Nguyễn Ngọc Tú
Giới thiệu về bản thân
Đề số 1
Bài GV giao
Bài 1
Đọc văn bản sau.
CHÉN THUỐC ĐỘC
(Trích)
(Lược một đoạn: Cụ Thông chết đi, để lại cho vợ con một gia sản giàu có. Nhưng do bà vợ và cô con dâu cả ham đồng bóng, cậu con trai cả là thầy Thông Thu lại ăn chơi trác táng nên cảnh nhà sa sút nhanh chóng. Thầy giáo Xuân, bạn của thầy Thông Thu, đã nhiều lần dùng lời hay lẽ phải khuyên can bạn, nhưng thầy Thông Thu đều bỏ ngoài tai. Cuối cùng, gia đình dần cạn kiệt tài sản, thầy Thông Thu có thể sẽ phải vào tù nếu không trả được nợ.)
Đoạn trích dưới đây thuộc hồi thứ Hai, lớp I và hồi thứ Ba, lớp VI của vở kịch.
HỒI THỨ HAI
Lớp I
THẦY THÔNG THU (Bóp trán nghĩ ngợi) − Thế là tính cả ruộng nương nhà quê, công nợ và tiền mặt, nhà mình còn có 2000 đồng. Mà mình nợ Tây đen 500 đồng, nợ vặt cộng 200 đồng, mẹ nợ chủ Ả Peng 400 đồng, cộng một nghìn mốt,... Bán cả ruộng nương, đòi hết công nợ lấy tiền trả ba món nợ, còn lại được có chín trăm đồng, với lại cái nhà này! Chao ôi! Sao mà chóng hết thế này? Thế ra có hai năm giời mà nhà ta tiêu hết những năm nghìn đồng!... Hai nghìn rưỡi một năm, hai trăm đồng một tháng!... (Một lát) Nghĩ ra thì đến thật! Hàng Giấy, cao lâu thua bạc, cho gái, bạn lừa,... Nghĩ ra thì mình thường điên rồ ném tiền qua cửa sổ khi mình tiêu năm mười đồng bạc cứ coi như không. Bây giờ tích tiểu thành đại, bại hoại gia tài, biết hối thì đã không kịp! Lương tháng mình có non bốn chục đồng mà tiêu những hai trăm! Điên rồ quá!
(Một lát lại nói)
Giá tôi biết nghe những lời anh giáo Xuân thường can ngăn thì đâu có đến nông nỗi này! Ta càng nghĩ bao nhiêu, càng thấy mình làm nhơ, làm nhuốc, làm xấu, làm hổ bấy nhiêu. Tu mi nam tử(1), công mười năm học hành đã không làm được điều gì ích quốc lợi dân thì chớ, lại còn đắm đuối trong bể tình dục, miệt mài trong cuộc truy hoan, đến nỗi gia tài của cha để lại mới có vài năm mà đã gần khánh kiệt(2). Một năm nữa thì tay trắng chứ còn sá gì! Nhơ nhuốc thay!
HỒI THỨ BA
Lớp VI
THẦY THÔNG THU (Một mình, thở dài) − Thật là vô kế khả thi! Tiền tài hết! Danh dự không còn! Ở tù! Nay mai lại được đóng lon tù! Ôi thôi! Nước đời đến thế còn mong nỗi gì!... Ở tù! Ở tù! Kìa, kìa thằng tù ăn cơm hầm, mặc áo số, gối đất nằm sương, làm lụng cực hơn con vật! Mình quen ăn sung mặc sướng, làm lụng thì quen mùa nóng quạt máy, mùa rét lò sưởi, chịu sao được những nỗi đắng cay ở tù? Thà rằng một thác cho xong! Chí ta đã quyết rụt rè sao nên.
(Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.)
Ta đã mua bác dấm thanh này, với bác thuốc phiện này, là đã quyết nhờ hai bác đưa giùm ta về với cõi cực lạc.
(Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.)
Sống mà chi nữa? Thác trong còn hơn sống đục! Ta sống mà ta không chút gì ích quốc lợi dân, ta sống mà ta làm một con mọt trong xã hội thì ta sống làm gì? Chết thôi!
(Cầm cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.)
Thuốc chưa tan hết, ta uống ngộ còn ngắc ngoải, không chết dứt chăng? (Lại khuấy) Chết chứ sợ gì? Nghĩ cho kĩ ở trên đời có nghĩa lí gì? Từ khi ngo ngoe khóc, lọt lòng mẹ ra đến khi cắp được quyển sách đi học; từ lúc trưởng thành cho đến khi răng long tóc bạc, sinh con đẻ cái, nghèo khổ hay giàu sang; vui sướng hay sầu não; ta nghĩ lại công trình tạo hoá đối với cái hạt bụi người chẳng qua chỉ thế thôi! Người ta nói "đời người là giấc mộng" có lẽ cũng là thế đó. Thôi ta chết cho rồi!
(Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.)
Ta đã quyết lòng chết thì có sợ chi! Nhưng ta mà chết đi thì mẹ ta, vợ ta, em ta ai nuôi, ai nấng, ai trông, ai nom? Mà nói cho phải thì dù ta sống mà phải ở tù thì khác chi chết, trông nom nuôi nấng sao cho được mẹ, được vợ, được em? Dẫu có được tha sớm thì mình cũng đã bị cách chức rồi, còn chi nữa mà mong!... Vậy ta sống cũng như ta chết, chẳng thà chết trước còn hơn!
(Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.)
Ừ mà ta thong thả một chút rồi hãy chết! Tí nữa quên! Ta có thằng em trai cũng vì chơi bời quá, công nợ nhiều, bỏ nhà sang Lào, hôm nọ nghe họ đồn rằng nó làm ăn cũng đã khá, vậy ta hãy viết cho nó cái thư để nó về phụng dưỡng mẹ. Phải rồi, ta hãy viết thư cho nó rồi chết cũng cam tâm.
(Trích Chén thuộc độc, Vũ Đình Long, in trong Tổng hợp văn học Việt Nam, tập 24, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000)
* Chú thích:
(1) Tu mi nam tử: Ý chỉ người đàn ông trưởng thành, mạnh mẽ, có tư cách.
(2) Khánh kiệt: Chỉ tình trạng cạn kiệt về tài sản, nguồn lực hoặc sức lực.
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản "Chén thuộc độc".
Câu 2. Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng hình thức ngôn ngữ nào?
Câu 3. Chỉ ra một số lời chỉ dẫn sân khấu trong văn bản. Các chỉ dẫn sân khấu này có vai trò gì trong việc thể hiện nội dung của văn bản?
Câu 4. Phân tích diễn biến, sự thay đổi tâm lí của thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai và hồi thứ Ba.
Câu 5. Em có đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu không? Vì sao? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)
Câu 1. Văn bản “Chén thuốc độc” thuộc thể loại kịch (kịch nói). Câu 2. Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng hình thức đối thoại (lời thoại giữa các nhân vật), kết hợp với một số lời chỉ dẫn sân khấu. Câu 3. Một số lời chỉ dẫn sân khấu: (ví dụ) [trầm ngâm], [lo lắng], [đi lại], [giọng run]… Vai trò: Giúp người đọc hình dung cử chỉ, hành động, tâm trạng nhân vật. Làm rõ diễn biến tâm lí và tình huống kịch. Tăng tính sinh động, giúp văn bản gần với biểu diễn sân khấu. Câu 4. Hồi II: Thầy Thông Thu rơi vào trạng thái bế tắc, lo lắng, tuyệt vọng vì hoàn cảnh khánh kiệt, danh dự bị đe dọa. Hồi III: Tâm lí chuyển sang căng thẳng tột độ, dằn vặt giữa danh dự và sự sống, cuối cùng đi đến quyết định cực đoan (tìm đến cái chết). → Cho thấy bi kịch của một người trọng danh dự nhưng bị xã hội dồn ép. Câu 5. (tham khảo đoạn 5–7 dòng) Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu. Dù hoàn cảnh khó khăn và danh dự bị tổn thương, việc từ bỏ sự sống không phải là cách giải quyết đúng đắn. Con người cần đối diện và tìm cách vượt qua thử thách thay vì trốn tránh. Tuy nhiên, em cũng cảm thông vì thầy bị dồn vào bước đường cùng, chịu nhiều áp lực từ xã hội. Qua đó, tác phẩm cho thấy cần biết trân trọng sự sống và tìm lối thoát tích cực hơn.
[Sửa]
Bài 2
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn trích "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long.
Câu 2. Từ thực trạng "tiêu hoang ném tiền qua cửa sổ" dẫn đến cảnh khánh kiệt của nhân vật Thông Thu. Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát của một bộ phận giới trẻ hiện nay.
Câu 1 (khoảng 200 chữ) Đoạn trích “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long đã khắc họa sâu sắc bi kịch của nhân vật Thông Thu – một người trí thức nghèo nhưng coi trọng danh dự. Thông qua hình thức kịch với những lời thoại giàu kịch tính, tác giả đã làm nổi bật diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật. Từ trạng thái lo lắng, bế tắc vì cảnh khánh kiệt, Thông Thu dần rơi vào tuyệt vọng khi danh dự bị đe dọa. Những lời thoại căng thẳng cùng chỉ dẫn sân khấu đã góp phần thể hiện rõ sự giằng xé nội tâm giữa việc sống tiếp hay giữ gìn phẩm giá. Đỉnh điểm của bi kịch là khi nhân vật lựa chọn cái chết như một cách giải thoát, cho thấy sự bế tắc của con người trong xã hội cũ. Qua đó, tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn gửi gắm thông điệp sâu sắc về giá trị của danh dự và sự sống. Đồng thời, tác giả cũng bày tỏ niềm cảm thông đối với những số phận bị dồn ép đến bước đường cùng. Câu 2 (khoảng 600 chữ) Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những cơ hội phát triển, một bộ phận giới trẻ đang hình thành thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát, “tiêu hoang ném tiền qua cửa sổ”. Thực trạng này không chỉ khiến nhiều người rơi vào cảnh khánh kiệt như nhân vật Thông Thu trong “Chén thuốc độc”, mà còn kéo theo nhiều hệ lụy đáng lo ngại. Trước hết, tiêu xài thiếu kiểm soát là việc chi tiêu vượt quá khả năng tài chính của bản thân, không có kế hoạch rõ ràng và thường bị chi phối bởi cảm xúc hoặc xu hướng nhất thời. Nhiều bạn trẻ sẵn sàng chi tiền cho những món đồ không thực sự cần thiết, chạy theo hàng hiệu, công nghệ mới hay những thú vui xa xỉ để thể hiện bản thân. Sự phát triển của mạng xã hội càng khiến tâm lí “so sánh” và “sống ảo” gia tăng, từ đó thúc đẩy hành vi tiêu dùng thiếu lí trí. Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ nhiều phía. Trước hết là do nhận thức tài chính còn hạn chế, chưa hiểu rõ giá trị của đồng tiền và cách quản lí chi tiêu. Bên cạnh đó, một số bạn trẻ sống dựa dẫm vào gia đình nên chưa có ý thức tự lập. Ngoài ra, ảnh hưởng từ môi trường xung quanh và quảng cáo cũng khiến việc tiêu tiền trở nên dễ dàng và khó kiểm soát hơn. Hậu quả của việc tiêu xài hoang phí là rất nghiêm trọng. Không ít người rơi vào tình trạng nợ nần, áp lực tài chính, thậm chí đánh mất cơ hội phát triển tương lai. Về lâu dài, thói quen này còn hình thành lối sống thực dụng, coi trọng vật chất hơn giá trị tinh thần. Đặc biệt, khi gặp biến cố, những người không có sự chuẩn bị tài chính sẽ dễ rơi vào khủng hoảng. Để khắc phục tình trạng này, mỗi người trẻ cần nâng cao ý thức quản lí tài chính cá nhân. Cần lập kế hoạch chi tiêu rõ ràng, phân biệt giữa nhu cầu và mong muốn, tránh chi tiêu theo cảm xúc. Đồng thời, nên rèn luyện thói quen tiết kiệm và đầu tư hợp lí. Gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục kĩ năng sống, giúp giới trẻ hiểu rõ giá trị lao động và đồng tiền.
Kịch