, coi thường đạo lí, làm nhiều chuyện ác mà còn từ chính câu chuyện ấy, khẳng định sự công minh của "lưới trời", nhấn mạnh lối sống "ác giả ác báo, thiện giả thiện báo".
Đoạn trích trong *Chinh phụ ngâm* (Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm dịch) là bức tranh tâm trạng đầy xót xa của người chinh phụ trong những đêm cô đơn chờ chồng nơi chiến trận. Qua đó, nỗi nhớ thương, cô quạnh và khao khát đoàn tụ của người phụ nữ được thể hiện sâu sắc bằng những nét nghệ thuật tinh tế.
Mở đầu đoạn thơ, hình ảnh “dạo hiên vắng”, “ngồi rèm thưa” cùng nhịp thơ chậm gợi dáng vẻ lẻ loi, thẫn thờ của người chinh phụ. Nàng đi lại, ngồi xuống trong không gian tĩnh mịch, trống vắng, biểu hiện tâm trạng mong ngóng khắc khoải. Ngoài rèm, “thước chẳng mách tin” – điềm chẳng lành trong quan niệm dân gian – càng khiến nỗi chờ thêm mòn mỏi. Câu hỏi tu từ “Đèn có biết dường bằng chẳng biết” diễn tả nỗi cô độc tột cùng: nàng chỉ có thể tâm sự với ngọn đèn – vật vô tri – để rồi nhận lại sự im lặng. Nỗi cô đơn của con người trong cô quạnh đã đạt đến mức thấm thía.
Sang tám câu tiếp, khung cảnh đêm khuya hiện lên cùng tiếng “gà eo óc gáy sương năm trống”, bóng hoè “phất phơ” khiến thời gian như dài vô tận. Nhà thơ sử dụng phép so sánh “Khắc giờ đằng đẳng như niên / Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa” để khắc họa nỗi nhớ và nỗi sầu của người chinh phụ sâu rộng, mênh mang, không có điểm dừng. Các từ láy “đằng đẳng”, “dằng dặc” vừa gợi thời gian lê thê, vừa gợi nỗi nhớ triền miên khôn nguôi.
Ba câu cuối là những hình ảnh “gượng đốt hương”, “gượng soi gương”, “gượng gảy đàn” – ba động tác gượng gạo diễn tả sự bất lực và nỗi buồn đến tuyệt vọng. Mỗi hành động tưởng như để khuây khỏa lại càng làm tăng thêm nỗi cô đơn. Khi “dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng”, đó không chỉ là âm thanh của tiếng đàn mà còn là biểu tượng cho tình duyên dang dở, cho sợi dây tình cảm vợ chồng bị chiến tranh cắt đứt.
Đoạn trích kết hợp hài hòa giữa **ngôn ngữ trữ tình tinh tế**, **hình ảnh tượng trưng giàu sức gợi** và **nhịp điệu chậm buồn**, tạo nên bức tranh tâm trạng chân thực và cảm động. Qua đó, tác phẩm bộc lộ tiếng nói **cảm thương sâu sắc đối với số phận người phụ nữ** trong xã hội phong kiến, đồng thời **lên án chiến tranh phi nghĩa** đã chia cắt hạnh phúc lứa đôi.
Đoạn trích là khúc nhạc buồn thấm đẫm nỗi cô đơn và khát vọng yêu thương của người chinh phụ. Với bút pháp tài hoa và giọng điệu trữ tình sâu lắng, *Chinh phụ ngâm* đã trở thành bản ngâm tiêu biểu cho tiếng lòng người phụ nữ trong văn học trung đại Việt Nam.