Nguyễn Phong Nhật
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Xác định câu văn mang luận điểm của đoạn trích.
Trả lời: Câu văn mang luận điểm là: “Cái ‘tôi’ của nhà thơ như một dòng suối nhỏ khiêm nhường, đã hòa vào cái ‘ta’ của ‘dòng sông xanh’ trên quê hương, đất nước mình.”
Câu 2. Trong đoạn trích, người viết đã lựa chọn những từ ngữ, hình ảnh nào của khổ thơ để phân tích?
Trả lời: Người viết đã lựa chọn các hình ảnh:
- “con chim hót”
- “một cành hoa”
- “một nốt trầm xao xuyến” → Đây là những hình ảnh ẩn dụ thể hiện lẽ sống khiêm nhường, cống hiến âm thầm của nhà thơ.
Câu 3. Việc người viết dẫn ra hoàn cảnh ra đời của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ và tâm trạng của nhà thơ Nguyễn Duy trong bài Ánh trăng có ý nghĩa gì?
Trả lời: Việc dẫn ra hoàn cảnh và so sánh với Nguyễn Duy giúp:
- Làm nổi bật tâm trạng trăn trở, xúc động của Thanh Hải trước vẻ đẹp vĩnh cửu của thiên nhiên và giá trị sống giữa những khó khăn của đất nước.
- Tăng tính thuyết phục cho nhận định về lẽ sống giản dị, chân thành mà nhà thơ gửi gắm trong bài thơ.
- Liệt kê: Tạo cảm giác phong phú, đa dạng về vẻ đẹp thiên nhiên.
- Điệp ngữ (“mãi mãi mãi”, “vĩnh cửu”): Nhấn mạnh tính trường tồn của cái đẹp.
- So sánh ngầm: Gợi liên tưởng giữa cái đẹp thiên nhiên và cái đẹp trong con người. → Hiệu quả: Tôn vinh vẻ đẹp bất biến của thiên nhiên và khơi gợi suy ngẫm về giá trị sống bền vững của con người.
Câu 5. Kiến giải cá nhân của người dẫn về khổ thơ thứ tư và ý kiến của em
Trả lời:
- Kiến giải của người dẫn:
- Mỗi cá nhân như một “nốt trầm” trong bản hòa ca chung, có giá trị riêng không thể so sánh.
- Sự cống hiến âm thầm, khiêm nhường vẫn mang bản sắc riêng và góp phần làm nên cái đẹp tập thể.
- “Hòa ca” không phải là “hòa tan” – mỗi người vẫn giữ được cá tính trong sự đoàn kết.
- Ý kiến cá nhân:
- Nó thể hiện đúng tinh thần bài thơ – đề cao sự cống hiến lặng lẽ nhưng đầy ý nghĩa.
- Nhấn mạnh vai trò của từng cá nhân trong cộng đồng, dù nhỏ bé nhưng không thể thiếu.
- Gợi nhắc mỗi người sống có trách nhiệm, biết hòa mình vào tập thể mà vẫn giữ được bản sắc riêng.
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.
Trả lời: Luận đề của văn bản là: Bi kịch của cái đẹp trong vở kịch Vũ Như Tô là bi kịch bị bức tử toàn diện – từ quan niệm, sự thấu hiểu, quyền thanh minh, vật chất đến con người nghệ sĩ – nhưng cái đẹp vẫn có sức sống trường tồn.
Câu 2. Mục đích của người viết qua văn bản này là gì?
Trả lời: Người viết muốn làm rõ bi kịch của cái đẹp và người nghệ sĩ trong vở kịch Vũ Như Tô, đồng thời khẳng định giá trị bất diệt của cái đẹp chân chính và thông điệp nhân văn sâu sắc mà Nguyễn Huy Tưởng gửi gắm.
Câu 3. Nhận xét về hệ thống luận điểm của văn bản.
Trả lời: Hệ thống luận điểm được triển khai rõ ràng, logic và chặt chẽ, gồm 5 luận điểm chính tương ứng với 5 khía cạnh cái đẹp bị bức tử:
- Về quan niệm
- Về sự thấu hiểu
- Về quyền thanh minh
- Về vật chất
- Về con người nghệ sĩ → Các luận điểm được sắp xếp theo trình tự tăng dần mức độ bi kịch, làm nổi bật chiều sâu tư tưởng của tác phẩm.
Câu 4. Dẫn ra một chi tiết thể hiện cách trình bày khách quan và một chi tiết thể hiện cách trình bày chủ quan trong đoạn (4). Nêu tác dụng của hai cách trình bày đó.
Trả lời:
- Chi tiết khách quan: “Hành động cầu xin tha mạng cho Vũ Như Tô vì ‘Nước ta còn cần nhiều thợ tài để tô điểm’ của Đan Thiềm…”
- Chi tiết chủ quan: “Thật đau đớn và chua xót cho một tấm lòng ‘vì thiên hạ’ mà chịu nỗi oan tày đình như thế.”
- Tác dụng:
- Cách trình bày khách quan giúp người đọc hiểu rõ sự kiện, tình huống trong vở kịch.
- Cách trình bày chủ quan thể hiện thái độ, cảm xúc và quan điểm của người viết, từ đó tạo chiều sâu cảm xúc và sức thuyết phục cho văn bản.
Câu 5. Theo em, Vũ Như Tô đáng thương hay đáng trách? Vì sao?
Trả lời: Vũ Như Tô đáng thương hơn là đáng trách, vì:
- Ông là người nghệ sĩ chân chính, mang khát vọng sáng tạo cái đẹp vĩnh cửu cho dân tộc.
- Ông bị lợi dụng, hiểu lầm và không có cơ hội thanh minh.
- Cái chết của ông là hệ quả của sự xung đột giữa lý tưởng nghệ thuật và thực tế xã hội đầy bất công, hỗn loạn. → Tuy nhiên, ông cũng có phần thiếu tỉnh táo khi không nhận ra hoàn cảnh xã hội, dẫn đến bi kịch cho chính mình và công trình nghệ thuật.
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản.
Trả lời: Luận đề của văn bản là: Chi tiết cái bóng trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần tạo nên tình huống truyện độc đáo và thể hiện sâu sắc tấm lòng người vợ cũng như lên án thói ghen tuông mù quáng.
Câu 2. Theo người viết, truyện Chuyện người con gái Nam Xương hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo nào?
Trả lời: Tình huống độc đáo là: Người chồng trở về sau chiến tranh, mong được đoàn tụ với con, nhưng lại bị chính đứa con hiểu lầm và nói rằng “cha” là một người đàn ông khác – cái bóng mà người mẹ từng chỉ vào khi chơi với con. Tình huống này dẫn đến hiểu lầm nghiêm trọng và bi kịch của Vũ Nương.
Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là gì?
Trả lời: Mục đích là: Làm nổi bật sự hấp dẫn của truyện thông qua tình huống truyện độc đáo, từ đó dẫn dắt người đọc đến việc phân tích vai trò và ý nghĩa của chi tiết cái bóng trong mạch truyện.
Câu 4. Chỉ ra một chi tiết được trình bày khách quan và một chi tiết được trình bày chủ quan trong đoạn (2). Nhận xét về mối quan hệ giữa hai cách trình bày đó.
Trả lời:
- Chi tiết khách quan: “Tối tối con cái thường quây quần quanh cha mẹ, ông bà, chơi trò soi bóng trên tường…”
- Chi tiết chủ quan: “Có lẽ vì muốn con luôn cảm thấy người cha vẫn có mặt ở nhà…”
- Nhận xét: Cách trình bày khách quan giúp người đọc hiểu rõ bối cảnh đời sống xưa, còn cách trình bày chủ quan thể hiện suy nghĩ, cảm xúc và sự đồng cảm của người viết với nhân vật. Hai cách này bổ sung cho nhau, làm nổi bật chiều sâu tâm lý và nhân văn của chi tiết cái bóng.
Câu 5. Từ văn bản, cho biết vì sao người viết lại cho rằng chi tiết cái bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc?
Trả lời: Vì chi tiết cái bóng:
- Được lấy từ đời sống thường ngày (trò chơi soi bóng), tạo cảm giác tự nhiên, gần gũi.
- Được nâng lên thành tình huống truyện độc đáo, gây hiểu lầm dẫn đến bi kịch.
- Thể hiện tình cảm sâu sắc của người vợ: nhớ chồng, thương con, mong giữ gìn hạnh phúc.
- Không mang giá trị tư tưởng áp đặt, mà là một chi tiết nghệ thuật giàu tính nhân văn và sáng tạo trong cách kể chuyện.
Câu 1. Thể thơ của văn bản:
Trả lời: Thể thơ tự do.
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính:
Trả lời: Biểu cảm (kết hợp với tự sự và miêu tả).
Câu 3. Mạch cảm xúc của bài thơ:
Trả lời: Mạch cảm xúc đi từ nỗi nhớ thương cha mẹ đã khuất → hồi tưởng về quá khứ gian khó → day dứt vì chưa báo đáp công ơn → cầu mong cha mẹ được siêu thoát.
Câu 4. Tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình:
Trả lời:
- Nỗi buồn, tiếc nuối trước lý tưởng chưa trọn vẹn.
- Sự cô đơn, lạc lõng giữa thời cuộc.
- Tình yêu nước, khát vọng cống hiến và nỗi đau khi phải từ bỏ chí lớn.
- Nỗi niềm về duyên nợ với văn chương và bạn tri âm.
Câu 5. Tác dụng của phép đối trong văn bản:
Trả lời:
- Phép đối được sử dụng linh hoạt giữa các câu thơ (ví dụ: “Dư đồ rách, nước non tô lại” // “Đồng bào xa, trai gái kêu lên”).
- Tác dụng: Làm nổi bật sự tương phản giữa lý tưởng và hiện thực, giữa quá khứ hào hùng và hiện tại bi thương; đồng thời tăng tính nhạc điệu và chiều sâu cảm xúc cho bài thơ.
Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản.
Trả lời: Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2: Tìm những hình ảnh miêu tả về ngôi trường trong kí ức của nhân vật trữ tình ở khổ thơ thứ nhất.
Trả lời:
- Căn trường nho nhỏ
- Nước vôi xanh
- Bờ cỏ tươi non
- Mùi thơm còn thoảng
- Chân đi nghe động tới hồn ngây thơ
→ Những hình ảnh này gợi lên không gian trường học thân thương, giản dị và đầy ắp kỷ niệm tuổi thơ.
Câu 3: Em hiểu như thế nào về câu thơ "Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp"?
Trả lời: Câu thơ thể hiện cảm xúc xúc động, ngỡ ngàng và tiếc nuối của nhân vật trữ tình trước vẻ đẹp trong trẻo, hồn nhiên của tuổi học trò. Cái đẹp đến quá nhanh khiến tâm hồn chưa kịp cảm nhận trọn vẹn đã thấy buồn vì sắp phải chia xa.
Câu 4: Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:
Cỏ mấy bận xanh rồi lại tạ Gió lùa thu trong lá bao lần Bạn trường những bóng phù vân Xót thương mái tóc nay dần hết xanh.
Trả lời:
- Biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ và điệp ngữ.
- Tác dụng:
- Gợi sự trôi chảy của thời gian, sự thay đổi của tuổi trẻ và sự chia xa của bạn bè.
- Hình ảnh “cỏ xanh rồi lại tạ”, “gió lùa thu”, “bóng phù vân” đều mang tính biểu tượng cho sự ngắn ngủi, mong manh của ký ức và tuổi học trò.
- Câu cuối thể hiện nỗi xót xa trước sự đổi thay của thời gian và tuổi tác.
Câu 5: Bài thơ gợi cho em suy nghĩ gì về tình cảm với trường lớp đã gắn bó với mỗi con người trong thời học sinh?
Trả lời: Bài thơ gợi nhắc mỗi người về tình cảm sâu sắc, trong trẻo và đầy lưu luyến với mái trường, thầy cô, bạn bè trong những năm tháng học trò. Đó là quãng thời gian đẹp đẽ, hồn nhiên và đáng trân trọng, để lại dấu ấn không phai trong tâm hồn mỗi người khi trưởng thành.
Tục ngữ có câu “Cái răng, cái tóc là góc con người”. Đầu tóc, vẻ bề ngoài, trang phục thể hiện được tính cách, văn hoá của một người. Chính vì vậy, việc chọn trang phục đối với mỗi người là rất quan trọng, đặc biệt là trang phục của học sinh ngày nay.Trang phục bao gồm quần áo, giày dép, túi xách và những phụ kiện đi kèm như vòng tay, vòng cổ. Trang phục của học sinh là bộ quần áo đồng phục khi đi học; là những bộ quần áo đơn giản, hợp lứa tuổi khi ở nhà, đi chơi. Khi đến trường, học sinh mặc những tấm áo trắng với phù hiệu của trường, mặc quần âu tím than, gợi một vẻ trong sáng hay học sinh khoác trên mình bộ áo dài duyên dáng, cũng có trường đồng phục là những chiếc váy xếp, quần tây. Tuy không quá rực rỡ, nổi bật nhưng quần áo đồng phục vẫn rất đẹp. Còn khi ở nhà, đi chơi, những chiếc quần ngố, áo phông, sơ mi lại rất phù hợp. Trang phục không cầu kì mà vẫn đẹp.Nhưng ngày nay, rất nhiều học sinh ăn mặc lố lăng, không phù hợp với lứa tuổi. Những bộ đồng phục giúp những học sinh dù giàu hay nghèo cũng trở nên bình đẳng. Thế nhưng, nhiều học sinh dù giàu hay nghèo muốn “chơi trội”, khi đến trường thì làm cho những bộ đồng phục trở nên “biến dị”. Những chiếc quần đồng phục được cắt sửa, bó sát vào cơ thể, những chiếc váy đồng phục thì được cắt cho thật ngắn. Rồi trên mặt những học sinh ấy nào là phấn son, tóc để xõa, loà xoà, nhuộm xanh, nhuộm đỏ. Con trai thì vuốt tóc dựng ngược, trông như những cái đinh. Con gái đi giày cao gót, con trai đi dép tông, trông thật lố lăng, không giống như đang trong trường học, mà như một sàn diễn “thời trang”. Còn khi ở nhà, đi chơi, những bộ trang phục càng trở nên lố lăng hơn. Những nữ sinh “thuỳ mị” thì mặc những cái quần bó gấu, rách, hay những chiếc quần soóc siêu ngắn, những chiếc áo dây hở hang, trên mặt thì trang điểm thật đậm, chân đi những đôi guốc siêu cao. Còn nam sinh thì mặc những chiếc quần mài, rách, đôi khi còn có cả vết xăm trên người. Chắc hẳn, nhìn những người như vậy, ít ai nghĩ họ là học sinh, là lứa tuổi trong sáng.
Nguyên nhân của hiện tượng này thì có rất nhiều, công nghệ thông tin phát triển đồng nghĩa với việc con người tiếp xúc nhiều hơn với mạng thông tin. Học sinh cũng vậy, tiếp xúc với những điều tốt và cả xấu. Điều đó cũng ảnh hưởng không hề nhỏ tới cách ăn mặc của học sinh ngày nay. Có những cô cậu học trò muốn thể hiện mình đẹp, giỏi và muốn thể hiện “đẳng cấp”, họ đã đua đòi, học thói hư, tật xấu, ăn mặc sao cho thật mốt, sành điệu để trở thành “công chúa, hoàng tử xinh đẹp”. Họ không hiểu rằng ăn mặc như vậy tuy mốt nhưng rất lố lăng, không phù hợp với lứa tuổi. Cũng có những người bị bạn bè lôi kéo, rủ rê trở nên ăn chơi, đánh mất bản thân, lúc nào cũng đua đòi làm đẹp, sành điệu.Cách ăn mặc tưởng chừng là “đẹp” ấy lại đem lại rất nhiều tác hại. Trang phục phản ánh văn hoá, nhân cách của mỗi con người. Đánh giá một người là học sinh ngoan giỏi đâu phải chỉ đánh giá học lực mà đạo đức còn vô cùng quan trọng. Khi đến trường, mặc đồng phục chỉnh tề, trang nghiêm, đầu tóc gọn gàng; ở nhà, đi chơi mặc đơn giản thì hẳn ai nhìn cũng thấy mến ta, có thiện cảm với ta, dù ta học lực chưa giỏi. Nhưng có người tuy học giỏi nhưng ăn mặc ***** ố lăng, lôi thôi thì chẳng ai thấy thiện cảm, chỉ muốn .tránh xa. Mình tưởng ăn mặc hợp mốt là đẹp, sành điệu nhưng người ngoài nhìn vào thì lại không đẹp chút nào, mà còn bị người ta chê, cảm thấy ác cảm, không muốn giao lưu, tiếp xúc với mình. Vậy tại sao phải thật mốt? Nhìn học sinh như vậy, người ta sẽ đánh giá là kẻ có chữ nhưng không có chút văn hoá, hiểu biết nào. Hơn nữa, việc chạy theo mốt còn khiến ta gặp bao tác hại khác. Chạy theo mốt khiến cho kinh tế gia đình tốn kém. Hết chạy theo mốt này, rồi mốt kia, biết bao tiền của cho vừa. Rồi việc chạy theo mốt tốn nhiều thời gian, không còn thời gian để học tập, việc học hành lơ là, giảm sút, vừa ảnh hưởng trực tiếp tới tương lai của bản thân, vừa khiến bố mẹ lo lắng, đau lòng. Rồi khi hết tiền mua đồ, họ lại nghĩ đến việc trộm cắp tiền. Là học sinh, hành động đó không thể chấp nhận được. Có những người khi đã “xinh đẹp và sành điệu” rồi thì trở nên kiêu kì, lúc nào cũng coi thường, chê bai người khác, nhiều khi nói những lời khiến mình trở thành kẻ hợm hĩnh, khiến người khác tổn thương, tránh xa mình.Mỗi chúng ta, là học sinh, đã có ý thức, suy nghĩ, hiểu biết, phải luôn biết cách chọn trang phục. Trang phục phải phù hợp với lứa tuổi, thể hiện sự trong sáng của tuổi học trò và phải phù hợp với kinh tế gia đình. Mỗi người phải biết suy xét thật kĩ trước khi lựa chọn, mua trang phục. Học sinh không nên đua đòi, chạy theo mốt này, mốt nọ, phải có suy nghĩ đúng đắn về trang phục. Hơn nữa, nhà trường cần phải nghiêm ngặt hơn trong việc quản lí học sinh về trang phục, nhân cách. Gia đình cũng cần quan tâm hơn về cách ăn mặc của con cái. Hãy ăn mặc thật đơn giản, phù hợp mà lại thật đẹp, các bạn nhé!Mặc trang phục là để cho người khác ngắm, nhưng với cách ăn mặc lố lăng thì không ai muốn ngắm, đặc biệt là ở lứa tuổi học đường ngày nay. Tự tin, trong sáng và văn hoá là những gì ta nhận được khi ăn mặc thật đẹp, phù hợp với lứa tuổi. Hơn nữa, còn được mọi người yêu mến, ngắm nhìn. Chính vì vậy, mỗi học sinh chúng ta hãy luôn ăn mặc thật phù hợp với mình, không nên đua đòi, chạy theo mốt mới
Mỗi thời đại sẽ có những cách khác nhau để liên lạc, trao đổi thông tin. Ngày xưa, con người thường viết thư và chờ đợi những bức thư phản hồi, thời gian rất rất là lâu vì khoảng cách xa xôi, vì phương tiện vận chuyển. Nhưng ngày nay với cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 thì những bức thư đó được thay thế bằng những cú click, những dòng enter của các trang mạng xã hội.Mạng xã hội đã kết nối con người khắp nơi trên thế giới, xóa nhòa khoảng cách về không gian, thời gian nhờ tốc độ nhanh chóng đó, sự tiện lợi. Nhưng cũng vì quá lạm dụng mạng xã hội mà các bạn trẻ hiện nay tự tập cho mình một lối sống không lành mạnh - sống ảo. Chúng ta hãy tự đặt câu hỏi, Sống ảo là gì? Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn cứ chìm đắm, đêm mê vào lối sống không hiện thực này?Sống ảo là một cách sống không thực tế, hoang tưởng, mơ hồ, không tồn tại trong cuộc sống. Sống ảo khiến cho các bạn trẻ đánh mất đi quyền giao lưu, quyền được vui chơi tham gia vào những chương trình, vào những hoạt động ngoại khóa mà ở đó các bạn có thể trực tiếp kết bạn, trực tiếp trò chuyện với những con người thật. Và bạn ngồi đó và chỉ cần gõ, một cú click chuột là có thể kết bạn giao lưu với mọi người trên khắp thế giới.Đây cũng chính là lẽ mà rất nhiều bạn đam mê nó. Trên các trang mạng xã hội như Facebook, Instragram, Zalo, Twitter,… và vô số trang mạng xã hội khác nữa, việc giao tiếp trở nên quá dễ dàng, khoảng cách như được thu hẹp lại, vì thế làm sao mà chúng ta không đam mê, không yêu thích. Nhưng nếu nó trở nên quá mức, hàng giờ, hàng ngày bạn ngồi trước màn hình máy tính, nhắn tin trò chuyện với những người mới quen, những người xa lạ thì những người bạn ngoài đời, những người thân quen của bạn thì dường như bạn đang quên mất họ, bỏ qua sự tồn tại của họ.Một thế giới ảo, tạo cho bạn một viễn tưởng về cuộc sống vô cùng tươi đẹp và hấp dẫn. Trên đó, mỗi người có thể xây dựng cho mình một hình tượng trong mơ, những ngôi nhà, những hình ảnh tuyệt đẹp, và có vô số vô số những người bạn nhưng chưa bao giờ gặp mặt ở ngoài cuộc sống. Và vì thế, nhiều hệ lụy đã xảy ra, vì muốn được tung hô, nổi tiếng, nhiều bạn trẻ đã biến mạng xã hội là một bước đã tiến thân, đăng những hình ảnh không lành mạnh để mong nhận được sự chú ý của mọi người, hay sử dụng những lời nói không văn mình nhằm thể hiện bản lĩnh của mình.
Bình đẳng giới là nền tảng cho một xã hội công bằng và phát triển bền vững. Xã hội hiện đại không thể nào đạt đến sự tiến bộ toàn diện nếu còn tồn tại sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Bình đẳng giới không chỉ là việc đảm bảo cơ hội ngang nhau, mà còn là tôn trọng phẩm giá, giá trị của mỗi người. Khi nam và nữ được trao quyền và điều kiện để phát triển tiềm năng của mình, xã hội sẽ thu được những giá trị sáng tạo, hiệu quả và phong phú hơn.Trong nhiều lĩnh vực, phụ nữ vẫn phải đối mặt với những rào cản vô hình, từ việc bị hạn chế trong lựa chọn nghề nghiệp đến những định kiến cố hữu về vai trò trong gia đình. Điều này không chỉ kìm hãm sự phát triển của phụ nữ mà còn làm nghèo đi nguồn lực xã hội. Ngược lại, khi quyền lợi và trách nhiệm của các giới tính được đảm bảo công bằng, chúng ta sẽ thấy sự cải thiện về năng suất lao động, sự hài hòa trong gia đình và một xã hội cởi mở, đa dạng hơnBình đẳng giới không phải là câu chuyện của riêng giới nào; đây là một mục tiêu mà toàn thể xã hội cần chung tay thực hiện. Tôn trọng và thúc đẩy bình đẳng giới chính là chúng ta đang xây dựng một xã hội, nơi mỗi người đều có quyền phát triển bản thân và đóng góp vào tương lai chung, không phân biệt giới tính.
Nhat