Bùi Minh Nghĩa

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Minh Nghĩa
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 5

Biểu hiện cho thấy hiện nay vẫn có người nhận thức chưa đúng về ý nghĩa của lao động:

  • Một số người lười biếng, chỉ muốn hưởng thụ mà không chịu làm việc.
  • Có học sinh còn sao nhãng học tập, phụ thuộc vào cha mẹ.
  • Một số người muốn kiếm tiền nhanh bằng con đường không chân chính thay vì lao động nghiêm túc.

Gợi ý dàn ý Câu 2: Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ “Nhớ”

Mở bài

  • Giới thiệu Nguyễn Đình Thi và bài thơ Nhớ.
  • Khái quát: bài thơ thể hiện nỗi nhớ da diết hòa quyện với tình yêu đất nước và lí tưởng chiến đấu.

Thân bài

1. Nỗi nhớ da diết, lãng mạn

  • Hình ảnh:
    • “Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh”
    • “Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh”
  • Biện pháp nhân hóa làm cho thiên nhiên mang tâm trạng con người.
  • Nỗi nhớ vừa dịu dàng vừa ấm áp giữa hoàn cảnh chiến tranh.

2. Tình yêu đôi lứa gắn với tình yêu đất nước

  • “Anh yêu em như anh yêu đất nước”
    → Tình yêu cá nhân hòa vào tình yêu Tổ quốc.
  • Người lính nhớ người yêu trong từng bước đường chiến đấu:
    • “Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước”
    • “Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn”
      → Nỗi nhớ thường trực, sâu nặng.


3. Tâm trạng lạc quan, tin tưởng

  • Hình ảnh:
    • “Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt”
    • “Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực”
      → biểu tượng cho niềm tin và lí tưởng cách mạng.
  • Tình yêu giúp người lính mạnh mẽ hơn trong chiến đấu.



Kết bài

  • Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn người lính thời kháng chiến.
  • Đánh giá nghệ thuật:
    • hình ảnh giàu sức gợi,
    • giọng thơ tha thiết,
    • cảm xúc chân thành.


Câu 1

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: nghị luận.

Câu 2

Văn bản bàn về: ý nghĩa và vai trò của lao động đối với con người và cuộc sống.

Câu 3

Để làm rõ ý kiến: “Mọi động vật đều lao động, trước hết là để duy trì sự sống”, tác giả đã đưa ra các bằng chứng:

  • Chim yến khi lớn phải tự đi kiếm mồi.
  • Hổ và sư tử cũng tự lao động để tồn tại.

Nhận xét:

  • Những bằng chứng này gần gũi, cụ thể, dễ hiểu.
  • Có tính thực tế và thuyết phục, làm nổi bật vai trò của lao động đối với mọi sinh vật.

Câu 4

Câu văn cho em hiểu rằng:

  • Lao động không chỉ giúp con người tạo ra của cải mà còn mang lại niềm vui, ý nghĩa sống.
  • Nếu biết yêu lao động, con người sẽ cảm thấy cuộc sống có giá trị và hạnh phúc hơn.
  • Ngược lại, nếu sống lười biếng, không tìm thấy niềm vui trong công việc thì cuộc sống dễ trở nên vô nghĩa.

Câu 5

Biểu hiện cho thấy hiện nay vẫn có người nhận thức chưa đúng về ý nghĩa của lao động:

  • Một số người lười biếng, chỉ muốn hưởng thụ mà không chịu làm việc.
  • Có học sinh còn sao nhãng học tập, phụ thuộc vào cha mẹ.
  • Một số người muốn kiếm tiền nhanh bằng con đường không chân chính thay vì lao động nghiêm túc.


Câu 1

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: nghị luận.

Câu 2

Văn bản bàn về: ý nghĩa và vai trò của lao động đối với con người và cuộc sống.

Câu 3

Để làm rõ ý kiến: “Mọi động vật đều lao động, trước hết là để duy trì sự sống”, tác giả đã đưa ra các bằng chứng:

  • Chim yến khi lớn phải tự đi kiếm mồi.
  • Hổ và sư tử cũng tự lao động để tồn tại.

Nhận xét:

  • Những bằng chứng này gần gũi, cụ thể, dễ hiểu.
  • Có tính thực tế và thuyết phục, làm nổi bật vai trò của lao động đối với mọi sinh vật.

Câu 4

Câu văn cho em hiểu rằng:

  • Lao động không chỉ giúp con người tạo ra của cải mà còn mang lại niềm vui, ý nghĩa sống.
  • Nếu biết yêu lao động, con người sẽ cảm thấy cuộc sống có giá trị và hạnh phúc hơn.
  • Ngược lại, nếu sống lười biếng, không tìm thấy niềm vui trong công việc thì cuộc sống dễ trở nên vô nghĩa.

Câu 5

Biểu hiện cho thấy hiện nay vẫn có người nhận thức chưa đúng về ý nghĩa của lao động:

  • Một số người lười biếng, chỉ muốn hưởng thụ mà không chịu làm việc.
  • Có học sinh còn sao nhãng học tập, phụ thuộc vào cha mẹ.
  • Một số người muốn kiếm tiền nhanh bằng con đường không chân chính thay vì lao động nghiêm túc.


Câu 1:Thể loại của văn bản là bi kịch

Câu 2:Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì đã coi thường tiền bạc, không chịu dùng tài năng của mình để kiếm tiền. Cự Lợi cho rằng phải có tiền trước thì mới có thể thực hiện được các dự định và mục đích khác trong đời

Câu 3:

  • Ý nghĩa: Những hình ảnh này tượng trưng cho sự ô uế, bẩn thỉu và thấp hèn. Việc so sánh tiền với "phân, bẩn, rác" cho thấy thái độ khinh rẻ, coi tiền bạc là thứ không đáng giá của Trần Thiết Chung.
  • Mục đích thuyết phục của Cự Lợi: Ông muốn khẳng định rằng dù "phân, bẩn, rác" có vẻ ngoài xấu xí nhưng lại là vật liệu quý giá để bồi đắp. Qua đó, ông thuyết phục Chung rằng tiền là phương tiện quan trọng, là "vật liệu" cần thiết để xây dựng cuộc sống và giúp đỡ người thân. 

Câu 4:

  • Diễn biến: Cuộc trò chuyện kết thúc trong sự bất đồng quan điểm. Trần Thiết Chung vẫn giữ ý định sống đời giản dị, trong khi Cự Lợi vẫn cho rằng Chung đang mơ hồ, ngang ngạnh.
  • Ý nghĩa: Kết thúc này thể hiện rõ xung đột kịch giữa hai lối sống: một bên trọng danh dự, thanh bạch và một bên trọng thực tế, vật chất. Nó mở đầu cho bi kịch của nhân vật khi sau này Chung buộc phải từ bỏ lý tưởng để lao vào vòng xoáy kim tiền. 



Câu 1:Thể loại của văn bản là bi kịch

Câu 2:Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì đã coi thường tiền bạc, không chịu dùng tài năng của mình để kiếm tiền. Cự Lợi cho rằng phải có tiền trước thì mới có thể thực hiện được các dự định và mục đích khác trong đời

Câu 3:

  • Ý nghĩa: Những hình ảnh này tượng trưng cho sự ô uế, bẩn thỉu và thấp hèn. Việc so sánh tiền với "phân, bẩn, rác" cho thấy thái độ khinh rẻ, coi tiền bạc là thứ không đáng giá của Trần Thiết Chung.
  • Mục đích thuyết phục của Cự Lợi: Ông muốn khẳng định rằng dù "phân, bẩn, rác" có vẻ ngoài xấu xí nhưng lại là vật liệu quý giá để bồi đắp. Qua đó, ông thuyết phục Chung rằng tiền là phương tiện quan trọng, là "vật liệu" cần thiết để xây dựng cuộc sống và giúp đỡ người thân. 

Câu 4:

  • Diễn biến: Cuộc trò chuyện kết thúc trong sự bất đồng quan điểm. Trần Thiết Chung vẫn giữ ý định sống đời giản dị, trong khi Cự Lợi vẫn cho rằng Chung đang mơ hồ, ngang ngạnh.
  • Ý nghĩa: Kết thúc này thể hiện rõ xung đột kịch giữa hai lối sống: một bên trọng danh dự, thanh bạch và một bên trọng thực tế, vật chất. Nó mở đầu cho bi kịch của nhân vật khi sau này Chung buộc phải từ bỏ lý tưởng để lao vào vòng xoáy kim tiền. 



Thế giới ngày càng rộng mở và con người cũng cần tự lập, chủ động hơn để hòa mình với sự chuyển biến của cuộc sống. Và trong tâm sự của người mẹ nhân ngày khai trường của con, Lý Lan đã viết trong “Cổng trường mở ra”: “Mẹ sẽ đưa con đến trường, cầm tay con dắt qua cánh cổng, rồi buông tay mà nói: đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con.”.

Tự lập là khả năng tự làm việc, học tập, giải quyết những vấn đề cá nhân của mình mà không ỷ lại, nhờ vả, dựa vào sự giúp đỡ của người khác. Và khi bản thân mình tích cực thực hiện, không chờ đợi, không phụ thuộc hoàn cảnh thì đó chính là chủ động, mức độ cao hơn của tự lập. Không phủ nhận rằng, sự chăm sóc, yêu thương, đùm bọc của cha mẹ, người thân đối với chúng ta là những điều quý giá, đáng trân trọng, là nền tảng vững chắc cho sự thành công. Tuy nhiên, yếu tố đóng vai trò là sức bật chính là sự tự lập. Nó giúp chúng ta có ý thức rèn luyện để hoàn thiện bản thân. Sự chủ động giúp chúng ta vươn lên, thích nghi với hoàn cảnh, vượt qua mọi thử thách, không gục ngã lùi bước trước thử thách.

Trong bối cảnh cuộc sống hiện đại, tự lập và chủ động là chìa khóa giúp mỗi cá nhân phát triển, không lệ thuộc, phát huy tính sáng tạo. Có như vậy mới đến được ánh sáng của thành công. Chắc hẳn chúng ta còn nhớ “thần đồng” Đỗ Nhật Nam, dù tuổi còn nhỏ nhưng em đã tạo nên tiếng vang lớn trong và ngoài nước bằng chính khả năng bản thân. Khi còn nhỏ, cha mẹ em đã định hướng, dẫn dắt em những bước đầu như dạy em nên học tiếng anh như thế nào hay rèn luyện ra sao. Để rồi sau đó bằng sự tự chủ, em đã vươn lên, nỗ lực bằng chính đôi chân của mình. Tự lập biểu hiện ở các giai đoạn khác nhau trong cuộc đời, tuy nhiên là những người trẻ điều này càng cần thiết hơn. Muốn hình thành sự tự lập, chủ động, cần xác định rõ lối sống, quan niệm sống dựa vào năng lực bản thân, phải khẳng định sự tự tin, tích lũy rèn luyện các kĩ năng sống, suy nghĩ độc lập…

Đặc biệt, mỗi chúng ta phải biết lập kế hoạch cho công việc, học tập, bởi có mục tiêu sẽ tạo cơ hội để chủ động phấn đấu. Tự lập không có nghĩa là chủ nghĩa cá nhân ích kỉ, xa rời mọi người mà ngược lại cần xây dựng tập thể. Hãy tạo cho mình tính tự chủ, độc lập từ suy nghĩ đến hành động, từ học tập đến đời sống, từ phẩm chất đến bản lĩnh, từ cá nhân đến cộng đồng dân tộc như nhà văn Nga Pautopxki từng viết “Dù người ta có nói với bạn những gì đi nữa thì bạn cứ tự tin rằng cuộc đời kì diệu và tuyệt đẹp”.

Hình tượng “li khách” trong bài thơ “Tống biệt hành” của Thâm Tâm không chỉ là một người khách xa quê mà còn là biểu tượng sâu sắc cho số phận người dân Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc. Qua những câu thơ, ta thấy được nỗi buồn man mác, sự cô đơn, lạc lõng của người khách khi phải xa lìa quê hương, người thân. Sự chia ly ấy không chỉ là sự xa cách về không gian mà còn là sự chia cắt về tình cảm, về tâm hồn. Hình ảnh “gió lạnh đầu mùa” hay “lá vàng rơi” không chỉ là những chi tiết tả thực mà còn là những biểu tượng cho sự tàn phá, đổ vỡ của chiến tranh, của xã hội.

Sự cô đơn của người khách được nhấn mạnh qua việc tác giả sử dụng nhiều từ ngữ gợi tả sự lẻ loi, cô quạnh. Người khách đi một mình, không có ai bên cạnh chia sẻ, an ủi. Sự cô đơn ấy càng trở nên sâu sắc hơn khi đặt trong bối cảnh chiến tranh, loạn lạc. Người khách không chỉ cô đơn về thể xác mà còn cô đơn về tinh thần, về tâm hồn. Hình ảnh “mây chiều” hay “chim chiều” không chỉ là những hình ảnh thiên nhiên mà còn là những biểu tượng cho sự cô đơn, lạc lõng của con người trong cuộc sống.

Tuy nhiên, trong sự cô đơn, lạc lõng ấy, ta vẫn thấy được sức sống mãnh liệt của người khách. Người khách vẫn tiếp tục bước đi, vẫn hướng về phía trước, dù biết rằng phía trước còn nhiều khó khăn, thử thách. Hình tượng “li khách” trong bài thơ “Tống biệt hành” không chỉ là một hình tượng nghệ thuật mà còn là một biểu tượng cho ý chí, nghị lực của con người Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Họ là những người con ưu tú của dân tộc, luôn hướng về tương lai tươi sáng.

mang thông điệp về sự chia ly đầy bi tráng, thể hiện lý tưởng cao đẹp của người ra đi - một thanh niên yêu nước lên đường vì nghĩa lớn, gác lại tình cảm riêng tư ("một giã gia đình, một dửng dưng"), nhưng vẫn sâu nặng tình thương, nỗi nhớ nhà, nỗi buồn của gia đình (mẹ, chị, em) tiễn đưa; thông điệp còn là lời khẳng định về ý chí quyết tâm không bao giờ quay trở lại khi chưa hoàn thành sứ mệnh, thể hiện tâm trạng "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", rất tiêu biểu cho tinh thần yêu nước và bi tráng thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám

Hình ảnh “tiếng sóng” trong thơ Thâm Tâm (bài 

Tống biệt hành) tượng trưng cho nỗi buồn, sự bồn chồn xao xuyến, nỗi nhớ thương da diết và sự dâng trào mãnh liệt của cảm xúc chia ly, tiễn biệt, gợi cảm giác mênh mông, vô tận như sóng vỗ bờ, nhấn mạnh sự xót xa, trăn trở của cả người đi lẫn kẻ ở lại, làm nỗi buồn li biệt thêm sâu sắc, bi tráng.