Lưu Hân Di
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 văn bản thuộc thể loại truyện truyền thuyết
Câu 2: ngôi thứ 3
Câu 3:nhân vật chính trong “Chuyện Lý Tướng Quân” là Lý Thường Kiệt – một vị anh hùng dân tộc thời Lý.
Câu 4: chi tiết hoang đường: Lý Thường Kiệt hiển linh, hóa thần sau khi mất. Tác dụng: Tôn vinh nhân vật, thể hiện lòng biết ơn và niềm tự hào dân tộc,Đồng thời Làm đậm chất truyền thuyết của câu truyện Câu 5: Văn bản “Chuyện Lý Tướng Quân” ca ngợi tài năng, đức độ và lòng yêu nước của vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt – người đã có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ non sông đất nước. Qua hình tượng ông, nhân dân thể hiện lòng biết ơn sâu sắc và niềm tự hào dân tộc đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho Tổ quốc. Bản thân em học được rằng cần phải yêu nước, biết ơn và noi gương các bậc anh hùng đi trước; luôn rèn luyện, học tập và sống có trách nhiệm để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, vững mạnh.
Sự lựa chọn của từ thức ở cuối đoạn trích thể hiện nhiều tầng nghĩa.Đầu tiên, việc từ thức mặc áo cừu nhẹ và đội nón lá ngắn cho thấy anh đang chuẩn bị cho một cuộc hành trình, có thể là một sự tìm kiếm hãy khám phá mới mẻ. Áo cừu nhẹ, nón lá là những hình ảnh gắn liền với phong cách nông thôn Việt Nam, biểu hiện sự giản dị và gần gũi với thiên nhiên.
Hành động"vào núi Hoành Sơn"không chỉ là một địa điểm cụ thể mà còn mang ý nghĩa tượng trưng cho sự rời bỏ cuộc sống trần thế, tìm kiếm sự tự do và khát khao trải nghiệm. Hoành Sơn cũng có thể đại diện cho những thử thách và gian nan Từ Thức phải đối mặt.
Câu kết"rồi sao không biết đi đâu mất"gợi lên một sự mơ hồ , thể hiện cảm giác lạc lối và mất mát. Điều này có thể phản ánh sự bối rối trong tâm hồn từ thức khi anh rồi bỏ cuộc sống hiện tại để tìm kiếm một điều gì đó lớn lao hơn , nhưng lại không rõ ràng về đích đến của mình. Đây cũng có thể là một hình ảnh ẩn dụ cho hành trình tìm kiếm bản thân, khát vọng tự do, nhưng đồng thời cũng chứa đựng nỗi cô đơn và sự không chắc chắn trong cuộc sống.
- Thông điệp chính:Trân trọng hạnh phúc và nhận thức giới hạn
-Lý giải:
+"Từ Thức ở nơi tiên cảnh" ban đầu ,chàng trai mải mê với cuộc sống tiên cảnh mà quên mất cõi trần gian, dẫn đến việc xa cách giá đình quên lãng quê hương
+"Trở về trần thế "khi trở về chàng phát hiện cuộc sống ở trần gian đã thay đổi quá nhiều và mình không còn thuộc về nơi này nữa
+"Sự lựa chọn cuối cùng"tiết thức cuối cùng đã chọn ở ẩn nơi núi cao, xã rời cuộc sống nhân gian đây là cách tốt nhất cho chàng khi không còn thuộc về chốn thần tiên cũng không còn hợp với cõi nhân gian.Câu chuyện cho thấy con người ta không thể có tất cắt mọi thứ,và sự tham lam có thể dẫn đến mất mát
“Chinh phụ ngâm” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam. Bản dịch thơ của Đoàn Thị Điểm đã làm lay động lòng người bởi nỗi nhớ thương, cô đơn của người chinh phụ khi xa chồng. Đoạn trích trong bài thể hiện sâu sắc tâm trạng cô đơn, sầu muộn và khát khao đoàn tụ của người phụ nữ có chồng ra trận, đồng thời cho thấy tài năng nghệ thuật tinh tế của tác giả Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” được viết bằng chữ Hán, tương truyền của Đặng Trần Côn, và được Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm theo thể song thất lục bát. Tác phẩm diễn tả tâm trạng của người vợ có chồng ra trận trong khung cảnh chiến tranh loạn lạc, qua đó bộc lộ tiếng nói cảm thương cho thân phận người phụ nữ. Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đôi phen. Cảnh hiên vắng, rèm thưa gợi không gian tĩnh lặng, hiu quạnh. Hình ảnh “gieo từng bước” và “rủ thác đôi phen” cho thấy người chinh phụ trong tâm trạng buồn bã, cô đơn, đi đi lại lại chỉ để giết thời gian, mong ngóng tin chồng.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm đường đã có đèn biết chăng? Con chim thước vốn là điềm báo tin vui, nhưng nay “chẳng mách tin” càng làm tăng thêm nỗi lo âu. Hình ảnh “đèn” – vật vô tri được nhân hóa, như người bạn tâm tình, nhưng “đèn có biết chăng?” – câu hỏi tu từ gợi sự cô quạnh tuyệt đối, khi nỗi lòng không ai thấu hiểu. Hoa đèn kia với bóng người khá thương, Gà eo óc gáy sương năm trống, Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên. Không gian đêm khuya với tiếng gà gáy, bóng hoè, ngọn đèn leo lét càng tô đậm nỗi sầu. Người chinh phụ thao thức suốt đêm dài, thời gian như ngưng đọng trong cô đơn và mong nhớ. Hương gượng đốt hồn đà mê mải, Gương gượng soi lệ lại châu chan. Sắt cầm gượng gảy ngón đàn, Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Điệp từ “gượng” được lặp lại ba lần thể hiện sự cố gắng gượng gạo của người chinh phụ trong nỗi cô đơn. Mọi hành động – thắp hương, soi gương, đánh đàn – đều vô nghĩa khi lòng đầy thương nhớ. Âm thanh “dây uyên kinh đứt” tượng trưng cho tình duyên chia lìa, cho nỗi đau không thể hàn gắn. Đoạn trích diễn tả chân thực, sâu sắc nỗi nhớ mong, cô đơn và tuyệt vọng của người phụ nữ có chồng đi chinh chiến. Đó cũng là tiếng nói cảm thông với số phận của bao người phụ nữ trong xã hội phong kiến Thể thơ song thất lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, phù hợp diễn tả cảm xúc buồn thương.Biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, điệp từ được sử dụng tinh tế (như hình ảnh đèn, rèm, hoa, gà, dây đàn...).Ngôn ngữ giàu sức gợi, nhạc điệu du dương, buồn man mác.Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: cảnh vật đêm khuya tĩnh lặng phản chiếu tâm trạng u sầu của người chinh phụ. Đoạn trích trong “Chinh phụ ngâm” là bức tranh tâm hồn đầy cảm xúc của người phụ nữ trong nỗi cô đơn, nhớ thương và khát khao hạnh phúc. Với ngòi bút tinh tế, Đoàn Thị Điểm đã diễn tả thành công nỗi đau sâu kín của người chinh phụ, đồng thời thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc – trân trọng tình yêu, khát vọng sum họp và đồng cảm với nỗi khổ của con người.