Phạm Thị Thu Hiền

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Thị Thu Hiền
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu 1:

Nhân vật Lý Hữu Chi (Lý Tướng Quân) trong truyện là hình tượng tiêu biểu cho sự tha hóa của kẻ nắm quyền trong xã hội phong kiến loạn lạc. Ban đầu, Hữu Chi được biết đến là một người có sức khỏe, giỏi đánh trận, có công giúp nước, nhưng khi đạt đến quyền vị cao, bản chất tàn bạo và tham lam của hắn bộc lộ rõ rệt.Hữu Chi trở nên ngạo mạn, cậy quyền làm càn: hắn khinh thường người hiền, hãm hại người vô tội, ham mê sắc dục, tích trữ của cải bằng cách chiếm đoạt đất đai. Hắn thậm chí còn bỏ ngoài tai mọi cảnh báo của đạo sĩ về luật nhân quả, thể hiện sự mê muội đến mức không thể cứu vãn. Sự trừng phạt cuối cùng ở cõi âm—bị tra khảo, đánh đập và mổ bụng—là kết cục tất yếu cho lối sống bạo ngược của hắn.Vậy nên, ta nới thấy luật nhân quả ở đời sẽ không chừ một ai,chúng ta làm gì thì sẽ nhận lại kết cục y như vậy.Nếu ta làm sia nhưng biết quay đầu,hối cải sớm thì mọi chuyện sẽ không quá nghiêm trọng,nhưng nếu ta không chịu hối cỉa mà còn tiếp tục phạm sia lầm như Lý Hữu Chi trong câu chuyện,chúng ta sẽ gặp kết cục y nhu vậy.Qua đó,tác giả không chỉ khắc họa một cá nhân độc ác mà còn gián tiếp phê phán tầng lớp thống trị mục nát đương thời, những kẻ đã lợi dụng công lao và quyền thế để làm điều ác, khẳng định rằng tội ác không thể dung thứ và nhất định sẽ bị luật pháp của trời đất trừng trị.

Câu 2:

Lý Hữu Chi, vị tướng tài trong truyện cổ, cuối cùng đã phải nhận sự trừng phạt đau đớn không phải vì yếu kém mà vì lòng tham vô độ, không biết điểm dừng. Câu chuyện ấy như một lời cảnh tỉnh vượt thời gian: Tham vọng là động lực, nhưng lòng tham lại là chất độc, gặm nhấm nhân cách và hủy hoại cả cuộc đời. Trong đời sống hiện đại, lòng tham biểu hiện dưới nhiều hình thức tinh vi và gây ra những tác hại khôn lường.Tác hại đầu tiên và trực tiếp nhất của lòng tham là sự biến chất về nhân cách và mất mát về tinh thần. Một người tham lam luôn sống trong trạng thái bất mãn, lo âu vì cảm thấy mình chưa bao giờ "đủ." Tham lam vật chất khiến người ta ra sức vơ vét, không từ thủ đoạn, biến mình thành nô lệ của tiền bạc và quyền lực, đánh mất đi sự thanh thản và danh dự. Sự ích kỷ, tham lam trong học tập cũng không kém phần tai hại. Việc gian lận để đạt điểm cao chỉ tạo ra một thành tích giả tạo, bóp méo giá trị của tri thức, làm suy yếu nền tảng đạo đức của người học và tạo ra sự bất công lớn đối với những người nỗ lực chân chính. Nếu không kiểm soát, lòng tham sẽ đẩy con người vào vòng xoáy tội lỗi và sự trừng phạt, như cách Lý Hữu Chi đã phải chịu đựng.Để hạn chế và loại bỏ thói xấu nguy hiểm này, cần có sự kết hợp giữa ý thức tự thân và hành động xã hội.Thứ nhất, tu dưỡng nội tâm bằng triết lý "biết đủ." Đây là biện pháp gốc rễ. Con người cần học cách trân trọng những gì mình đang có, thực hành lòng biết ơn để thay thế sự khao khát vô tận bằng sự thỏa mãn hiện tại. Việc đặt ra các mục tiêu đạo đức và cống hiến thay vì chỉ tập trung vào lợi ích cá nhân sẽ giúp chuyển hóa tham vọng thành năng lượng tích cực.Thứ hai, tăng cường giáo dục về giá trị và đạo đức. Từ gia đình đến nhà trường và xã hội, cần chú trọng bồi dưỡng tính trung thực, liêm chính và tinh thần công bằng. Những câu chuyện như Lý Hữu Chi hay các tấm gương sống tử tế cần được lan tỏa để hình thành hệ giá trị đúng đắn cho thế hệ trẻ.Thứ ba, xây dựng hệ thống pháp luật và giám sát nghiêm minh. Với những biểu hiện tham lam gây hại cho xã hội, đặc biệt là tham nhũng và gian lận có tổ chức, cần có sự trừng phạt thích đáng để tạo tính răn đe. Sự minh bạch trong quản lý và thi cử là bức tường thép ngăn chặn cơ hội phát sinh lòng tham.Tóm lại, lòng tham là một loại "ung nhọt" làm hỏng nhân cách và gây hỗn loạn xã hội. Bài học từ Lý Hữu Chi nhắc nhở chúng ta rằng chỉ khi kiểm soát được dục vọng cá nhân và hướng đến giá trị chân thật, con người mới có thể tìm thấy hạnh phúc bền vững và xây dựng một cuộc sống công bằng, lương thiện.

câu 1: Thể loại :truyện truyền kỳ

câu 2:Ngôi thứ 3

câu 3:Nhân vật chính là:Lý Hữu Chi

-Nhân vật ấy được môt tả với nét tính cách:

+Dữ tợn nhưng có sức khỏe

+Giỏi đánh trận

-Sau khi có quyền cao:

+Dựa lũ trộm cướp như lòng ruột

+Coi người nho sĩ như cừu thù

+Thích sắc đẹp

+Ham tiền tài

+Tham lam không chán

câu 4:

-Chi tiết hoang đường,kỳ ảo:Sự xuất hiện của người bạn cũ đã mất là Nguyễn Quỳ, hồn ma này hiện về báo trước cái chết và sự trừng phạt sắp đến của Lý Tướng Quân.

-Tác dụng:

+Giúp câu chuyện trở nên lôi cuốn, thu hút người đọc bằng những sự kiện vượt ra ngoài thế giới thực.

+Lời báo của Nguyễn Quỳ tạo ra sự căng thẳng, báo hiệu một tai họa sắp xảy đến, từ đó đẩy câu chuyện đến đỉnh điểm là cái chết và phiên tòa xử án ở cõi âm.

+Nguyễn Dữ phê phán sâu sắc tầng lớp quan lại, tướng lĩnh thời bấy giờ (như Lý Hữu Chi) đã lợi dụng quyền lực để hành ác, tàn sát dân lành và người vô tội.

câu 5:

-Ý nghĩa:Câu chuyện phơi bày bản chất thoái hóa, sa đọa của một bộ phận tướng lĩnh, quan lại trong xã hội phong kiến đương thời. Lý Hữu Chi ban đầu là người có công, nhưng khi có quyền lực và tiền tài đã trở nên kiêu ngạo, tàn ác, làm nhiều việc trái đạo lý: khinh người, chém giết vô tội vạ, tham lam chiếm đoạt.Qua nhân vật Lý, Nguyễn Dữ ngầm phê phán một xã hội loạn lạc, nơi kẻ có quyền thế có thể tha hồ cậy quyền ức hiếp dân lành, làm cho kỷ cương bị đảo lộn.Đồng thời,lời cảnh báo nghiêm khắc đối với những người đang nắm quyền, nhắc nhở họ phải biết tu nhân tích đức, nếu không sẽ phải nhận lấy hậu quả bi thảm.

-Em rút ra bài học:

+Ác giả ác báo:nếu ta làm một điều xấu,ta sẽ nhân lại hậu quả chính nó đem lại

+Phải biết sống chan hào,yêu thương,đồng cảm với tất cả mọi người

+Không ỷ lại mình có quyền thế mà bắt nạt những người nghèo khó,gian khổ

Đặng Trần Côn là một trong những tác giả nổi tiếng của văn học Việt Nam khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII. Đây là một giai đoạn lịch sử đầy biến động, nhiều trai tráng phải giã từ người thân để ra trận. Sống trong thời kỳ ấy, cảm nhận được nỗi thống khổ của người vợ lính, Đặng Trần Côn đã viết nên tác phẩm Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán. Đó là một khúc ngâm đầy cảm xúc lột tả tình cảnh của người chinh phụ lúc bấy giờ. Trong đó đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” là đoạn trích hay đặc biệt là 16 câu thơ đầu đã thể hiện rõ nét nỗi cô đơn của người vợ có chồng đi chinh chiến

Đã có nhiều bản dịch đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” nhưng trong đó, bản dịch thành công nhất là bản dịch của Đoàn Thị Điểm bởi bà cũng có hoàn cảnh giống người chinh phụ. Mười sáu câu đầu đoạn trích tác giả đã mở ra khung cảnh người chinh phụ chờ chồng trong tâm trạng u buồn, đơn độc. Những hành động của người chinh phụ chậm rãi làm dâng lên cảm giác cô đơn, đau buồn:

Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Rèm thưa rủ thác đòi phen

Nhịp thơ nhẹ nhàng đi sâu vào cảm xúc. Hành động của người chinh phụ hiện ra với dáng vẻ u buồn. Những động từ “dạo” “gieo từng bước” ta thấy được sự nặng nề với tâm trạng bâng khuâng, lo lắng. Dường như không gian im lặng đến mức nghe được cả tiếng bước chân của người chinh phụ. Tất cả mọi hành động, cảnh vật đều thể hiện sự cô độc.

Người phụ nữ ấy chẳng thể tìm được một người để sẻ chia. Thế nên hành động của người chinh phụ cứ lặp đi lặp lại vô nghĩa, kéo màn lên rồi lại buông mành xuống. Từ sự cô độc đó, sâu trong tâm hồn của người chinh phụ lại thầm thì trách móc:

''Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.

Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”

Ở đây ta thấy được rõ nét sự nhớ nhung của người chinh phụ qua hình ảnh “chim thước”. Có lẽ nàng đang chờ đợi một tin tốt lành từ loài chim ấy. Vậy mà chờ hoài, đợi mãi chẳng thấy đâu. Thế nên nàng đâm trách chim thước chẳng báo tin tức gì, để nàng phải ngóng, mong khắc khoải. Tác giả cũng sử dụng nghệ thuật đối lập “ngoài rèm”, “trong rèm” để thấy được nỗi cô đơn đã ăn sâu vào cả không gian bên trong và bên ngoài.

Thế nên, nàng cần lắm một người bạn tâm sự cùng mình. Có lẽ vậy, nhà thơ đã nhân hóa “đèn” khuya thành một người bạn của người chinh phụ. Nhưng ngay cả chiếc đèn cũng phũ phàng với người phụ nữ đang lẻ loi ấy. Đáng nhẽ lúc này “đèn” phải thao thức cùng nàng suốt đêm, ấy thế nhưng “đèn” đã tắt ngay khi người chinh phụ cần lắm sự sẻ chia. Điều ấy làm cho người chinh phụ nhận ra rằng “đèn” cũng chỉ là một vật vô tri vô giác chẳng thể nào sẻ chia được điều gì. Câu hỏi tu từ “trong rèm dường đã có đèn biết chăng” tác giả sử dụng cho người đọc cảm nhận được những cung bậc cảm xúc người chinh phụ đã trải qua. Và câu nói của người chinh phụ bật ra đau như xé lòng “Lòng thiếp riêng bi thiếp mà thôi”.

Vì chẳng có ai bên cạnh để sẻ chia nên nàng xin nhận hết và chịu đựng hết nỗi cô đơn ấy.

Buồn rầu nói chẳng nên lời,

Hoa đèn kia với bóng người khá thương

Nỗi buồn của nàng giờ đây chẳng nói nên lời. Có lẽ nỗi buồn ấy đã quá lớn và hiện lên mỗi ngày. Ở đây, người chinh phụ nhìn hoa đèn mà nghĩ đến cuộc đời mình. Dường như cuộc đời nàng giống như hoa đèn vậy cũng mau lụi tàn.

Càng nghĩ, nàng càng buồn khiến cảnh vật cũng nhuốm màu tâm trạng, giống như Nguyễn Du đã miêu tả :

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”: “Gà eo óc gáy sương năm trống,

Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.

Khắc giờ đằng đẵng như niên,

Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”

Trời về khuya, không gian càng yên tĩnh khiến tiếng gà gáy làm tâm trạng thêm u uất. Tiếng gà “eo óc” là tiếng gáy thưa thớt, thể hiện sự đơn độc. Tác giả đã dùng hình ảnh “rủ bóng bốn bên” để miêu tả thời khắc không gian chìm vào đêm tối. Đã qua năm canh vậy mà người chinh phụ vẫn còn thao thức với nỗi sầu thương nhớ chồng. Tác giả đã so sánh “khắc giờ” như “niên”. Có lẽ khi tâm trạng buồn thì một giờ mà như một năm, dài đằng đẵng khiến nỗi buồn, cô đơn ấy các thêm sâu đậm. Cùng với đó là từ láy “đằng đẵng” “dằng dặc” làm cho nỗi đau cứ triền miên không dứt. Ở đây ta thấy được sự tinh tế của tác giả khi lấy động tả tĩnh. Nhờ đó làm nổi bật lên không gian, thời gian.

Để quên đi nỗi buồn trước mắt, người chinh phụ tìm đến những thú vui tao nhã:

Hương gượng đốt hồn đà mê mải, Gương gượng soi lệ lại châu chan.

Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,

Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”

Muốn quên đi nỗi buồn, nỗi cô đơn nàng tìm đến tô son điểm phấn, gảy đàn. Ấy thế nhưng những thú vui tao nhã mà nàng tìm đến lại càng khiến nàng chìm đắm vào nỗi sầu miên man. Khi đốt hương, mùi hương mê mải ấy lại khiến nàng rơi vào sự mơ màng làm nỗi sầu càng dân cao, Khi soi gương điểm phấn tô son, nàng lại xót xa hơn cho phận mình, nàng chợt nhận ra nhan sắc của mình đang dần phai mòn theo năm tháng. Không có chồng ở bên cạnh chia sẻ, những ngày xuân chẳng còn nhiều. Khi đánh đàn lại khiến nàng nhớ lại những chuyện ngày xưa khi chồng còn kề cạnh. Thế nên nàng sợ “dây uyên đứt”, sợ “phím loan chùng” – những nỗi sợ cứ thế bủa vây quanh nàng.

Tìm đến những thú vui để quên đi nỗi buồn, nhưng hành động lại “gượng” thể hiện sự miễn cưỡng. Dường như chỉ vì quá cô đơn mà nàng mới gắng gượng để làm. Nhưng lúc này dù thú vui nào thì cũng chẳng làm nàng vui. Bởi vì ngay lúc này bao trùm tâm trạng nàng là nỗi cô đơn mong mỏi chồng từ nơi chinh chiến. Điều mà người chinh phụ mong mỏi ngay lúc này chính là nghe được một lời động viên từ người chồng của mình. Nhưng tất cả đều im lặng, chẳng có tin tức.

Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, sử dụng nhiều điệp từ, hình ảnh so sánh, tác giả đã vẽ ra tâm trạng rối bời của người chinh phụ. Sự cô đơn, lẻ loi của nàng được thể hiện rõ nét. Hình ảnh của người chinh phụ chính là hình ảnh đại diện cho một lớp người trong thời kỳ này. Nó lột trần tội ác xấu xa của chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao gia đình rơi vào cảnh chia lìa. Người phụ nữ phải hy sinh tuổi xuân, sống trong sự cô đơn, tuổi khổ để chờ chồng mặc dù chẳng biết bao giờ mới là lúc đoàn viên.

Qua phân tích 16 câu đầu tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ ta thấy được những nỗi cô đơn của người phụ nữ khi có chồng đi chinh chiến. Đó là nỗi cô đơn kéo dài triền miên theo không gian và thời gian. Nỗi cô đơn ấy chẳng có điều gì có thể xoa dịu bớt được. Có chăng chỉ là sự hy vọng ở người phụ nữ làm cho họ trở nên mạnh mẽ hơn. Qua đây ta cũng thấy được sự tài hoa của Đặng Trần Côn khi chạm đến trái tim người đọc bằng những ngôn từ cảm xúc.

Thông điệp: Con người không thể cưỡng lại quy luật vô thường của thời gian và cuộc sống ; sống cần biết trân trọng hiện tại, giữ gìn những giá trị đang có. - Lí giải: Từ Thức từ bỏ chốn tiên để trở về trần vì nỗi nhớ quê hương, nhưng khi quay về thì mọi thứ đã thay đổi, không thể tìm lại được những điều như xưa . Điều này nhắc nhở con người không nên chạy theo những ảo vọng xa xôi, mà nên biết trân trọng thực tại, nơi mình đang sống và những người bên cạnh mình, vì một khi đã mất đi thì không thể quay trở lại.  

Vì : Từ Thức chán trần thế, khi trở về quê nhà thì không còn người thân, cảnh vật cũng thay đổi, người xưa không còn. Giấc mộng trần gian tan vỡ, chàng cũng không thể trở lại tiên giới vì cỗ xe mây đã mất, duyên tiên đã hết. Nên chàng chọn lên núi Hoành Sơn, sống đời ẩn dật , biểu hiện cho sự từ bỏ cả hai thế giới – tiên và tục, như một nỗi xót xa cho thân phận cô đơn, lạc lõng giữa dòng đời vô thường