Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Bài thơ “Bến đò ngày mưa” được khơi nguồn từ cảm hứng buồn man mác, trầm lắng trước một bến đò làng quê vắng vẻ trong mưa. Cơn mưa kéo dài như bao trùm lên toàn bộ không gian, làm cho cảnh vật trở nên ẩm ướt, lạnh lẽo và hiu quạnh. Những hình ảnh quen thuộc của làng quê như tre, chuối, dòng sông, con thuyền, quán hàng hay người đi chợ đều hiện lên trong trạng thái mệt mỏi, thưa vắng, gợi cảm giác cô đơn và lặng lẽ. Cảm hứng chủ đạo ấy không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh mưa mà còn thấm sâu vào đời sống con người, phản chiếu nhịp sống chậm chạp, nghèo khó nơi bến đò. Từ cảm hứng đó, bài thơ thể hiện chủ đề ca ngợi vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của quê hương, đồng thời bày tỏ niềm xót xa, cảm thông chân thành của tác giả đối với những con người lao động lam lũ phải mưu sinh trong mưa gió. Qua bức tranh bến đò ngày mưa, tác giả gửi gắm tình yêu quê hương thầm kín, sâu lắng và giàu giá trị nhân văn.
Câu 2:
Trong cuộc đời mỗi con người, quê hương luôn mang một ý nghĩa vô cùng thiêng liêng và sâu nặng. Dù con người có trưởng thành, đi xa hay đạt được những thành công lớn lao đến đâu, quê hương vẫn luôn là cội nguồn yêu thương, là nơi khởi đầu và nâng đỡ tâm hồn mỗi người.
Trước hết, quê hương là nơi sinh ra và nuôi dưỡng con người cả về thể chất lẫn tinh thần. Đó là nơi có gia đình, có những người thân yêu đã chăm sóc, dạy dỗ ta từ những bước đi đầu tiên. Những hình ảnh quen thuộc như con đường làng, bến nước, hàng tre, cánh đồng… không chỉ gắn liền với tuổi thơ mà còn góp phần hình thành nên nhân cách, lối sống và tâm hồn mỗi con người. Từ quê hương, ta học được tình yêu thương, sự sẻ chia, lòng nhân ái và những giá trị đạo đức tốt đẹp.
Không chỉ vậy, quê hương còn là điểm tựa tinh thần vững chắc trong suốt hành trình cuộc đời. Khi con người gặp khó khăn, vấp ngã hay mệt mỏi trước những áp lực của cuộc sống, ký ức về quê hương bình dị, yên ả sẽ trở thành nguồn an ủi, giúp ta tìm lại sự cân bằng và niềm tin. Với những người phải sống xa quê, quê hương càng trở thành nỗi nhớ da diết, là động lực thôi thúc họ không ngừng cố gắng học tập, lao động để xây dựng tương lai và góp phần làm rạng danh nơi chôn nhau cắt rốn của mình.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay vẫn có không ít người sống thờ ơ, quên đi cội nguồn, không trân trọng quê hương. Lối sống ấy đáng bị phê phán, bởi một con người không biết nhớ về quê hương, không biết ơn nơi đã sinh thành và nuôi dưỡng mình thì khó có thể trở thành người sống có trách nhiệm, có tình nghĩa.
Tóm lại, quê hương không chỉ là một địa danh trên bản đồ mà còn là nguồn cội của yêu thương, là nền tảng hình thành nhân cách và là chỗ dựa tinh thần suốt đời của mỗi con người. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết trân trọng, gìn giữ và góp phần xây dựng quê hương ngày càng tốt đẹp hơn.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ.
Câu 2.
Đề tài của bài thơ là bức tranh thiên nhiên và sinh hoạt nơi làng quê
Câu 3.
-Bptt:nhân hóa: Tre "rũ rợi", "chen ướt át"; Chuối "bơ phờ", "đứng dầm mưa"; Con thuyền "trơ vơ".
-Tác dụng:
+Tăng sức biểu cảm, sinh động ,làm cho sự vật trở nên có hồn hơn
+Nhấn mạnh bức tranh bến đò ngày mưa không chỉ là sự tái hiện cảnh thực mà còn mang đậm màu sắc cảm xúc. Cảnh vật dường như có tâm trạng, có nỗi buồn, từ đó phản chiếu nỗi buồn âm thầm, lặng lẽ của con người nơi bến đò vắng
+Qua đó tác giả bộc lộ tình cảm buồn man mác, trầm lắng và đầy xót xa trước cảnh bến đò làng quê vắng vẻ, tiêu điều trong mưa
Câu 4.
-Những hình ảnh miêu tả:
+Thiên nhiên: Lũy tre rũ rợi, cây chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, bầu trời mưa nặng nề.
+Sự vật: Con thuyền cắm lại trơ vơ, quán hàng không khách, đường lội bùn đất.
+Con người: Bác lái buồm hút thuốc, bà hàng ho sù sụ, người đi chợ đội thúng trên đầu.
-Cảm nhận:
+Bức tranh gợi lên một cảm giác vắng lặng, đượm buồn và lạnh lẽo.
+Cảnh vật hiện lên với vẻ xơ xác, tiêu điều.
+Sự xuất hiện của con người cũng rất thưa thớt ,lặng lẽ, càng làm đậm thêm cái tĩnh mịch và sự ngưng trệ của nhịp sống nơi bến quê nghèo ngày mưa
Câu 5
-Qua bức tranh bến đò ngày mưa, bài thơ đã gợi lên:
+Nỗi buồn man mác, u hoài,một nỗi buồn nhẹ nhàng nhưng thấm thía trước cảnh vật vắng vẻ, hiu hắt.
+Sự đồng cảm, xót xa,cái nhìn của tác giả đầy yêu thương và trăn trở đối với cuộc sống lam lũ, quạnh quẽ của những người dân quê .
+Tình yêu quê hương,ẩn sau vẻ buồn bã ấy là một sự gắn bó sâu sắc, sự quan sát tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm đối với từng hơi thở, nhịp sống bình dị nhất của quê nhà.
Câu 1
Đoạn trích trong trường ca Bài thơ Hắc Hải của Nguyễn Đình Thi là một bức tranh bằng ngôn từ tuyệt đẹp về đất nước Việt Nam. Với thể thơ lục bát nhịp nhàng, tác giả đã mở ra một không gian thiên nhiên vừa hùng vĩ với "đỉnh Trường Sơn", vừa thơ mộng với "cánh cò", "biển lúa". Thế nhưng, đằng sau vẻ đẹp ấy là một dải đất thấm đẫm mồ hôi và máu: "Đất nghèo nuôi những anh hùng". Nguyễn Đình Thi đã khéo léo khắc họa sự đối lập kỳ diệu trong bản chất con người Việt Nam: đó là sự kiên cường, "vùng đứng lên" từ máu lửa chiến tranh, nhưng khi súng gươm vứt bỏ lại trở về với vẻ "hiền như xưa". Hình ảnh "tay người như có phép tiên" và nỗi nhớ "bữa cơm rau muống quả cà" đã chạm đến những rung cảm nguyên sơ nhất của lòng yêu nước. Bài thơ không chỉ là lời ca ngợi cảnh sắc, mà còn là bản tình ca về tâm hồn thủy chung, tài hoa và ý chí bất khuất của dân tộc. Đọc những vần thơ này, em cảm thấy thêm tự hào và trân trọng nguồn cội, ý thức rõ hơn trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị cao đẹp mà cha ông đã dày công vun đắp.
Câu 2
Tinh thần dân tộc là giá trị cốt lõi làm nên bản sắc và sức sống bền bỉ của dân tộc Việt Nam. Đó là sự kết tinh của lòng yêu nước, ý thức tự tôn, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường trước mọi thử thách. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, tinh thần dân tộc đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt, giúp dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn gian khổ để tồn tại và phát triển.
Trước hết, tinh thần dân tộc của người Việt Nam được thể hiện sâu sắc ở lòng yêu nước nồng nàn. Lòng yêu nước ấy đã hun đúc nên những cuộc kháng chiến vĩ đại chống giặc ngoại xâm, nơi con người Việt Nam sẵn sàng hi sinh tính mạng để bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc. Không chỉ trong chiến tranh, ở thời bình, lòng yêu nước còn thể hiện qua ý thức lao động cần cù, sáng tạo, học tập nghiêm túc nhằm góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Bên cạnh đó, tinh thần dân tộc còn thể hiện rõ ở truyền thống đoàn kết, nhân ái. Người Việt Nam luôn coi trọng nghĩa tình, biết đùm bọc, sẻ chia, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn. Tinh thần “lá lành đùm lá rách” đã trở thành nét đẹp văn hóa, tạo nên sức mạnh cộng đồng to lớn, giúp dân tộc vượt qua thiên tai, dịch bệnh và những khó khăn của cuộc sống. Chính sự đoàn kết ấy là nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, tinh thần dân tộc đang đứng trước nhiều thách thức. Một bộ phận người trẻ có biểu hiện thờ ơ với lịch sử, xem nhẹ giá trị truyền thống, chạy theo lối sống thực dụng, sính ngoại. Điều này nếu không được điều chỉnh sẽ làm phai nhạt bản sắc dân tộc. Vì vậy, mỗi người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nâng cao nhận thức, biết trân trọng lịch sử, giữ gìn văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa nhân loại một cách chọn lọc để làm giàu cho bản sắc Việt.
Tóm lại, tinh thần dân tộc chính là nguồn sức mạnh nội sinh giúp Việt Nam đứng vững trước mọi biến động của thời đại. Giữ gìn và phát huy tinh thần ấy không chỉ là trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người con đất Việt, để đất nước ngày càng phát triển vững bền trong tương lai.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2
Phương thức biểu đạt chính của bài thơ là biểu cảm, kết hợp với miêu tả và tự sự để làm nổi bật tình yêu quê hương, đất nước.
Câu 3
- Bptt: điệp từ :"nhớ"
-Td:
+Tạo nhịp điệu dồn dập, thiết tha như nhịp đập của trái tim, làm cho lời thơ giàu sức biểu cảm và dễ đi vào lòng người.
+Nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, sâu nặng của con người khi xa quê hương. Nỗi nhớ không chỉ hướng về những không gian rộng lớn như núi rừng, dòng sông mà còn gắn với những hình ảnh bình dị, thân quen của đời sống lao động như đồng ruộng, khoai ngô, bữa cơm rau muống, quả cà.
+Qua đó, tình yêu quê hương hiện lên chân thành, mộc mạc mà tha thiết, thể hiện sự gắn bó máu thịt giữa con người và quê hương đất nước.
Câu 4.
-Con người Việt Nam trong bài thơ hiện lên với nhiều phẩm chất đẹp:
+Cần cù, chịu thương chịu khó, gắn bó với ruộng đồng, lao động.
+Giàu lòng yêu nước, kiên cường, bất khuất, sẵn sàng đứng lên chống giặc ngoại xâm.+Nhân hậu, thủy chung, nghĩa tình, yêu thương con người, quê hương sâu nặng.
+Lạc quan, yêu đời, dù trải qua nhiều đau thương, mất mát vẫn hướng tới cuộc sống yên bình.
Câu 5.
-Đề tài: Quê hương, đất nước Việt Nam và con người Việt Nam.
-Chủ đề: Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, truyền thống văn hóa và phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam; đồng thời bày tỏ tình yêu tha thiết, niềm tự hào sâu sắc của tác giả đối với quê hương, đất nước.
Câu 1
Trong đoạn trích, nhân vật Sherlock Holmes hiện lên là một thám tử có trí tuệ xuất chúng và phương pháp suy luận khoa học bậc thầy. Trước hết, Holmes sở hữu khả năng quan sát tinh tường, không bỏ sót bất kì chi tiết nhỏ nào tại hiện trường: từ vệt bánh xe, dấu chân, mùi vị trên môi nạn nhân cho đến những giọt máu rơi vãi trên sàn nhà. Từ những chi tiết tưởng như rời rạc ấy, ông tiến hành lập luận ngược chiều, xâu chuỗi các sự kiện một cách logic để đi đến bản chất của vụ án. Đặc biệt, Holmes luôn suy luận dựa trên phương pháp loại trừ, không cảm tính, không thiên kiến, chỉ tin vào chứng cứ và lý trí. Bên cạnh trí tuệ sắc bén, Holmes còn cho thấy bản lĩnh và sự mưu trí khi chủ động dụ hung thủ sa lưới, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao đối với công lý. Qua đó, Sherlock Holmes không chỉ là hình mẫu của một thám tử tài ba mà còn là biểu tượng cho sức mạnh của trí tuệ, tư duy khoa học và niềm tin vào chân lý.
Câu 2
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đất nước đứng trước nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng không ít thách thức. Trước thực tế ấy, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Thế hệ trẻ hôm nay chính là lực lượng kế tục, quyết định diện mạo và vị thế của quốc gia trong tương lai.
Trước hết, thế hệ trẻ có trách nhiệm không ngừng học tập, rèn luyện tri thức và kỹ năng. Hội nhập quốc tế đòi hỏi con người phải có trình độ chuyên môn vững vàng, tư duy sáng tạo, khả năng ngoại ngữ và hiểu biết về khoa học – công nghệ. Chỉ khi trang bị đầy đủ hành trang tri thức, người trẻ mới đủ năng lực cạnh tranh, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia. Bên cạnh đó, thanh niên cần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại một cách chọn lọc, tránh lối sống lai căng, thực dụng, đánh mất những giá trị truyền thống tốt đẹp.
Không chỉ dừng lại ở tri thức, thế hệ trẻ còn phải có ý thức công dân và tinh thần trách nhiệm xã hội. Đó là sự tuân thủ pháp luật, ý thức bảo vệ môi trường, tinh thần sẻ chia, cống hiến vì cộng đồng. Trong thời đại số, người trẻ cần tỉnh táo trước các luồng thông tin đa chiều, biết phản biện, không bị cuốn theo những quan điểm sai lệch làm ảnh hưởng đến hình ảnh và lợi ích của đất nước. Đồng thời, mỗi thanh niên cần nuôi dưỡng lòng yêu nước đúng đắn, thể hiện bằng hành động thiết thực chứ không phải những lời nói sáo rỗng.
Có ý kiến cho rằng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trách nhiệm xây dựng và phát triển đất nước chủ yếu thuộc về Nhà nước và các thế hệ đi trước; thế hệ trẻ chỉ cần tập trung học tập, lo cho tương lai cá nhân, chưa cần gánh vác những vấn đề lớn lao của quốc gia. Tuy nhiên, cách nhìn nhận đó là phiến diện và chưa đúng với thực tế. Trước hết, chính thế hệ trẻ là nguồn nhân lực chủ yếu và lâu dài của đất nước trong thời kì hội nhập. Những quyết định, hành động hôm nay của người trẻ sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến diện mạo quốc gia trong tương lai. Nếu chỉ sống thụ động, thiếu trách nhiệm, đất nước sẽ mất đi động lực phát triển bền vững. Hơn nữa, trách nhiệm với đất nước không nhất thiết phải là những việc lớn lao, mà bắt đầu từ những hành động nhỏ nhưng thiết thực: học tập nghiêm túc, sống có kỉ luật, tuân thủ pháp luật, gìn giữ bản sắc văn hóa, lan tỏa hình ảnh tích cực của con người Việt Nam ra thế giới. Vì vậy, việc né tránh trách nhiệm không chỉ khiến cá nhân tụt hậu mà còn làm giảm sức mạnh chung của dân tộc.
Tóm lại, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thế hệ trẻ mang trên vai sứ mệnh vừa xây dựng, vừa bảo vệ và nâng tầm đất nước. Khi mỗi người trẻ ý thức rõ trách nhiệm của mình và không ngừng nỗ lực, đất nước sẽ có một tương lai vững vàng và phát triển bền vững
Câu 1
Văn bản trên thuộc thể loại truyện trinh thám
Câu 2.
Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất
Câu 3.
-Câu ghép đã cho là câu ghép đẳng lập.
-Quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu: quan hệ liệt kê.
Câu 4.
Vụ án được coi là nan giải, hóc búa vì:
-Trên thi thể không có dấu vết thương tích nhưng hiện trường lại có nhiều máu gây nhiễu hướng điều tra
-Xuất hiện nhiều manh mối khó hiểu như chữ “Rache” viết bằng máu, chiếc nhẫn cưới của phụ nữ, dấu xe ngựa và dấu chân chồng chéo.
-Động cơ gây án không rõ ràng không phải cướp của, cũng không mang dấu hiệu chính trị.
-Liên tiếp xảy ra hai vụ án có chi tiết giống nhau, khiến việc xác định hung thủ và mục đích thật sự càng khó khăn.
Câu 1
Trong đoạn trích từ Vũ Như Tô, Lê Tương Dực hiện lên là hình tượng một ông vua hôn quân, mê muội và vô trách nhiệm với vận mệnh đất nước. Trước lời can gián khẩn thiết của Trịnh Duy Sản về tình trạng giặc giã nổi lên khắp nơi, dân tình lầm than, ông vẫn thản nhiên, chủ quan, cho rằng chỉ là “mấy đám giặc cỏ” và luôn tin vào sức mạnh triều đình. Nhà vua chỉ quan tâm đến việc xây Cửu Trùng Đài – một công trình xa hoa để thỏa mãn thú vui hưởng lạc của bản thân. Thái độ độc đoán, tự cao thể hiện qua những lời nói, cử chỉ như “ngươi lui ra”, “trẫm không muốn nghe chuyện chướng tai”, thậm chí rút kiếm đe dọa người trung thần. Lê Tương Dực không lắng nghe lời nói phải, còn dung túng cho sự xa xỉ, sa đọa nơi hậu cung. Chính sự mê muội, tàn nhẫn và ích kỉ ấy đã góp phần đẩy đất nước vào cảnh loạn lạc, đồng thời làm nổi bật bi kịch xã hội trong tác phẩm.
Câu 2.
Trong nhịp sống hiện đại hối hả, con người dường như ngày càng trở nên khép kín và thờ ơ với những gì diễn ra xung quanh. Bên cạnh rất nhiều bạn trẻ năng động, giàu lòng nhân ái, vẫn tồn tại một bộ phận giới trẻ đang mắc phải một căn bệnh đáng lo ngại: bệnh vô cảm – sự dửng dưng trước nỗi đau, khó khăn của người khác và các vấn đề của xã hội.
Vô cảm là thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, thiếu quan tâm, thiếu đồng cảm trước cuộc sống, trước con người. Người vô cảm có thể chứng kiến bất công, tai nạn, nỗi đau của người khác mà không hề lay động hay có hành động giúp đỡ.
Hiện nay, không khó để bắt gặp những hình ảnh đáng buồn: có người gặp tai nạn nhưng xung quanh chỉ đứng nhìn, quay video, chụp ảnh; có người bị bắt nạt, bạo lực học đường nhưng bạn bè im lặng; có những hoàn cảnh khó khăn ngay bên cạnh nhưng nhiều bạn trẻ vẫn thờ ơ, coi như không liên quan đến mình. Trên mạng xã hội, thay vì sẻ chia, động viên, không ít người lại buông lời xúc phạm, mỉa mai, làm tổn thương người khác.
Nguyên nhân trước hết bắt nguồn từ lối sống ích kỉ, chỉ biết đến bản thân mình. Thêm vào đó, sự ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội khiến nhiều người quen nhìn mọi việc qua màn hình điện thoại, dần mất đi sự nhạy cảm với cảm xúc thật. Gia đình ít quan tâm giáo dục về lòng nhân ái, nhà trường chú trọng kiến thức mà chưa chú trọng đủ đến giáo dục đạo đức, kĩ năng sống cũng góp phần tạo nên căn bệnh vô cảm.
Bệnh vô cảm làm cho con người trở nên lạnh lùng, xã hội thiếu đi tình yêu thương, sự gắn kết giữa người với người dần bị phá vỡ. Nếu ai cũng chỉ sống cho riêng mình, xã hội sẽ trở nên vô tình, tàn nhẫn, những giá trị tốt đẹp của con người sẽ dần mai một.
Có người cho rằng sự thờ ơ của giới trẻ ngày nay không phải là “vô cảm” mà chỉ là cách tự bảo vệ bản thân giữa một xã hội phức tạp. Họ lo ngại rằng nếu can thiệp vào việc của người khác, họ có thể gặp rắc rối, bị hiểu lầm hoặc thậm chí bị liên lụy về pháp luật. Tuy nhiên, nhìn theo cách này lâu dài sẽ khiến con người trở nên lạnh nhạt và đánh mất tinh thần trách nhiệm với cộng đồng. Sự cẩn trọng là cần thiết, nhưng không thể lấy đó làm cái cớ cho sự thờ ơ. Giúp đỡ người khác không có nghĩa là hành động liều lĩnh, thiếu suy nghĩ; thay vào đó, ta hoàn toàn có thể lựa chọn những cách an toàn như: gọi cấp cứu, báo cho người có trách nhiệm, tìm sự hỗ trợ xung quanh hoặc can thiệp phù hợp. Nếu ai cũng vì sợ phiền phức mà quay lưng lại với nỗi đau của người khác, xã hội sẽ trở nên vô tình, ích kỉ và thiếu sự gắn kết. Bởi vậy, việc nuôi dưỡng lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm trong giới trẻ vẫn là điều hết sức cần thiết và không thể bị thay thế bởi sự sợ hãi hay thờ ơ.
Để khắc phục bệnh vô cảm, trước hết mỗi người trẻ cần học cách yêu thương, biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để thấu hiểu và sẻ chia. Hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ: giúp đỡ người gặp khó khăn, dám lên tiếng bảo vệ điều đúng, không thờ ơ trước bất công. Gia đình cần giáo dục con cái về lòng nhân ái từ sớm; nhà trường tăng cường giáo dục đạo đức, tổ chức các hoạt động trải nghiệm, thiện nguyện. Bản thân mỗi người cũng cần hạn chế sống quá lệ thuộc vào mạng xã hội, mở lòng, giao tiếp và quan tâm hơn đến những người xung quanh.
Bệnh vô cảm là một “căn bệnh nguy hiểm” trong đời sống tinh thần của giới trẻ ngày nay. Mỗi chúng ta hãy tự thay đổi từ chính mình, sống yêu thương và trách nhiệm hơn, để xã hội không chỉ phát triển về vật chất mà còn giàu đẹp về tình người.
Câu 1.:Đoạn trích tái hiện lại cảnh Trịnh Duy Sản vào triều can gián vua Lê Tương Dực, khuyên nhà vua bãi bỏ việc xây Cửu Trùng Đài vì dân oán, giặc nổi khắp nơi, nhưng nhà vua vẫn mê muội, không nghe theo lời can gián
Câu 2.
Một lời độc thoại trong đoạn trích:
“Trẫm phải đợi đến ngươi tâu bầy, thì dễ lũ sương cuồng Trần Cao đã làm cỏ kinh thành.”
Câu 3:
Những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực như: (cau mặt), (nhìn… giận dữ), rút kiếm… cho thấy ông là một hôn quân độc đoán, nóng nảy, tự cao, không chấp nhận lời can gián. Các chỉ dẫn này giúp làm nổi bật tính cách tàn bạo, mê muội và góp phần tăng tính kịch tính cho cảnh kịch.
câu 4:
- Đoạn văn sử dụng phép liệt kê ;tên các cuộc nổi dậy, hành động của giặc: giết, hãm hiếp, đốt phá…
- tác dụng:
+làm cho câu văn trở nên sinh động ,hấp dẫn ,giàu giá trị biểu cảm ,tạo tính liên kết
+nhấn mạnh tình cảnh xã hội rối ren,loạn lạc, đau khổ khắp nơi, cho thấy sự bất mãn, oán hận của nhân dân với triều đình
+qua đó làm tăng sức thuyết phục cho lời can gián của Trịnh Duy Sản
Câu 5.Qua đoạn trích, có thể thấy bối cảnh xã hội lúc bấy giờ vô cùng rối ren: triều đình mục nát, vua mê muội, xa hoa, dân bị bóc lột nặng nề, giặc giã nổi lên khắp nơi, đời sống nhân dân cực khổ, oán than chồng chất. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến loạn lạc và sự suy vong của triều Lê.
Câu 1 :
Dung là hình ảnh tiêu biểu cho số phận người phụ nữ nghèo trong xã hội cũ – yếu đuối, cam chịu và bị tước đoạt quyền sống đúng nghĩa. Sinh ra trong gia đình sa sút, lớn lên trong sự hờ hững, Dung không nhận được tình thương mà còn bị chính mẹ bán đi như một món hàng. Về nhà chồng, nàng phải lao động cực nhọc từ sáng đến tối, lại luôn bị mẹ chồng và các em chồng chì chiết, hành hạ tinh thần. Chồng nàng thờ ơ, nhu nhược, không dám bênh vực vợ. Trong hoàn cảnh đó, Dung chỉ biết khóc và cam chịu, không có tiếng nói phản kháng. Những lá thư gửi về nhà không được hồi đáp đã dập tắt nốt tia hy vọng cuối cùng. Sự tuyệt vọng dồn nén đến tột cùng khiến nàng tìm đến cái chết như một cách giải thoát. Qua nhân vật Dung, Thạch Lam đã bày tỏ niềm xót thương sâu sắc cho thân phận người phụ nữ, đồng thời lên án gay gắt xã hội bất công đã đẩy họ vào con đường cùng.
Câu 2:
Trong xã hội hiện đại ngày nay, bình đẳng giới không chỉ là một khẩu hiệu mà đã trở thành một mục tiêu quan trọng của sự phát triển bền vững. Việc nam và nữ được hưởng những quyền lợi, cơ hội và nghĩa vụ như nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống là nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng và văn minh.
Bình đẳng giới là việc nam và nữ có vị thế, quyền lợi, nghĩa vụ và cơ hội như nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ học tập, lao động đến chính trị, kinh tế và gia đình. Điều đó có nghĩa là không ai bị phân biệt đối xử chỉ vì giới tính của mình, và mỗi người đều được tạo điều kiện để phát triển, thể hiện năng lực và khẳng định giá trị bản thân một cách công bằng.
Hiện nay, vấn đề bình đẳng giới đã có những chuyển biến tích cực. Phụ nữ ngày càng được đi học đầy đủ hơn, có nhiều cơ hội tham gia vào thị trường lao động và giữ các vị trí quan trọng trong xã hội. Bên cạnh đó, nam giới cũng dần được nhìn nhận công bằng hơn trong các công việc gia đình, việc chăm sóc con cái, qua đó xóa bỏ dần những định kiến giới truyền thống.Tuy nhiên, thực tế cho thấy tình trạng bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi. Ở một số gia đình, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn chưa bị xóa bỏ hoàn toàn. Nhiều bé gái không được đầu tư cho việc học bằng con trai. Trong môi trường lao động, phụ nữ vẫn phải đối mặt với sự phân biệt trong tuyển dụng, thu nhập và cơ hội thăng tiến. Bạo lực gia đình, quấy rối và xâm hại phụ nữ vẫn diễn ra, gây ảnh hưởng lớn đến thể chất và tinh thần của họ. Điều này cho thấy vấn đề bình đẳng giới vẫn cần được quan tâm và giải quyết mạnh mẽ hơn nữa
Bất bình đẳng giới chủ yếu xuất phát từ tư tưởng phong kiến, trọng nam khinh nữ còn ăn sâu trong nhận thức của một bộ phận người dân. Bên cạnh đó, trình độ nhận thức chưa đồng đều, sự thiếu hiểu biết về quyền con người và bình đẳng giới cũng khiến nhiều người chấp nhận sự phân biệt như một điều bình thường. Ngoài ra, công tác tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới ở một số nơi chưa thật sự hiệu quả, góp phần làm cho tình trạng này vẫn tiếp diễn.
Bất bình đẳng giới không chỉ gây ra thiệt thòi cho phụ nữ mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến toàn xã hội. Nhiều người bị hạn chế cơ hội học tập, việc làm và thăng tiến chỉ vì giới tính của mình, dẫn đến sự tự ti, mặc cảm và tổn thương về tinh thần. Tình trạng bạo lực gia đình, quấy rối, xâm hại phụ nữ và trẻ em gái làm suy giảm chất lượng cuộc sống, phá vỡ hạnh phúc gia đình. Đồng thời, khi một nửa dân số không được tạo điều kiện phát triển đầy đủ, xã hội sẽ mất đi nguồn nhân lực quan trọng, làm chậm tốc độ phát triển kinh tế, giáo dục và văn hóa. Vì vậy, bất bình đẳng giới chính là rào cản lớn đối với sự tiến bộ và công bằng xã hội.
Có ý kiến cho rằng bình đẳng giới hiện nay không còn cần thiết nữa vì phụ nữ đã được ưu ái và bảo vệ quá nhiều. Tuy nhiên, quan điểm này chưa thật sự đúng với thực tế. Vẫn còn nhiều nơi phụ nữ bị hạn chế cơ hội học tập, việc làm và chịu thiệt thòi về thu nhập. Những vụ bạo lực, quấy rối hay phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn diễn ra. Vì vậy, bình đẳng giới không phải là sự “ưu ái” cho một giới nào mà là tạo ra sự công bằng để mọi người đều có quyền phát triển như nhau.
Vậy chúng ta cần có những giải pháp nào để giải quyết tình trạng bất bình đẳng?Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về bình đẳng giới bằng cách đẩy mạnh tuyên truyền qua nhà trường, phương tiện truyền thông và hoạt động xã hội. Mỗi người phải hiểu rằng nam hay nữ đều có giá trị và quyền lợi như nhau, không ai có quyền áp đặt, xem thường người khác vì giới tính.
Thứ hai, gia đình giữ vai trò rất quan trọng trong việc xóa bỏ định kiến giới. Cha mẹ cần đối xử công bằng giữa con trai và con gái, tạo điều kiện học tập, vui chơi và phát triển như nhau. Đồng thời, cần dạy con biết tôn trọng người khác giới và chia sẻ công việc trong gia đình, không mặc định việc nhà chỉ là của phụ nữ.
Cuối cùng, về phía xã hội, cần thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bình đẳng giới, xử lý nghiêm hành vi bạo lực, phân biệt đối xử, đồng thời tạo điều kiện để phụ nữ và nam giới có cơ hội học tập, làm việc, thăng tiến như nhau. Chỉ khi có sự chung tay của toàn xã hội, bình đẳng giới mới thật sự được thực hiện một cách toàn diện và bền vững.
Bình đẳng giới là chìa khóa của một xã hội văn minh và tiến bộ. Mỗi người cần thay đổi nhận thức, xóa bỏ định kiến giới và chung tay xây dựng một môi trường sống công bằng, tôn trọng lẫn nhau.
Câu 1 : Luận đề của văn bản là: phân tích và làm rõ ý nghĩa, giá trị nghệ thuật của chi tiết "cái bóng" trong truyện "Chuyện người con gái Nam Xương
Câu 2:Theo người viết, truyện "Chuyện người con gái Nam Xương" hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo là:
+ Sau khi người chồng (Trương Sinh) đi lính trở về, đứa con (bé Đản) lại không nhận ra cha ruột và nói với cha: "Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia, chỉ nín thin thít".
+Đứa con còn kể về "một người đàn ông, đêm nào cũng đến" mà người chồng hiểu lầm là tình nhân của vợ.
+Người chồng chỉ sáng mắt ra khi chính đứa con chỉ vào cái bóng của anh ta trên tường và nói: "Cha Đản đấy".
câu 3:Việc nhắc lại tình huống ở phần mở đầu nhằm:
+Gây tò mò, thu hút người đọc.
+Làm nổi bật yếu tố “độc đáo” của tình huống truyện.
+Tạo tiền đề cho lập luận sau đó về vai trò của chi tiết cái bóng trong việc xây dựng tác phẩm.
Câu 4:
-Chi tiết khách quan:
“Ngày xưa chưa có tivi, đến cả ‘rối hình’ cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ… chơi trò soi bóng trên tường…”
-Chi tiết chủ quan:
“Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà… nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản.”
-Nhận xét:
+Cách trình bày khách quan giúp người đọc hiểu bối cảnh lịch sử, đời sống sinh hoạt thời xưa.
+Trình bày chủ quan thể hiện suy nghĩ, cảm nhận của người viết, giúp làm sâu sắc thêm tâm trạng, tấm lòng của nhân vật Vũ Nương.
+Hai cách trình bày bổ trợ cho nhau, làm cho lập luận vừa có căn cứ thực tế vừa giàu cảm xúc.
Câu 5:Vì:
+Nó bắt nguồn từ một trò chơi dân gian rất đời thường, tự nhiên.
+Được nâng lên thành nguyên nhân tạo nên tình huống truyện độc đáo.
+Thể hiện tình yêu, nỗi nhớ chồng và sự hi sinh thầm lặng của Vũ Nương.
+Đồng thời là yếu tố làm bộc lộ tính cách ghen tuông mù quáng của Trương Sinh. +Góp phần tạo nên bi kịch sâu sắc và giá trị nhân đạo của tác phẩm