Vũ Đức Tuấn Đạt
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. (2,0 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):
− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích nhân vật Trần Thiết Chung trong đoạn trích "Kim tiền".
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):
Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
– Người trí thức có tài năng và lí tưởng sống trong sạch:
+ Trần Thiết Chung là người có học vấn, có tài, đủ khả năng tạo dựng công danh nếu muốn, nhưng ông chủ động lựa chọn đời sống giản dị, thanh bạch. Câu nói "Sung sướng thay những người không cần thiết gì hết!" cho thấy ông đề cao giá trị tinh thần hơn vật chất, coi sự thanh thản trong tâm hồn là niềm hạnh phúc đích thực.
+ Lối sống này thể hiện một lí tưởng sống cao đẹp, hiếm có trong xã hội mà đồng tiền đang ngày càng trở thành thước đo giá trị con người. Đó không chỉ là sự lựa chọn theo cảm xúc hay nhất thời, Trần Thiết Chung quyết tâm giữ lối sống đơn giản nhưng sạch sẽ, không ham cầu danh lợi ("Tôi nhất quyết tránh xa cái vòng cầu danh, trục lợi.").
– Có cái nhìn tỉnh táo và sắc sảo về bản chất đồng tiền trong xã hội đương thời:
+ Trần Thiết Chung không phủ nhận vai trò của tiền bạc, nhưng ông nhìn thẳng vào bản chất đen tối của việc làm giàu trong xã hội đương thời. Ông cho rằng để có tiền, con người thường phải "bóc lột kẻ nghèo khó", cho thấy sự nhận thức rõ ràng và thái độ phê phán mạnh mẽ đối với đồng tiền phi đạo đức.
+ Trần Thiết Chung không mơ mộng hão huyền mà chấp nhận lựa chọn và hài lòng với cuộc sống thanh bạch, không mong cầu hay đòi hỏi những thứ xa vời. Qua đó, nhân vật bộc lộ một lập trường đạo lí vững vàng, sẵn sàng sống nghèo chứ không chấp nhận làm giàu bằng sự nhơ nhớp.
– Sự kiên định và cũng chính là sự bi kịch của người trí thức:
+ Trước những lời khuyên đầy thực dụng của Cự Lợi, Trần Thiết Chung vẫn giữ vững quan điểm, không dao động, không thoả hiệp với kim tiền. Việc ông "nhất quyết tránh xa cái vòng cầu danh, trục lợi" cho thấy bản lĩnh và lòng tự trọng của một người trí thức chân chính.
+ Sự kiên định ấy cũng tạo nên bi kịch nội tâm, bởi ông hiểu rằng lựa chọn của mình có thể khiến vợ con chịu cảnh túng thiếu; qua đó làm nổi bật những éo le của cuộc sống và nỗi day dứt thầm lặng của người sống đúng nhưng không hề dễ dàng.
=> Nhân vật Trần Thiết Chung là hình ảnh tiêu biểu cho người trí thức sống có lí tưởng, có nhân cách và giàu lòng tự trọng. Qua nhân vật này, Vi Huyền Đắc không chỉ phê phán xã hội tôn thờ đồng tiền mà còn bày tỏ sự thấu hiểu, trân trọng đối với những con người dám giữ gìn phẩm giá giữa vòng xoáy kim tiền.
Câu 2. (4,0 điểm)
a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận:
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ).
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Bàn luận về sự cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần.
c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu:
HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý:
* Mở bài: Dẫn dắt từ văn bản "Kim tiền" và giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
– Giải thích:
+ Giá trị vật chất: Là những điều kiện hữu hình phục vụ đời sống con người (tiền bạc, nhà cửa, tiện nghi,...). Đây là nền tảng để duy trì sự sống.
+ Giá trị tinh thần: Là thế giới nội tâm, đạo đức, niềm tin, tri thức và sự thanh thản trong tâm hồn (như Trần Thiết Chung theo đuổi: "Sống thanh bạch", "tránh xa vòng cầu danh").
– Vai trò của từng giá trị:
+ Vai trò vật chất:
++ Nền tảng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người.
++ Tạo điều kiện cho giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, cơ hội nghề nghiệp.
++ Giúp con người tự tin, chủ động trong cuộc sống.
+ Vai trò của tinh thần:
++ Là mục đích sâu xa của đời sống: Yêu thương, niềm vui, sẻ chia, cống hiến.
++ Quyết định chất lượng hạnh phúc: Người giàu chưa chắc hạnh phúc, nhưng người có đời sống tinh thần tốt thường lạc quan hơn.
++ Tinh thần là động lực thúc đẩy sáng tạo, vượt qua khó khăn.
– Ý nghĩa của việc cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần:
+ Nếu quá coi trọng vật chất thì dễ chạy theo tiền bạc, cạnh tranh quá mức, đánh mất đạo đức, rơi vào lối sống thực dụng.
+ Nếu chỉ thiên về tinh thần thì thiếu thực tế, thiếu khả năng tự lo cho cuộc sống, khó hội nhập xã hội.
+ Sự hài hoà giúp con người vừa có điều kiện sống tốt, vừa giữ được ý nghĩa, nhân văn và giá trị tự thân.
– Bài học nhận thức và hành động:
+ Nhận thức: Tiền bạc không xấu, quan trọng là cách kiếm và cách dùng. Sự thanh cao không có nghĩa là chối bỏ trách nhiệm vật chất.
+ Hành động:
++ Nỗ lực lao động, kiếm tiền chân chính bằng tài năng của bản thân (không để tài năng "tiêu ma vì túng quẫn").
++ Phân biệt nhu cầu – mong muốn; ưu tiên điều cần thiết.
++ Biết "đủ" trong nhu cầu vật chất để dành khoảng trống cho tâm hồn.
++ Học cách chịu trách nhiệm với gia đình trước khi theo đuổi lý tưởng cá nhân.
* Kết bài:
– Khẳng định lại: Sự cân bằng giữa vật chất và tinh thần là chìa khoá để sống hạnh phúc trọn vẹn.
– Mỗi người cần tìm cho mình một điểm cân bằng phù hợp để vừa sống đủ đầy, vừa sống có ý nghĩa và giá trị.
Câu 1.
Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2.
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3.
− Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền":
+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.
+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.
− Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung:
+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.
+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.
Câu 4.
− Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình.
− Ý nghĩa của kết thúc này:
+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền).
+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.
+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế.
Câu 5.
Học sinh đưa ra ý kiến đồng tình với quan điểm của ông Trần Thiết Chung và đưa ra lí giải hợp lí. Gợi ý:
− Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn.
− Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích.
− Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.
- Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống:
+ Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn.
+ Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình.
+ Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy.
+ Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.
Hình ảnh “tiếng sóng” xuất hiện trong hai câu thơ:
Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
- “Tiếng sóng” trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa.
- Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.
- Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: “đầy hoàng hôn trong mắt”; “đầy” (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả; “hoàng hôn” chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần. Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi.
- Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi.
Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay
"Ta"