Vũ Lưu Lan Anh
Giới thiệu về bản thân
Câu 2
Lòng tham là một khía cạnh tiêu cực của tâm lý con người, biểu hiện qua sự ham muốn không giới hạn về vật chất, danh vọng hoặc quyền lực.Nó không chỉ là một đặc điểm cá nhân mà còn là một vấn đề xã hội, ảnh hưởng đến trật tự và sự phát triển của cộng đồng.
Lòng tham có thể dẫn đến sự dằn vặt, khổ sở, và đánh mất đi những giá trị đạo đức tốt đẹp.Lòng tham là nguyên nhân của nhiều tệ nạn xã hội như tham nhũng, gian lận, bóc lột và các hành vi phi pháp khác.Nó tạo ra sự bất bình đẳng, làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo và làm suy yếu niềm tin trong cộng đồng.
Học cách yêu thương, chia sẻ và đồng cảm với người khác là phương pháp hiệu quả nhất để chống lại lòng tham. Nâng cao ý thức và rèn luyện bản thân bằng những phẩm chất tốt đẹp của dân tộc như lòng trung thực, trách nhiệm và tinh thần đoàn kết. Bên cạnh đó cần xác định mục tiêu và hoài bão chính đáng để tập trung nỗ lực, thay vì bị những lời nói ghen tị của người khác mà làm mất đi tự tin làm việc mình thích. Đồng thời nên đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu và cảm thông cho họ, điều này giúp giảm bớt sự ích kỷ và gia tăng tình yêu thương trong cộng đồng.
Lòng tham là một trong những gốc rễ của mọi bất hạnh trong cuộc sống. Chúng ta nên sống mà không nghe theo người khác, hãy sống là chính mình và đừng nỗi lòng tham hay ghen tị với một người nào đó.
Câu 1
Văn bản trên thuộc thể loại truyện lịch sử
Câu 2
Ngôi kể : ngôi thứ ba
Câu 3
Nhân vật chính : Đặng Tất
Câu 4
Không có yếu tố kì ảo
Câu 5
Ý nghĩa của văn bản trên:
+Văn bản ca ngợi lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu dũng cảm của các vị tướng nhà Hậu Trần.
+Phê phán sự nghi ngờ, nghe lời gièm pha của Giản Định Đế, dẫn đến việc giết oan công thần.
Bài học cho bản thân:
+Cần có cái nhìn khách quan, đa chiều và tin tưởng vào những người xung quanh.
+Không nên để những lời gièm pha, đố kị làm ảnh hưởng đến quyết định của mình.
Có thể nói, ở mỗi thời đại, văn học đều là tấm gương phản chiếu lên được mặt tốt và mặt xấu của xã hội. Khai thác và đào sâu vào những vấn đề thuộc về nội tâm của con người. Tác phẩm "Chinh phụ ngâm" là một điển hình tiêu biểu như thế, đặc biệt là những câu thơ phản ánh lên tội ác của những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm cho người chinh phụ phải rơi vào tình cảnh cô đơn lẻ loi, tâm trạng đau khổ khắc khoải khôn nguôi.
Đoạn trích ra đời vào thế kỉ XVIII. Đầu đời vua Lê Hiển Tông. Khi ấy, cảm nhận được nỗi khổ của những người nông dân, đặc biệt là người vợ của những người lính, Đặng Trần Côn đãviết nên tác phẩm, bằng chữ Hán là một khúc ngâm đầy cảm xúc. Đoạn trích trên nằm từ câu 193 -216 và từ câu 228 - 252 trong nguyên tác. Khi vừa ra đời tác phẩm đã nhận được rất nhiều sự chú ý từ những nhà yêu thơ, đã có nhiều bản dịch ra chữ Nôm, nhưng bản dịch hiện tại là thành công nhất được viết theo thể song thất lục bát là thể thơ thuần túy của người Việt Nam. Đoàn Thị Điểm là người dịch bài, bởi bà cũng có hoàn cảnh giống như người chinh phụ (bà có chồng đi sứ ở Trung Quốc). Đoạn trích là khung cảnh người chinh phụ chờ đợi chồng trong hoàn cảnh u buồn, đơn độc. Những hành động được tiếp diễn đưa cảm xúc lên cao trào.
Mở đầu cho cảm xúc cô đơn, đau buồn kéo dài theo không gian và thời gian vô tận là hành động chậm rãi
"Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen."
Hành động được hiện ra với dáng vóc đầy suy tư của người chinh phụ. Nhịp thơ nhẹ nhàng, như để đi vào cảm xúc. Những động từ "dạo, gieo từng bước", cho thấy nhữngbước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, không gian im lặng đến mức nghe từng tiếng bước chân. Người chinh phụ dường như đang suy nghĩ trăn trở nên nàng "ngồi" mà lòng thì chẳng để tâm. Tác giả đã sử dụng hình ảnh " rủ thác đòi phen"- kéo màng lên rồi lại buông màn xuống. Để cho thấy hành động lặp đi lặp lại vô nghĩ. Và rồi dường như có tiếng thầm thì trách móc:
"Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng. Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi."
Người chinh phụ bắt đầu giãi bày nỗi niềm tâm sự của mình. Thực sự nàng đang rất nhớ người chinh phu điều đó được thể hiện rõ nét qua hình ảnh "chim thước"- chim khách, là loài chim thường mang tin tốt lành. Nghệ thuật đối lập "ngoài rèm" và "trong rèm" để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm tất cả không gian bên trong và bên ngoài phòng khuê. Và nàng cũng cần lắm một người tâm sự cùng mình. "Đèn" được nhà thơ nhân hóa lên như một người bạn. Nếu với "Ca dao yêu thương tình nghĩa": " Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt" chiếc đèn nguyện cùng cô gái thao thức suốt đêm mộng mơ nhớ thương, bởi vì chẳng có ai bên cạnh để nàng chia sẻ. Biết bao nỗi niềm chất chứa chẳng nói thành lời:
"Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương."
Nỗi buồn u ám dưới màng đêm, nỗi buồn mà ngay cả nàng cũng chẳng thể nói nên lời được. Có lẽ do nỗi buồn ấy quá lớn và nó lại hiện lên mỗi ngày. Nghệ thuật so sánh "Hoa đèn" với "bóng người", người chinh phụ nhìn hoa đèn mà nghĩ đến cuộc đời của mình có mau lụi tàn như chiếc hoa đèn kia hay không? Hay còn hẩm hiu hơn thế nữa? Càng nghĩ nàng càng thấy buồn, dường như lúc này cảnh vật cũng rũ xuống một màu đen tối:
"Gà eo óc gáy sương năm trống, Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên. Khắc giời đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa."
Trời đã khuya, không gian yên tĩnh, nghe từng tiếng gà gáy. Âm thanh vang lên "eo óc" thưa thớt, hình ảnh hoa hòe "rũ bóng bốn bên", thời khắc cảnh vật mỏi mòn chìm vào đêm tối. Đã qua hết năm canh mà người chinh phụ vẫn còn thao thức với nỗi sầu khó vơi đi được. Sự so sánh "khắc giờ" như "niên", một giờ dài bằng một năm, điều đó càng tô đậm hơn nỗi cô đơn. Thời gian cũng kéo dài cùng với nỗi sầu muộn của nàng. Cùng với từ láy "đằng đẵng", "dằng dặc" cho thấy sự kéo dài triền miên đau đớn cứ mãi day dứt trong lòng. Nghệ thuật lấy động tả tỉnh làm nổi bật lên không gian, thời gian, lấy cái xa của biển cả để nói về cái buồn của lòng người là một cách miêu tả đầy tinh tế. Tiếp đến nàng muốn tìm những thú vui tao nhã, tập cách quên đi nỗi buồn trước mắt:
"Hương gượng đốt hồn đà mê mải, Gương gượng soi lệ lại châu chan. Sắt cầm gượng gảy ngón đàn, Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng."
Nhưng nàng chẳng biết rằng những thú vui tao nhã này lại khi nàng chìm đắm vào nỗi sầu mênh mang. Khi đánh đàn nàng lại sợ "dây uyên đứt", "phím loan chùng" nàng sợ những điều không may xảy đến cuộc tình của nàng. Điệp từ "gượng" được lặp lại ba lần cho thấy sự miễn cưỡng trong hành động. Nhưng dù có thú vui tao nhã đến đâu, dù tô son điểm phấn hay đánh đàn thì cũng chẳng bao giờ nàng cảm thấy vui, bởi vì ngay lúc này với nàng là nỗi cô đơn mong mỏi chồng từ nơi chinh chiến sẽ trở về, mong được nghe một lời động viên an ủi từ người chồng của mình.
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, sử dụng những điệp từ, so sánh nhiều hình ảnh để vẽ ra khung cảnh của người chinh phụ mang nhiều tâm trạng. Sự cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ trong đêm tối. Và khi hình ảnh buồn khổ ấy hiện lên chân thực đến đâu thì càng vạch trần cái tội ác xấu xa của chiến tranh phi nghĩa đẩy biết bao gia đình rơi vào cảnh chia lìa. Từ đấy cho ta thấy được cách chọn đề tài của Đặng Trần Côn rất mới mẻ, phù hợp với thời đại lúc bấy giờ. Cách miêu tả nội tâm đầy sâu sắc của ông, cho thấy ông là một người có vốn sống rất rộng. Đồng thời là sự sắc sảo trong cách dùng từ của dịch giả Đoàn Thị Điểm đã tạo nên sự thành công cho đoạn trích.
Thông qua đoạn trích ta càng hiểu rõ nét hơn những nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ khi có chồng đi chinh chiến. Nó là nỗi cô đơn da diết kéo dài theo không gian thời gian. Từ đó cho thấy hậu quả của chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Và là lời ca ngợi cho tác giả Đặng Trần Côn, ông quả là một nhà thơ tài năng và tác phẩm của ông đã chạm đến trái tim của đọc giả. Mỗi lần nhắc về những tác phẩm chữ hán, người ta sẽ nghĩ ngay đến "Chinh phụ ngâm". Ông đã góp thêm cho nền văn học nước nhà áng thơ vô cùng xuất sắc.
Thông điệp ý nghĩa nhất là :
Mỗi chúng ta đều là con người thuộc về thế gian nên cho dù có được sống ở nơi thần tiên cũng không thể bỏ qua được quê hương của mình
Chúng ta không thể mong muốn có tất cả được chỉ khi không lam tham thì ta mới thấy đủ nếu không sẽ mất hết như Từ Thức
Sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích là:
+ Chàng không muốn sống một cuộc sống trần tục nhưng lại không thể trở về chốn thần tiên nên sự lựa chọn này là cách tốt nhất cho chàng.
+ Sự lựa chọn vào núi Hoành Sơn, mặc áo cừu, nón lá là biểu hiện của sự chuẩn bị để ẩn dật, từ bỏ mọi ràng buộc, tìm kiếm một cuộc sống tự do, giải thoát khỏi những gì đã qua