Bùi Vũ Hà Linh
Giới thiệu về bản thân
- Dẫn dắt vấn đề: Cuộc sống không bao giờ là con đường bằng phẳng mà luôn chứa đựng những thử thách, khó khăn.
- Nêu vấn đề cần nghị luận: Để vượt qua khó khăn và đi đến thành công, con người cần có ý chí và nghị lực. Đây là yếu tố quan trọng quyết định bản lĩnh và giá trị con người.
- Giải thích: Ý chí, nghị lực là bản lĩnh, sự kiên cường, lòng dũng cảm, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, nghịch cảnh để theo đuổi mục tiêu đã đề ra. Nó là "vũ khí" tinh thần giúp con người không bỏ cuộc trước thất bại.
- Phân tích & Chứng minh:
- Ý chí giúp con người biến khó khăn thành cơ hội, rèn luyện bản thân vững vàng hơn (VD: Nick Vujicic, những tấm gương vượt khó học giỏi...).
- Người có nghị lực luôn lạc quan, chủ động tìm cách giải quyết vấn đề thay vì than vãn.
- Nghị lực tạo nên sự khác biệt giữa người thành công và người thất bại. Thất bại không đáng sợ, đáng sợ là khi mất đi ý chí để bắt đầu lại.
- Biểu hiện: Không đầu hàng trước nghịch cảnh, kiên trì học tập, làm việc, dám nghĩ dám làm, biết rút kinh nghiệm từ sai lầm.
- Phản đề: Phê phán những người sống thiếu lý tưởng, dễ chán nản, bi quan, "thấy sóng cả ngã tay chèo", dựa dẫm vào người khác.
- Bài học: Mỗi người cần rèn luyện ý chí ngay từ những việc nhỏ, đặt ra mục tiêu rõ ràng và không bao giờ bỏ cuộc.
- Khẳng định lại ý nghĩa: Ý chí, nghị lực là chìa khóa mở ra cánh cửa thành công.
- Liên hệ bản thân: Cần rèn luyện bản lĩnh vững vàng để đối mặt với những thử thách trong tương lai.
- Phương thức chính: Biểu cảm (bộc lộ trực tiếp cảm xúc, nỗi đau, nỗi niềm tuyệt vọng).
- Phương thức kết hợp: Tự sự (kể lại sự việc "họ đã xa rồi"), miêu tả (khắc họa khung cảnh tâm trạng "bông phượng nở trong màu huyết").
- Đề tài: Tình yêu đôi lứa tan vỡ, nỗi cô đơn, tuyệt vọng và bi kịch của cái tôi cá nhân trước cuộc đời đầy đau thương.
- Hình ảnh: "Sao bông phượng nở trong màu huyết / Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?"
- Cảm nhận: Bông phượng không còn là biểu tượng của tuổi học trò hồn nhiên mà mang màu đỏ của huyết (máu) - biểu tượng cho sự đau đớn, nỗi đau thể xác lẫn tinh thần tột cùng. "Giọt châu" là những giọt nước mắt thành máu, thể hiện sự đau thương, tuyệt vọng đến kiệt cùng của nhân vật trữ tình. Hình ảnh này vừa thực vừa ảo, mang đậm chất thơ điên của Hàn Mặc Tử.
- Biện pháp: Câu hỏi tu từ ("Tôi vẫn còn đây hay ở đâu? / Ai đem bỏ tôi dưới trời sâu?") và Ẩn dụ ("bông phượng nở trong màu huyết").
- Tác dụng: Nhấn mạnh cảm giác hoang mang, lạc lõng, cô đơn tuyệt đối của thi nhân. Câu hỏi xoáy sâu vào nỗi đau, thể hiện sự bất lực, tuyệt vọng khi tình yêu tan vỡ và nỗi đau bệnh tật giày xéo. Đồng thời, khắc họa khung cảnh tâm cảnh (tâm trạng phản chiếu ra cảnh vật) đầy bi kịch.
- Cấu tứ bài thơ được xây dựng theo dòng cảm xúc nội tâm, đi từ những câu hỏi tu từ mang tính triết lý về sự sống, cái chết và tình yêu, đến sự khẳng định nỗi mất mát to lớn (nửa hồn), và cuối cùng kết lại ở hình ảnh biểu tượng của nỗi đau. Cấu trúc lỏng lẻo về logic nhưng lại chặt chẽ về mạch cảm xúc, mang tính chất "trào ra" từ trong đáy hồn đau khổ, đúng với phong cách thơ Điên.
1. Giải thích ý kiến
- Quà tặng bất ngờ: là những điều may mắn, hạnh phúc, niềm vui bất ngờ đến với con người do khách quan đem lại hoặc người khác trao tặng.
"Chờ đợi": thái độ sống thụ động, phụ thuộc.
"Tự mình làn nên cuộc sống": sống tích cực, chủ động.
=> Khẳng định ý nghĩa của câu nói: khuyên con người cần có thái độ sống chủ động, không nên trông chờ vào người khác. Cuộc sống của mỗi người do chính bản thân tạo nên.
2. Bàn luận ý kiến
- Trong cuộc đời của mỗi người đôi khi sẽ nhận được những bất ngờ từ cuộc sống. Khi đó ta sẽ có may mắn được hưởng niềm vui, hạnh phúc trong cuộc đời. Không thể phủ nhận ý nghĩa và giá trị của quà tặng bất ngờ mà cuộc sống đem lại cho con người, vấn đề là biết tận dụng, trân trọng quà tặng ấy như thế nào.
- Tuy nhiên cuộc sống không phải lúc nào cũng là thảm đỏ trải đầy hoa hồng, cuộc sống là một trường tranh đấu luôn tiềm ẩn những khó khăn phức tạp. Vì vậy, cần chủ động, tự mình vượt lên hoàn cảnh để vươn tới những điều tốt đẹp.
Dẫn chứng: những tấm gương nghị lực vượt hoàn cảnh số phận: thầy Nguyễn Ngọc Ký, Đoàn Phạm Khiêm, Đồng Thị Nga...; những người nghèo biết vượt lên chính mình;...
3. Bài học nhận thức và hành động
- Trong cuộc sống, ngoài ý chí nghị lực vươn lên, yếu tố may mắn cũng góp phần không nhỏ tạo nên thành công.
- Phải chủ động trang bị kiến thức, rèn luyện cách sống bản lĩnh, có lí tưởng, có ước mơ để làm nên những điều kì diệu cho cuộc sống của chính mình.
- Phê phán một số người thụ động, thiếu ý chí vươn lên, chỉ chờ đợi những quà tặng bất ngờ mà không tự mình làm nên cuộc sống.
ình tượng "li khách" trong Tống biệt hành là biểu tượng của người thanh niên yêu nước dấn thân vào con đường cách mạng, vừa mang vẻ ngoài dứt khoát, lạnh lùng ("một giã gia đình một dửng dưng") nhưng ẩn sâu là nỗi buồn, tình cảm gia đình sâu nặng bị nén lại vì nghĩa lớn, thể hiện một bản lĩnh, ý chí hy sinh cao đẹp và sự cô đơn, trăn trở trước thời cuộc, để lại ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp bi tráng của con người Việt Nam thời bấy giờ.
hông điệp ý nghĩa nhất từ các văn bản thường xoay quanh sự cống hiến, lòng nhân ái và kết nối con người, giúp chúng ta sống có mục đích hơn, vượt qua khó khăn bằng cách đóng góp cho xã hội (như lí tưởng sống cao đẹp) và xây dựng cộng đồng (như sự thấu hiểu, yêu thương), đặc biệt quan trọng trong thời đại số khi con người dễ cô đơn. Lí do nó ý nghĩa là vì nó giúp ta khẳng định giá trị bản thân, lan tỏa điều tích cực, và tạo nên một xã hội văn minh, nhân văn hơn, không chỉ cho mình mà còn cho mọi người.
Trong Tống biệt hành (Thâm Tâm), "tiếng sóng" là hình ảnh tượng trưng cho nỗi niềm xúc động, tâm trạng bâng khuâng, xao động, dâng trào không nguôi của người tiễn và người đi, dù không có con sông thực sự, nhưng lòng người lại dậy sóng trước sự chia ly bi tráng, thể hiện sự bất lực trước dòng đời và nỗi nhớ nhung sâu sắc, mãnh liệt như sóng biển vỗ bờ, báo hiệu sự cách trở và nỗi buồn ly biệt.
không gian và thời gian trong đoạn thơ là không gian và thời gian mang tâm trang, mangtisnh biểu tượng phản ánh nỗi buồn sâu sắc và chia ly vĩnh biệt
nhân vật trữ tình là ta
câu 1:Trong đoạn trích từ tác phẩm "Sống mòn" của Nam Cao, nhân vật Thứ hiện lên như một hình mẫu điển hình của những con người tài năng nhưng lại phải sống trong cảnh bần cùng, nghèo khổ hay gọi là có tài nhưng không gặp thời. Thứ là một người thất nghiệp tuy vậy ẩn sâu trong con người anh là một người trí thức đầy khát vọng,luôn hoài niệm về những ước mơ cao đẹp từng nung nấu trong lòng. Thế nhưng nỗi chua xót trước thực tại tăm tối của cuộc sống khiến Thứ không thể không cảm nhận được sự tù túng ; gian khổ mà mình đang phải trải qua.Qua những dòng suy tư của Thứ , em thấy rõ sự trái ngược của hai khái niệm: khát vọng mong muốn và thực tại phũ phàng. Anh khao khát được sống một cuộc đời đáng giá, không bị bó hẹp bởi những lo toan nhàm chán nhưng thực tế lại buộc anh phải chăm chăm vào việc kiếm ăn, thiếu thốn . Tâm trạng bi thương của anh thể hiện tư tưởng triết lý sâu sắc của Nam Cao cái đói khổ, cái nghèo nàn, bi kịch trong đời sống con người, khi mà phải lo Cơm áo gạo tiền để rồi quên bẵng mất đi khát vọng muốn đạt được. Và đặc biệt câu hỏi của nhân vật Thứ "Sống làm gì cho cực?"đã nói lên nỗi hoài nghi về giá trị cuộc sống, nói lên tiếng lòng của bao phận người khác trong xã hội , nơi đất khách quê người.Nghệ thuật khắc họa tinh thần khi bị trói buộc bởi thực tại phũ phàng, Thứ đại diện cho nhiều con người khao khát vượt lên hoàn cảnh nhưng đã vô tình bị trói buộc bởi những xiềng xích của nghèo đói , cuộc sống.Từ đó khắc sâu trong lòng người đọc những suy ngẫm , suy tư về giá trị sống , khát vọng tự do trong cuộc đời.
câu 2 Gabriel Garcia Marquez, nhà văn đoạt giải Nobel Văn học, từng khẳng định: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ”. Câu nói này đã trở thành một lời khẳng định sâu sắc về vai trò quan trọng của ước mơ đối với tuổi trẻ, đồng thời cũng là lời cảnh tỉnh về sự nguy hiểm của việc đánh mất ước mơ.
uổi trẻ là thời kỳ tràn đầy năng lượng, nhiệt huyết và khát vọng. Đó là lúc con người có nhiều thời gian, sức khỏe và tâm hồn rộng mở để ấp ủ những giấc mơ lớn lao. Ước mơ là động lực thúc đẩy con người vươn lên, chinh phục những thử thách, tạo nên những giá trị cho bản thân và xã hội. Khi có ước mơ, tuổi trẻ sẽ trở nên năng động, sáng tạo và đầy sức sống. Họ sẽ không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng để biến ước mơ thành hiện thực
Theo đuổi ước mơ là một hành trình đầy thử thách nhưng cũng vô cùng ý nghĩa. Nó giúp con người khám phá bản thân, phát huy tiềm năng và khẳng định giá trị của mình. Khi theo đuổi ước mơ, con người sẽ được trải nghiệm những điều mới mẻ, học hỏi từ những thất bại và trưởng thành hơn trong mỗi bước đi. Hành trình theo đuổi ước mơ cũng là cơ hội để con người kết nối với những người đồng chí hướng, cùng nhau tạo nên những điều kỳ diệu.
Khi con người ngừng theo đuổi ước mơ, họ sẽ đánh mất đi động lực sống, trở nên thụ động, trì trệ và dễ dàng bị cuốn vào vòng xoay của cuộc sống thường nhật. Việc đánh mất ước mơ cũng đồng nghĩa với việc đánh mất đi niềm tin vào bản thân, vào tương lai. Điều này sẽ khiến con người trở nên chán nản, mất phương hướng và dễ dàng gục ngã trước những khó khăn
Tuổi trẻ là thời kỳ đẹp nhất để theo đuổi ước mơ. Ước mơ là ngọn lửa thắp sáng con đường đời, là động lực giúp con người vươn lên, chinh phục những thử thách và tạo nên những giá trị ý nghĩa. Hãy giữ gìn và theo đuổi ước mơ của mình, bởi vì “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ”.
câu 1: điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là ngôi kể thứ ba người kể chuyện giấu mình không xuất hiện trong câu chuyện
câu 2: Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là sống một cuộc đời có ý nghĩa, cống hiến cho nhân loại, chứ không phải chỉ tồn tại để kiếm sống.
câu 3:Biện pháp tu từ được sử dụng là điệp ngữ "y sẽ khinh y" và ẩn dụ (đời y sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra).
câu 4:Cuộc sống của Thứ đầy bế tắc, nghèo khổ; con người Thứ mang bi kịch của người trí thức bất lực, dằn vặt giữa khát vọng sống có ý nghĩa và hiện thực khắc nghiệt
câu 5:Một triết lí nhân sinh sâu sắc được rút ra từ văn bản là: Con người chỉ thực sự sống khi được phát triển và cống hiến những khả năng tốt đẹp của mình cho xã hội, vượt lên trên những lo toan vật chất tầm thường.