Trần Thị Bảo Hân
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Bài thơ " Bến đò ngày mưa" gợi lên trong em một cảm hứng chủ đạo man mác buồn, thấm đẫm nỗi cô đơn và hoài niệm về cuộc sống thôn quê yên ả. Trong không gian mưa rơi bảng lảng, bến đò hiện lên vắng vẻ, tĩnh lặng, như lắng nghe nhịp trôi chậm rãi của thời gian và lòng người. Cảm hứng ấy không ồn ào, dữ dội mà nhẹ nhàng, sâu lắng, khiến người đọc dễ rung động trước những điều rất đỗi bình dị. Qua hình ảnh bến đò, con sông, cơn mưa và bóng dáng con người thấp thoáng, bài thơ thể hiện rõ chủ đề về nỗi buồn thân phận và khát khao được gắn bó, được sẻ chia trong cuộc sống. Đó là nỗi buồn của những kiếp người nhỏ bé nơi làng quê, âm thầm chịu đựng sự chờ đợi, cách trở và cô quạnh. Đồng thời, bài thơ còn thể hiện tình yêu tha thiết của nhà thơ đối với cảnh sắc và con người nông thôn Việt Nam xưa — mộc mạc, chân chất nhưng giàu cảm xúc. Chính cảm hứng trữ tình ấy đã tạo nên sức lay động bền bỉ cho tác phẩm, khiến em đọc lên mà thấy lòng mình chậm lại, lắng sâu hơn trước những vẻ đẹp buồn của đời sống.
Câu 2.
Quê hương là nơi mỗi con người được sinh ra, lớn lên và gắn bó bằng những ký ức đầu đời sâu đậm nhất. Dù đi xa đến đâu, làm gì, trở thành ai, thì quê hương vẫn luôn là điểm tựa tinh thần bền vững, có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc đời mỗi con người.
Trước hết, quê hương là cội nguồn hình thành nhân cách và tâm hồn con người. Những con đường làng, dòng sông, mái nhà đơn sơ hay tiếng ru của mẹ, lời dạy của cha đã âm thầm nuôi dưỡng con người cả về thể chất lẫn tinh thần. Chính môi trường sống, nếp sinh hoạt và truyền thống văn hóa của quê hương góp phần tạo nên cách suy nghĩ, lối sống và phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân. Từ đó, con người biết yêu thương, sẻ chia, biết trân trọng những giá trị giản dị mà bền lâu.
Không chỉ vậy, quê hương còn là nơi lưu giữ ký ức và cảm xúc thiêng liêng nhất. Những kỷ niệm tuổi thơ hồn nhiên, những lần vấp ngã đầu đời hay niềm vui giản dị bên gia đình đều gắn liền với quê hương. Khi con người gặp khó khăn, mệt mỏi giữa cuộc sống bộn bề, hình ảnh quê nhà luôn mang lại sự an ủi, tiếp thêm sức mạnh tinh thần để họ vững vàng bước tiếp. Quê hương vì thế trở thành nơi để nhớ, để thương và để trở về.
Hơn nữa, quê hương còn là động lực thúc đẩy con người nỗ lực vươn lên. Tình yêu quê hương khiến mỗi người ý thức hơn về trách nhiệm của bản thân: học tập, lao động và cống hiến để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Đối với những người xa quê, chính nỗi nhớ quê hương đã trở thành nguồn động viên mạnh mẽ, giúp họ không ngừng cố gắng để khẳng định mình và làm rạng danh nơi chôn nhau cắt rốn.
Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, vẫn có những người thờ ơ, quên đi cội nguồn của mình. Đó là một thái độ đáng phê phán, bởi lẽ quên quê hương cũng đồng nghĩa với việc đánh mất một phần quan trọng của bản thân.
Tóm lại, quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là phần hồn sâu sắc trong cuộc đời mỗi con người. Yêu quê hương, trân trọng quê hương chính là biết trân trọng cội nguồn và những giá trị làm nên con người mình.
Câu 1.
Thể thơ: Tám chữ.
Câu 2.
Đề tài: Khung cảnh bến đò ngày mưa.
Câu 3.
– Biện pháp tu từ có trong bài thơ: Nhân hóa, so sánh, liệt kê.
– Tác dụng của biện pháp tu từ đó:
+ Nhân hóa: Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át; Vài quán hàng không khách đứng xo ro;... khiến cho sự vật hiện lên sinh động hơn.
+ So sánh: Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ/ Thúng đội đầu như đội cả trời mưa. Hình ảnh so sánh gợi lên trong tâm tưởng của bạn đọc khung cảnh ảm đạm, tiêu điều trong một ngày mưa ở bến đò.
+ Liệt kê: Chỉ ra những hình ảnh cảnh vật, con người trong ngày mưa tại bến đò, góp phần khắc họa chi tiết khung cảnh ảm đạm, tiêu điều ấy.
Câu 4.
– Bức tranh bến đò ngày mưa được tác giả miêu tả qua những hình ảnh: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ, quán hàng đứng xo ro, quán hàng đứng xo ro, một bác lái ghé vào hút điếu, bà hàng sù sụ sặc hơi, ho, họa hoằn có người đến chợ, họa hoằn có con thuyền ghé chở, thúng đội đầu như đội cả trời mưa.
– Những hình ảnh đó gợi cho em cảm nhận về một khung cảnh ảm đạm, hoang vắng, tiêu điều.
Câu 5.
Bức tranh bến đò ngày mưa là một bức tranh vắng lặng, ảm đạm, đơn điệu và tẻ nhạt, ẩn chứa nỗi buồn man mác. Dù bức tranh cảnh vật có bóng dáng của con người nhưng hình ảnh con người đều ít ỏi, dường như chỉ là "một", "họa hoằn" mới xuất hiện; còn khi xuất hiện thì hầu hết con người đều trong trạng thái mệt mỏi, buồn lặng, càng tô đậm thêm sự đơn điệu, ảm đạm của cảnh vật. Như vậy, qua bức tranh này, bài thơ gợi lên nỗi buồn man mác, sự lạnh lẽo, cô đơn trước cuộc sống vắng lặng, tiêu điều nơi đây.
Câu 1:
Bài thơ “Việt Nam quê hương ta” của Nguyễn Đình Thi đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu lắng và tự hào. Qua những vần thơ giản dị mà giàu hình ảnh, tác giả đã khắc họa một đất nước Việt Nam vừa thân thương, gần gũi, vừa anh dũng, kiên cường trong suốt chiều dài lịch sử. Đó là hình ảnh những cánh đồng lúa chín, dòng sông hiền hòa, làng quê yên bình gắn bó với bao thế hệ con người Việt Nam. Không chỉ đẹp bởi thiên nhiên, quê hương còn hiện lên qua truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất trước mọi kẻ thù xâm lược. Em đặc biệt ấn tượng với giọng thơ trầm hùng nhưng vẫn chan chứa tình yêu, niềm tin vào con người và tương lai đất nước. Bài thơ như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc rằng mỗi người con Việt Nam cần biết trân trọng quá khứ, biết ơn những hi sinh của cha ông để có được hòa bình hôm nay. Đọc bài thơ, trong em dâng lên niềm tự hào được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Việt Nam thân yêu, đồng thời cũng ý thức hơn về trách nhiệm của bản thân trong việc học tập và rèn luyện để góp phần xây dựng quê hương ngày càng tươi đẹp.
Câu 2:
Tinh thần dân tộc là một trong những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc và sức mạnh của con người Việt Nam. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, tinh thần ấy đã được hun đúc, bồi đắp và trở thành sợi dây gắn kết cộng đồng dân tộc, giúp đất nước vượt qua muôn vàn thử thách khắc nghiệt.
Trước hết, tinh thần dân tộc của người Việt Nam thể hiện rõ nét ở lòng yêu nước nồng nàn. Đó là tình yêu quê hương bắt nguồn từ những điều giản dị nhất: mái nhà, làng xóm, dòng sông, bờ tre, tiếng ru của mẹ. Khi Tổ quốc lâm nguy, tình yêu ấy nhanh chóng chuyển hóa thành ý chí chiến đấu kiên cường, tinh thần sẵn sàng hi sinh vì độc lập, tự do. Lịch sử dân tộc đã chứng kiến biết bao tấm gương anh dũng, từ các vị anh hùng dân tộc đến những con người vô danh, tất cả đều chung một khát vọng bảo vệ non sông gấm vóc.Không chỉ thể hiện trong chiến tranh, tinh thần dân tộc còn bộc lộ mạnh mẽ trong đời sống hòa bình. Đó là truyền thống đoàn kết, “lá lành đùm lá rách”, sự tương thân tương ái giữa con người với con người. Mỗi khi đất nước gặp thiên tai, dịch bệnh hay khó khăn, tinh thần ấy lại được khơi dậy, thể hiện qua những nghĩa cử cao đẹp, sự sẻ chia và chung tay của toàn xã hội. Đồng thời, tinh thần dân tộc còn là ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, phong tục tập quán của dân tộc trong quá trình hội nhập với thế giới.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tinh thần dân tộc đứng trước không ít thách thức. Một bộ phận giới trẻ có biểu hiện thờ ơ với lịch sử, văn hóa truyền thống, chạy theo lối sống thực dụng. Điều đó đặt ra yêu cầu mỗi người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nhận thức đúng đắn và nuôi dưỡng tinh thần dân tộc bằng những hành động cụ thể.
Tóm lại, tinh thần dân tộc là tài sản tinh thần vô giá của người Việt Nam. Việc giữ gìn, phát huy tinh thần ấy không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào của mỗi công dân, góp phần xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, văn minh và bền vững.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính của bài thơ: Biểu cảm.
Câu 3.
– Biện pháp tu từ trong khổ thơ: Lặp cấu trúc (Ta đi ta nhớ ...), điệp từ (nhớ), liệt kê (rừng, dòng sông, đồng ruộng, khoai ngô, bữa cơm rau muống, quả cà giòn tan).
– Tác dụng của một biện pháp tu từ:
+ Lặp cấu trúc: Nhấn mạnh tình yêu, nỗi nhớ của người con xa quê dành cho quê của mình.
+ Điệp từ: Khẳng định nỗi nhớ của người con xa quê dành cho quê hương thông qua những sự vật quen thuộc, bình dị như núi đồng ruộng, khoai ngô.
+ Liệt kê: Chỉ ra những sự vật bình dị, quen thuộc của quê hương như núi rừng, dòng sông, đồng ruộng, khoai ngô, bữa cơm rau muống, quả cà giòn tan, qua đó thể hiện tình yêu, sự trân trọng của người con xa quê dành cho quê hương của mình.
Câu 4.
Con người Việt Nam hiện lên trong bài thơ với những phẩm chất:
– Dũng cảm, anh hùng: Khi đất nước lâm nguy, con người Việt Nam sẵn sàng vùng lên đấu tranh, đánh tan quân thù: Đạp quân thù xuống đất đen.
– Hiền hòa, chăm chỉ, cần cù: Mặt người vất vả in sâu/ Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn; Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa.
– Thủy chung, trọng tình: Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung; Nước bâng khuâng những chuyến đò/ Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi;...
– Khéo léo, tinh tế: Tay người như có phép tiên/ Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ;...
Câu 5.
– Đề tài: Vẻ đẹp của quê hương, đất nước.
– Chủ đề: Tình yêu, sự trân trọng, ngợi ca dành cho vẻ đẹp và con người quê hương, đất nước.
Câu 1
Trong đoạn trích, Sherlock Holmes hiện lên là một vị thám tử thông minh, tài ba với khả năng suy luận logic xuất chúng. Trước hết, Holmes có cái nhìn khách quan và khoa học trong quá trình phá án. Ông tiếp cận hiện trường với đầu óc hoàn toàn không có định kiến, suy luận dựa trên những bằng chứng cụ thể chứ không phỏng đoán cảm tính. Bên cạnh đó, Holmes còn sở hữu khả năng quan sát tinh tế và tác phong làm việc cẩn trọng. Từ những chi tiết nhỏ như vết bánh xe, dấu chân trên nền đất sét, mùi thuốc độc trên môi nạn nhân hay vết máu trên sàn nhà, ông đều khai thác triệt để để làm sáng tỏ bản chất vụ việc. Không chỉ vậy, Holmes còn có vốn hiểu biết sâu rộng về y học, tội phạm học và đời sống xã hội, giúp ông đưa ra những kết luận chính xác như việc nạn nhân bị cưỡng bức uống thuốc độc chứ không phải chết tự nhiên. Đặc biệt, cách tư duy ngược và phương pháp loại trừ đã giúp Holmes xâu chuỗi các manh mối rời rạc thành một hệ thống lập luận chặt chẽ, từ đó xác định đúng hung thủ. Qua đó, Sherlock Holmes được khắc họa là hình tượng thám tử xuất chúng, tiêu biểu cho trí tuệ, bản lĩnh và tư duy khoa học.
Câu 2
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, hội nhập quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu của mọi quốc gia, trong đó có ViệtNam. Trước những cơ hội và thách thức của thời đại mới, thế hệ trẻ giữ vai trò đặc biệt quan trọng và gánh vác nhiều trách nhiệm lớn lao đối với sự phát triển của đất nước. Hội nhập quốc tế là quá trình các quốc gia mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ nhằm thúc đẩy phát triển chung. Quá trình này mang lại cho đất nước ta nhiều cơ hội quý báu: tiếp cận tri thức tiên tiến của nhân loại, mở rộng giao lưu văn hóa, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng tồn tại không ít thách thức, đặc biệt là nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc và sự cạnh tranh gay gắt về nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong hoàn cảnh ấy, thế hệ trẻ ViệtNamcần ý thức rõ trách nhiệm của mình. Trước hết, người trẻ phải không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức và nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, kĩ năng sống để đáp ứng yêu cầu của thời đại hội nhập. Một thế hệ trẻ có tri thức, bản lĩnh và sáng tạo sẽ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. Bên cạnh đó, người trẻ cần chủ động hội nhập nhưng không hòa tan, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại đồng thời trân trọng, giữ gìn và quảng bá những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Ngoài ra, việc sống có trách nhiệm với cộng đồng, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, đóng góp trí tuệ và sức trẻ cho công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng là biểu hiện rõ nét của tinh thần yêu nước trong thời đại mới. Tóm lại, hội nhập quốc tế vừa là cơ hội, vừa là thử thách đối với đất nước. Ý thức rõ trách nhiệm của mình, thế hệ trẻ hôm nay cần không ngừng nỗ lực vươn lên, khẳng định bản thân để góp phần đưa Việt Nam phát triển mạnh mẽ, tự tin và bền vững trên con đường hội nhập toàn cầu.
Câu 1. Thể loại: Truyện trinh thám.
Câu 2. Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Câu 3. – Kiểu câu ghép: Câu ghép đẳng lập.
– Quan hệ ý nghĩa giữa các vế của câu ghép:
+ Vế 1: Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà.
+ Vế 2: tôi thấy rõ những vệt bánh xe, loại xe nhỏ hai chỗ chở thuê.
+ Vế 3: tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước.
=> Các vế câu được nối với nhau bởi kết từ và, thể hiện quan hệ bổ sung giữa các vế câu.
Câu 4. Vụ án này được coi là một vụ án nan giải, hóc búa vì:
– Trên thi thể của nạn nhân không hề có vết thương nào nhưng trong căn phòng lại có nhiều vết máu.
– Tại hiện trường vụ án có nhiều điểm đáng ngờ như chiếc nhẫn cưới, chữ viết “Rache” trên mé tường tối tăm và dưới thi thể của nạn nhân thứ hai.
– Hai vụ án xảy ra liên tiếp khiến cho các điều tra viên phải đau đầu vì khó mà xác định được nghi phạm và động cơ gây án thực sự.
Câu 5. – Cách lập luận của Holmes trong văn bản .
– Holmes là một thám tử tài ba vì ông có cách lập luận vô cùng chặt chẽ, giàu sức thuyết phục:
+ Trước một vụ án nan giải, ông đã tư duy ngược để tìm ra hung thủ thực sự dựa trên cái nhìn khách quan, công bằng.
+ Ông còn tận dụng được triệt để các manh mối, dù là manh mối nhỏ nhất bị cảnh sát bỏ qua để xác lập nên các giả thiết, thu hẹp các khả năng để từ đó tìm ra hung thủ.
Câu 1.
Nhân vật "Lê Tương Dực"trong đoạn trích "Vũ Như Tô" được khắc hoạ như một hôn quân tàn bạo, ham mê khoái lạc và xa rời đời sống của dân chúng. Hắn hiện lên trước hết như một kẻ chỉ biết hưởng thụ, đắm chìm trong thú vui cung nữ, yến tiệc, bỏ mặc triều chính và nỗi thống khổ của lê dân. Việc cho xây "Cửu Trùng Đài" – một công trình xa xỉ, tốn kém – thể hiện sự mù quáng và tham vọng bệnh hoạn của Tương Dực. Hắn muốn có một cung điện nguy nga để thoả mãn sự phù phiếm của bản thân chứ không phải để phục vụ đất nước. Vì đam mê đó, nhà vua không ngần ngại vơ vét của cải, bắt dân phu lao dịch đến kiệt quệ, khiến “xương máu hoá thành gạch ngói”. Bên cạnh sự tàn bạo, Lê Tương Dực còn được miêu tả như kẻ bất tài và bạc nhược: triều đình rối ren, lòng dân oán thán mà hắn vẫn mê muội, không hề tỉnh ngộ. Qua hình tượng Lê Tương Dực, Nguyễn Huy Tưởng phê phán gay gắt tầng lớp vua chúa phong kiến mục ruỗng, coi thường sinh mạng nhân dân, đồng thời đặt nền tảng cho xung đột bi kịch giữa lý tưởng nghệ thuật và thực tại tăm tối trong tác phẩm.
Câu 2.
Trong xã hội hiện đại, khi nhịp sống ngày càng gấp gáp và các mối quan hệ dần trở nên lạnh lùng, “bệnh vô cảm” ở một bộ phận giới trẻ đang trở thành vấn đề đáng lo ngại. Vô cảm là sự thờ ơ trước nỗi đau, khó khăn hoặc những vấn đề xung quanh; đó là khi con người sống khép mình trong “vỏ ốc” của riêng mình, thậm chí mặc kệ những điều sai trái đang diễn ra. Đáng buồn thay, tình trạng này ngày một phổ biến trong một bộ phận thanh niên – những người lẽ ra phải giàu nhiệt huyết, biết yêu thương và sẵn sàng hành động vì cộng đồng.
Biểu hiện của sự vô cảm rất đa dạng: thờ ơ khi thấy người gặp nạn, ngó lơ trước những hành vi bạo lực học đường, ngại lên tiếng trước cái xấu, hoặc chỉ chăm chăm vào thế giới ảo mà bỏ quên những người thân bên cạnh. Không ít bạn trẻ dần đánh mất khả năng sẻ chia, không còn sự đồng cảm với đồng loại. Nguyên nhân của thực trạng ấy đến từ lối sống cá nhân hóa, sự phụ thuộc quá mức vào công nghệ, sự thiếu quan tâm của gia đình, áp lực học tập – công việc và đặc biệt là việc thiếu giáo dục về lòng nhân ái trong môi trường sống.
Tác hại của bệnh vô cảm vô cùng nghiêm trọng. Nó khiến các giá trị đạo đức bị xói mòn, làm suy giảm tinh thần đoàn kết và sự gắn kết cộng đồng. Khi cái ác không bị ngăn chặn, khi nỗi đau của một người không lay động được trái tim của người khác, xã hội sẽ trở nên lạnh lẽo và bất an hơn.
Để khắc phục tình trạng này, mỗi bạn trẻ cần rèn luyện lòng trắc ẩn, học cách quan tâm và sẻ chia; mạnh dạn lên tiếng trước cái xấu; tham gia các hoạt động tình nguyện để thấu hiểu cuộc sống của người khác. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần phối hợp giáo dục giá trị sống, giúp giới trẻ nhận ra ý nghĩa của yêu thương, trách nhiệm và nhân văn.
Bài học rút ra là: Sự vô cảm không chỉ làm nghèo đi cảm xúc của mỗi con người mà còn làm xói mòn đạo đức xã hội. Mỗi người trẻ hãy mở rộng trái tim, sống yêu thương và hành động tích cực để xây dựng một cộng đồng ấm áp, nhân ái hơn.
Câu 1.
Đoạn trích trên tái hiện lại sự việc: Quận công Trịnh Duy Sản ra sức khuyên vua Lê Tương Dực tỉnh ngộ, rời xa sắc dục và dừng việc xây dựng Cửu Trùng Đài.
Câu 2.
Lời độc thoại được thể hiện qua lời thoại của vua Lê Tương Dực: Lão gàn quái! hoặc Có việc gì khẩn cấp?.
Câu 3.
- Những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực: cau mặt, nghĩ một lúc, nhìn Trịnh Duy Sản một cách giận dữ, rút kiếm.
- Nhận xét, đánh giá những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực:
+ Có tác dụng mô tả chân thực, cụ thể rõ nét hơn về nhân vật Lê Tương Dực.
+ Thể hiện rõ diễn biến tâm lí của vua Lê Tương Dực trước những lời can gián của Trịnh Duy Sản.
Câu 4.
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn: Liệt kê: Kinh Bắc thì có Thôn Duy Nhạc, Ngô Văn Tổng. Đất Sơn Tây thì có Trần Tuân; Tam Đảo thì có Phùng Chương. Chúng dấy binh làm loạn, giết cả quan lại triều đình, hãm hiếp dân đen, đốt phá làng mạc. Dân gian không được an cư lạc nghiệp, ruộng nương bỏ hoang, cửi canh xao nhãng, cực khổ không biết thế nào mà kể cho hết. Tiếng oán thán nổi lên đầy trời.
- Tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn văn: Khắc họa chân thực, cụ thể bối cảnh loạn lạc của đất nước ta lúc bấy giờ: Những cuộc khởi nghĩa xảy ra khắp nơi, nhân dân đói kém, loạn lạc, lầm than, bị hãm hiếp.
Câu 5.
- Bối cảnh xã hội lúc bấy giờ: Đất nước loạn lạc, nhân dân điêu đứng lầm than không chỉ vì giặc cỏ làm loạn khắp nơi, mà còn vì vua quan bỏ bê dân chúng, chấp mê bất ngộ, chỉ biết vơ vét, bắt ép dân chúng, ham mê sắc dục.
- Nhận xét về vua Lê Tương Dực: Vua Lê Tương Dực là một vị hôn quân, nhu nhược và ích kỉ.
Câu 1 : Nhân vật Dung trong đoạn trích "Hai lần chết" của Thạch Lam hiện lên với vẻ đẹp của một tâm hồn trong sáng, nhạy cảm và giàu lòng vị tha. Cô là hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam truyền thống, chịu thương chịu khó, luôn đặt hạnh phúc gia đình lên trên hết. Dù phải đối mặt với nỗi đau mất chồng, Dung vẫn giữ được sự bình tĩnh, mạnh mẽ, lo toan chu toàn cho con cái. Sự hi sinh thầm lặng của cô được thể hiện qua từng cử chỉ, hành động nhỏ nhặt, từ việc chăm sóc con cái đến việc lo liệu công việc nhà cửa. Tình yêu thương của Dung dành cho chồng, dù chồng đã mất, vẫn còn đong đầy, thể hiện qua những hồi ức, những kỷ niệm mà cô vẫn giữ gìn cẩn thận. Tuy nhiên, bên cạnh sự mạnh mẽ, Dung cũng là người phụ nữ yếu đuối, dễ tổn thương trước những mất mát, đau buồn trong cuộc sống. Hình ảnh Dung nằm khóc bên cạnh quan tài chồng, hay sự bơ phờ, mệt mỏi trên khuôn mặt cô, đều cho thấy sự đau khổ, tuyệt vọng mà cô phải gánh chịu. Qua nhân vật Dung, tác giả Thạch Lam đã khắc họa thành công hình ảnh người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh, luôn mạnh mẽ vượt qua khó khăn, nhưng cũng không kém phần yếu đuối, cần được che chở. Cô là hiện thân của vẻ đẹp tâm hồn, của sự chịu đựng và hy sinh cao cả.
Câu 2 :
Cuộc sống ngày càng phát triển, và điều này đã dẫn đến một giảm bớt về vấn đề "Trọng nam khinh nữ" trong xã hội hiện đại. Vai trò của người phụ nữ trong xã hội ngày càng được coi trọng, tương đương với vai trò của người chồng. Họ không chỉ có cơ hội để tự thể hiện mình trong cuộc sống, mà còn có thể tham gia vào thị trường lao động, đóng góp vào kinh tế gia đình. Do đó, tiếng nói của người phụ nữ trong gia đình cũng trở nên có uy lực và ảnh hưởng lớn hơn.
Bình đẳng giới không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà còn là một thực tế trong xã hội hiện đại. Trong một gia đình và xã hội, người phụ nữ có vị trí và vai trò quan trọng, không còn phải chịu sự quản lý học phục tùng như thời kỳ phong kiến. Bình đẳng giới không chỉ mang lại quyền lợi cho người phụ nữ mà còn đòi hỏi sự tôn trọng và hỗ trợ từ phía nam giới và xã hội.
Người đàn ông và xã hội phải tôn trọng người phụ nữ và tạo điều kiện cho họ có cơ hội phát triển. Bằng cách này, nam và nữ có thể trở nên bình quyền thông qua bộ luật dân sự và các biện pháp hỗ trợ từ nhà nước Việt Nam. Mặc dù đã có những tiến triển về bình đẳng giới được thể hiện trong các luật, nhưng thực tế cuộc sống vẫn chưa hoàn toàn đạt đến sự bình đẳng này.
Trong cuộc sống hàng ngày, người phụ nữ trong xã hội ngày nay có nhiều cơ hội hơn để phát triển, thể hiện bản thân và đóng góp vào xã hội. Tuy nhiên, sự bình đẳng giới vẫn chỉ ở mức tương đối, chưa đạt đến mức độ hoàn toàn bình đẳng. Trong các lĩnh vực khác nhau, người phụ nữ vẫn phải đối mặt với những thách thức và thiệt thòi nhiều hơn, làm cho việc đảm bảo sự bình đẳng giới trở nên khó khăn.
Đấu tranh cho bình đẳng giới không chỉ là việc loại bỏ các định kiến và tư tưởng cũ, mà còn đòi hỏi sự thay đổi trong ý thức và hành vi của cả cộng đồng. Trong mỗi gia đình, các thành viên thường cùng nhau chia sẻ công việc, từ việc kiếm tiền đến công việc nhà, nội trợ và chăm sóc con cái. Tuy nhiên, thực tế là người phụ nữ thường phải đảm nhận nhiều công việc hơn, đặc biệt là khi kết hợp giữa công việc ngoại trời và công việc gia đình. Điều này tạo ra một tình trạng không công bằng và là một thách thức trong việc thực hiện bình đẳng giới.
Mặc dù đã có những tiến triển về bình đẳng giới, nhưng trong mọi cuộc đấu tranh, người phụ nữ vẫn thường phải đối mặt với nhiều khó khăn và thiệt thòi hơn so với nam giới. Các vấn đề như tư tưởng cổ hủ, trọng nam khinh nữ, và sự phân biệt đối xử giới vẫn tồn tại trong xã hội Việt Nam. Sự thay đổi này không dễ dàng và đòi hỏi sự đồng lòng của cả xã hội.
Trong vấn đề sinh sản, người phụ nữ thường phải tự lo cho các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, trong khi người đàn ông thường ít quan tâm đến vấn đề này. Điều này là một dạng bất bình đẳng giới, nơi người phụ nữ phải chịu trách nhiệm nhiều hơn trong việc duy trì an toàn và sức khỏe của gia đình.
Một khía cạnh khác của bất bình đẳng giới là trong lựa chọn nghề nghiệp. Có những ngành nghề đặc thù tuyển dụng chủ yếu nam giới, vì họ được xem là có khả năng đảm bảo công việc nặng nhọc và áp lực cao. Mặc dù không phải là trọng nam khinh nữ, nhưng tính chất của công việc vẫn tạo ra sự chênh lệch giữa nam và nữ trong một số ngành nghề.
Trong xã hội hiện đại, chúng ta đang hướng tới sự bình đẳng giới để làm cho cuộc sống trở nên trọn vẹn hơn. Mỗi thành viên trong gia đình cần phải có ý thức về tôn trọng đối với người phụ nữ, dù là người vợ hay người mẹ. Quan điểm cổ truyền về sự ưu tiên con trai trong gia đình cần được thay đổi, và sự hạnh phúc không nên phụ thuộc vào giới tính của đứa con. Sự chia sẻ trách nhiệm và quan tâm lẫn nhau giữa vợ chồng và các thành viên trong gia đình là chìa khóa để xây dựng một xã hội bình đẳng giới và tiến bộ.
Câu 1.
Luận đề: Ý nghĩa của chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương.
Câu 2.
- Tình huống truyện độc đáo: Người chồng sau bao năm đi lính theo lệnh của triều đình, may mắn thoát chết trở về, những mong được ôm ấp đứa con thì đứa con lại kể về người cha của mình ở nhà, khiến cho Trương Sinh nghi ngờ vợ.
- Chi tiết cái bóng chính là yếu tố quan trọng làm nên tình huống đầy bi kịch này.
Câu 3.
Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là để dẫn dắt, tạo đòn bẩy cho việc tập trung phân tích chi tiết cái bóng.
Câu 4.
- Chi tiết khách quan: Ngày xưa chưa có tivi, đến cả “rối hình" cũng không có, tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường, nhờ ánh sáng ngọn đèn dầu, mỡ.
- Chi tiết chủ quan: Có lẽ vì muốn con luôn luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà, và để tự an ủi mình, thấy mình với chồng vẫn luôn bên nhau như hình với bóng, nên người vợ đã chỉ vào cái bóng của mình mà nói với con rằng đó là cha của Đản - tên của đứa con.
- Mối quan hệ giữa hai cách trình bày trên trong văn bản:
+ Phần trình bày ý kiến khách quan là cơ sở để dẫn dắt tới ý kiến chủ quan của người viết, tạo nên sự thuyết phục cho ý kiến chủ quan.
+ Phần trình bày ý kiến chủ quan giúp người viết thể hiện rõ được ý kiến, quan điểm của mình trong quá trình đọc hiểu tác phẩm, góp phần làm rõ luận đề của bài viết, tạo nên sự thống nhất giữa nhan đề và nội dung bài viết, tạo nên sức thuyết phục lớn đối với người đọc.
Câu 5.
Người viết cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc vì:
- Nó bắt nguồn từ một trò chơi dân gian, hết sức phổ biến, gần gũi với nhân dân.
- Nó thể hiện tình yêu của Vũ Nương dành cho con, cho chồng.
=> Người kể chuyện đã khéo léo đẩy một trò chơi dân gian lên làm một cái cớ để xây dựng một tình huống truyện độc đáo, góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề, tư tưởng của tác phẩm - lên án thói ghen tuông mù quáng như một căn bệnh truyền đời của nhân loại.