Đoàn Phương Dung

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đoàn Phương Dung
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu1:

Đoạn trích trong Chén thuốc độc đã khắc họa rõ bi kịch tâm lí của nhân vật Thông Thu – một con người rơi vào bế tắc cùng cực. Ban đầu, Thông Thu chìm trong tuyệt vọng khi ý thức được hoàn cảnh khánh kiệt, danh dự bị tổn hại và tương lai mờ mịt. Những lời độc thoại nội tâm cho thấy sự giằng xé dữ dội giữa ý muốn buông xuôi và trách nhiệm với gia đình. Tuy nhiên, khi nhớ đến mẹ già và người em trai, tâm lí nhân vật có sự chuyển biến: từ tuyệt vọng sang day dứt, từ muốn chấm dứt tất cả sang suy nghĩ về bổn phận. Chi tiết “viết thư cho em” thể hiện tia sáng lương tri và tình thân còn sót lại trong con người đang khủng hoảng. Qua đó, tác giả không chỉ phản ánh bi kịch cá nhân mà còn phê phán xã hội đã đẩy con người vào đường cùng. Đồng thời, đoạn trích cũng khẳng định: ngay trong hoàn cảnh tăm tối nhất, tình cảm gia đình vẫn có sức thức tỉnh mạnh mẽ.

Câu 2:

Trong cuộc sống hiện đại, không khó để bắt gặp hiện tượng giới trẻ tiêu xài thiếu kiểm soát – một vấn đề đáng suy nghĩ. Từ hình ảnh Thông Thu trong Chén thuốc độc, việc tiêu hoang dẫn đến cảnh khánh kiệt không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn mang ý nghĩa cảnh tỉnh sâu sắc đối với xã hội hôm nay.


Trước hết, tiêu xài thiếu kiểm soát là việc sử dụng tiền bạc vượt quá khả năng, không có kế hoạch, chạy theo nhu cầu hưởng thụ hoặc sĩ diện. Nhiều bạn trẻ hiện nay dễ bị cuốn vào lối sống “mua sắm cho bằng bạn bằng bè”, chi tiêu cho những thứ không thực sự cần thiết như đồ hiệu, công nghệ đắt tiền hay các hình thức giải trí xa xỉ. Nguyên nhân của tình trạng này đến từ tâm lí thích thể hiện bản thân, thiếu kĩ năng quản lí tài chính và ảnh hưởng của mạng xã hội.


Hậu quả của việc tiêu xài thiếu kiểm soát là rất rõ ràng. Trước hết là áp lực tài chính, nợ nần, phụ thuộc vào gia đình. Nghiêm trọng hơn, nó có thể dẫn đến khủng hoảng tinh thần khi con người rơi vào bế tắc, giống như Thông Thu – từ chỗ buông thả đến khi không còn lối thoát. Ngoài ra, lối sống này còn làm mai một những giá trị tốt đẹp như sự tiết kiệm, trách nhiệm và ý thức tự lập.


Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở việc “không được tiêu tiền”, mà là tiêu tiền một cách hợp lí. Người trẻ cần học cách lập kế hoạch chi tiêu, phân biệt nhu cầu và mong muốn, biết tiết kiệm và đầu tư cho tương lai. Gia đình và nhà trường cũng cần giáo dục kĩ năng tài chính cá nhân từ sớm, giúp học sinh hiểu giá trị của đồng tiền. Bên cạnh đó, mỗi người cần xây dựng lối sống giản dị, không chạy theo hình thức bên ngoài.


Từ câu chuyện của Thông Thu, có thể thấy rằng một sai lầm trong cách sống có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, việc kiểm soát chi tiêu không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là thước đo của sự trưởng thành. Giới trẻ hôm nay cần tỉnh táo để không lặp lại những bi kịch tương tự, từ đó xây dựng một cuộc sống cân bằng, có trách nhiệm và bền vững hơn.

1: thể loại kịch

Câu 2: ngôn ngữ đối thoại và độc thoại

Câu 3:

Một số lời chỉ dẫn sân khấu:


* “(Bóp trán nghĩ ngợi)”

* “(Một lát)”

* “(Đứng dậy lấy chai…)”

* “(Cầm cốc nâng lên…)”

* “(Lại khuấy)”

vai trò:


* Thể hiện hành động, cử chỉ nhân vật

* Làm rõ diễn biến tâm lí (lo lắng, tuyệt vọng, giằng co)

* Tăng tính chân thực, giúp người xem hình dung cảnh diễn

Câu 4:

Diễn biến tâm lí của thầy Thông Thu:


* Hồi II:

* Bắt đầu tỉnh ngộ, nhận ra sai lầm

* Hối hận vì tiêu xài hoang phí, không nghe lời khuyên

* Nhận thức rõ hoàn cảnh: nợ nần, gia đình suy sụp

* Hồi III:

* Tuyệt vọng, bế tắc → muốn tìm đến cái chết

* Nội tâm giằng xé dữ dội:

* Muốn chết để giải thoát

* Nhưng còn thương mẹ, vợ, em → do dự

* Thể hiện bi kịch của con người khi rơi vào đường cùng

Câu 5:

Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu. Dù rơi vào hoàn cảnh khó khăn, nợ nần và tuyệt vọng, cái chết không phải là cách giải quyết vấn đề mà chỉ là sự trốn tránh trách nhiệm. Thầy vẫn còn mẹ, vợ và em cần được chăm lo, vì vậy việc từ bỏ cuộc sống sẽ để lại hậu quả nặng nề cho những người thân. Tuy nhiên, em cũng cảm thông với tâm trạng bế tắc và giằng xé nội tâm của thầy. Qua đó, mỗi người cần sống có trách nhiệm hơn với bản thân và gia đình, tránh rơi vào bi kịch đáng tiếc.

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài

Xác định được yêu cầu của kiểu bài: nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: ý nghĩa của sự tự lập đối với tuổi trẻ.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

- Xác định được các ý chính của bài viết.

- Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.

*Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.

*Triển khai vấn đề nghị luận:

- Giải thích vấn đề nghị luận.

- Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:

+ Sự tự lập giúp con người suy nghĩ nhiều hơn, tự đánh thức tài năng ẩn giấu trong bản thân và từ đó khơi lên trí sáng tạo, trở nên hoàn thiện hơn, thành công hơn.

+ Sự tự lập giúp con người có ý thức hơn về mọi hành động của mình, vì hành động nếu chính mình làm ra, ta sẽ phải chịu trách nhiệm về hành động đó.

+ Tính tự lập giúp con người nhìn toàn diện hơn về đời sống, có cái nhìn bao quát về mọi mặt.

+  Tính tự lập giúp con người khẳng định được giá trị bản thân trong mắt mọi người.

+ Những con người có tính tự lập, không để ai nhắc nhở sẽ được mọi người yêu quý, kính trọng.

+…

- Mở rộng, trao đổi quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện,…

*Khẳng định quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân.

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:

- Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân.

- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng.

*Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

đ. Diễn đạt

- Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

a. Xác định được yêu cầu về hình thức; dung lượng của đoạn văn:

- Khoảng 200 chữ.

- Có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp,…

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: hình tượng li khách trong bài thơ “Tống biệt hành” (Thâm Tâm).

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận

- Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:

+ Một li khách mang chí lớn, ôm ấp khát vọng lên đường (Chí nhớn chưa về bàn tay không,/Thì không bao giờ nói trở lại!/Ba năm mẹ già cũng đừng mong!), cố nén tình cảm để dửng dưng, dứt khoát giã biệt người thân.

+ Một li khách nặng lòng, giàu tình cảm, mang trách nhiệm sâu sắc với gia đình, bước chân ra đi mà thẳm sâu trong lòng là biết bao lưu luyến, bịn rịn, đau đớn, nghẹn ngào, không nỡ rời xa những người thân yêu.

+ Hình tượng li khách được khắc hoạ qua sự thấu hiểu, đồng cảm của nhân vật trữ tình – người ở lại; qua vẻ đối lập giữa thái độ bên ngoài trong buổi chia li và cảm xúc bên trong; qua sự giằng xé giữa chí lớn và trách nhiệm, tình cảm gia đình. Đó là một hình tượng cho thấy vẻ đẹp nhân văn của con người trong mối quan hệ giữa lí trí và tình cảm.


+ Nghệ thuật: Tác giả đã rất tài tình, tinh tế trong việc sử dụng các hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng, các biện pháp tu từ đặc sắc (ẩn dụ, lặp cấu trúc, câu hỏi tu từ, đối), giọng điệu thơ độc đáo (rắn rỏi, lãng mạn).

- Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn.

d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:

- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

đ. Diễn đạt

- Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

- Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống:

+ Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn.

+ Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình.

+ Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy.

+ Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.

+…

- Lí giải một cách hợp lí và thuyết phục.

Hình ảnh “tiếng sóng” xuất hiện trong hai câu thơ:

Đưa người, ta không đưa qua sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

- “Tiếng sóng” trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.

- Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.

- Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: “đầy hoàng hôn trong mắt”; “đầy” (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả; “hoàng hôn” chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần. Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.

- Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.