Nguyễn Thị Vân Anh
Giới thiệu về bản thân
Đề số 3 Bài GV giao Bài 1 Đọc văn bản sau. KHÔNG MỘT TIẾNG VANG (Tóm tắt vở kịch: Vở kịch tái hiện bối cảnh cuộc sống khốn cùng của người dân trước Cách mạng tháng Tám, dưới thời Pháp thuộc. Nhà ông lão mù trước kia vốn thuộc bậc trung lưu, đang sống trong yên ấm thì một trận hoả hoạn xảy ra, khiến người vợ bị chết cháy, người chồng bị bỏng nặng, mù hai con mắt, gia đình rơi vào cảnh tán gia bại sản. Ông lão mù và vợ chồng người con trai phải mướn nhà của lão Thông Xạ để ở, kiếm ăn độ nhật qua ngày. Do thiếu tiền thuê nhà nên lão Thông Xạ năm lần bảy lượt đến đòi nợ và doạ sẽ đuổi cả nhà ra đường nếu không trả đủ tiền. Hôm ấy, lão Thông Xạ lại đến. Ông lão mù hẹn khi con dâu và con trai đi làm về sẽ gắng trả. Nhưng cô con dâu đi bán bánh trên tàu thì bị nhân viên soát vé đổ mất hàng, người con trai đi làm thì bị cai ăn chặn tiền lương. Nhà hết gạo, thuốc bệnh cho ông bố mù loà cũng hết, ngày mai giỗ bà mẹ mà chưa biết lấy gì để cúng đơm. Lão Thông Xạ nhất quyết sẽ quay lại và không cho khất nợ thêm nữa. Cả gia đình rơi vào tình cảnh tuyệt vọng. Anh con trai phẫn uất làm càn, đi ăn trộm bị cảnh sát bắt. Ông lão mù tủi cực, nhân lúc cô con dâu đi ra ngoài, đã thắt cổ tự vẫn để không trở thành gánh nặng cho hai con. Cô con dâu trở về thấy cảnh tượng đó, ngã vật xuống đất, thái dương đập vào hòn đá mà ông bố dùng để chặn cửa, chết theo.) CẢNH I Ông lão loà, chị cả Thuận, anh cả Thuận. ÔNG LÃO – Thế chốc nữa lão Thông Xạ nó quay xe lại thì biết nói thế nào với nó đây? Thôi hai con nghe thầy, nên lánh mặt nó đi, cứ để thầy ở nhà một mình, thầy tìm cách khất khứa với nó, hoạ may nó thấy mù loà, ốm yếu, nó có động lòng thương chăng… CHỊ CẢ – Lão ấy nó còn thương ai. Nếu nó có lòng thương người, nó đã chẳng xử với mình đến thế. ÔNG LÃO – Chả hơn cả ba bố con ngồi trơ ra đây mà tiền không có trả nó, để điên tiết lên nó thẳng tay quăng đồ đạc ra đường hoặc gọi đội xếp thưa bắt hai chúng mày về bóp thì có phải khổ cả không… CHỊ CẢ – Nào, thế cậu định ra sao đây? ANH CẢ – Định à? Chỉ còn một sống một chết, muốn đằng nào thì muốn, chứ sống ngắc ngoải thì không nên sống. Bàn đến kế tránh mặt nó đi thì không xong rồi. Liệu có tránh được mãi không? Dẫu nó không thưa để mình phải vào bóp mà chỉ vứt đồ ra đường, thì tôi cũng không còn bụng dạ nào làm ăn gì nữa… Ruột gan tôi có phải sắt đá đâu? Giời ơi, nghĩ đến vợ đang dắt bố già lang thang đầu đường xó chợ mà vẫn thản nhiên đi làm cho thằng khác ăn, có là con vật không thương yêu ai, dại như chó thì mới thế được. Mà đi làm về thì ăn vào đâu? Không được ăn mà vẫn đi làm à? Đây này, tôi bây giờ chán cả mọi sự rồi, đi làm tôi cũng không thiết nữa. Phải biết thời buổi này mới được. Tôi mà vô gia cư, tất không thoát tù tội. Vợ tôi mà vô gia cư, tất không thoát được lục sì. Ông mà vô gia cư, rồi người ta sẽ nhét ông vào bọn ăn mày ngoại ô. Sống ngắc ngoải thế này mà vẫn còn tưởng sống. CHỊ CẢ – Nông nỗi đã thế này, chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết? […] ANH CẢ – [...] Ăn ở hiền hậu mà cứ vận hạn mãi… Đến thế mà còn tin được Giời, Phật nữa à? (thất vọng). […] Giời Phật, có để làm gì, hở? Có phải chỉ để làm bù nhìn mặc cho loài người chúng nó ăn thịt nhau, thằng nào xỏ lá, bất nhân, lắm ngón xoay tiền thì được vợ đẹp, con khôn, lên xe xuống ngựa; còn người hiền lành thật thà thì bị lợi dụng, bị đè nén, bị hắt hủi, kiếm chẳng đủ áo mặc cơm ăn có phải không? Có Giời, có Phật mà đến thế à? Không có Giời, Phật nào cả. Hoặc có Giời, có Phật nhưng Giời, Phật không đủ quyền phép thiêng liêng, không công minh, không đáng cho ai kính thờ! Bây giờ ấy à? Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật, chỉ có đồng tiền là đáng kính thờ vì nó sai khiến được mọi người, ai ai cũng phải kính thờ nó mới sống được. Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền! Giời Phật à? Còn kém đồng tiền! ÔNG LÃO (không nói được nữa, chỉ kêu) – Ôi giời ơi! Để tôi chết đi cho rảnh! Cho tôi chết đi! CHỊ CẢ (tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau) – Cậu cứ ở nhà với thầy, tôi đi đằng này một lát. ANH CẢ – Định xách chậu đi đâu thế? CHỊ CẢ – Để lại cho bác phó. Hôm nọ sang chơi, bác ta có ý muốn mua lại, bây giờ tôi đem sang lấy vài hào về mua bát cháo với lọ dầu cho thầy. Thầy bảo cồn ruột chắc chỉ vì đói quá. ANH CẢ – Này, gượm! Người ta bảo đã mà lại. Lúc nãy tôi tạt chơi bên ấy rồi. Hiện bây giờ thằng bé con đang lên sởi, hai vợ chồng chạy thuốc đã méo mặt cả, mua bán gì? Chính tôi cũng còn nợ người ta năm hào mà chưa trả được, lúc nãy vào khất đấy… CHỊ CẢ (thất vọng đờ đẫn cả người, ra ngồi đắp chiếu cho bố) – ... ÔNG LÃO (nằm trong chiếu, vẫn quằn quại kêu rên) – Ôi giời đất ơi, ôi giời đất ơi! ANH CẢ (ứa nước mắt, vùng đứng lên rảo bước ra đến cửa, dừng chân ngẫm nghĩ một lát, quay lại nhìn ông bố, rồi đẩy tung cửa ra đi) – ... CHỊ CẢ (đang gục mặt, ngẩng lên nhìn rồi hốt hoảng, vùng dậy chạy theo) – Giời ơi! Cậu lại định đi đâu… Cậu! Cậu… Giời ơi, thầy ơi thầy, rõ khổ chưa! ÔNG LÃO (tung đống chiếu ra, lật đật ngồi lên gọi) – Ới cả! Ới Thuận! (vùng lên chạy ba bước, rồi lả người đi) Con mau chạy theo gọi nó lại cho thầy (ngã gục xuống đất). CHỊ CẢ (nửa muốn chạy đi gọi chồng, nửa muốn lại nâng bố lên, luống cuống, sau cùng thì quay lại đỡ bố) – Thầy ơi, thầy ngã có đau không? Rõ khổ! ÔNG LÃO (khặc khừ, lắc đầu, lả đi) – ... CHỊ CẢ (tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố, dẫn lại chỗ chõng tre, để cho ông lão ngồi được yên rồi lả xuống cạnh đấy bất tỉnh nhân sự) – ... (Trích Không một tiếng vang, Vũ Trọng Phụng, in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, Tr.358-364) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5. Câu 1. Nhân vật Thông Xạ có mối quan hệ gì với gia đình ông lão mù? Câu 2. Chỉ ra xung đột cơ bản của văn bản "Không một tiếng vang". Câu 3. Nhân vật anh cả Thuận có suy nghĩ, quan điểm gì về đồng tiền? Quan điểm đó phản ánh vấn đề gì của xã hội? Câu 4. Nhân vật chị cả Thuận được khắc hoạ với những phẩm chất nào đáng quý? Chỉ ra những chi tiết giúp em nhận thấy phẩm chất đó. Câu 5. Qua bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản, em có suy nghĩ gì về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người. (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng) Hướng dẫn giải: Câu 1. (0,5 điểm) Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù. Câu 2. (0,5 điểm) Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công. Câu 3. (1,0 điểm) − Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền: + Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật"). + Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!"). − Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội: + Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền. + Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng. Câu 4. (1,0 điểm) Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận: − Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà. + Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói. + Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố". − Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng. + Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: "... chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?". + Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình. Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh đưa ra suy nghĩ của bản thân về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người. Gợi ý: − Bi kịch của gia đình ông lão mù là lời cảnh tỉnh đau xót về sức tàn phá khủng khiếp của gánh nặng "cơm áo gạo tiền". − Khi bị dồn vào bước đường cùng của sự đói nghèo, con người dễ bị tha hoá, đánh mất niềm tin vào những giá trị tốt đẹp (như anh Cả mất niềm tin vào Giời Phật, pháp luật, sự lương thiện). − Cái nghèo không chỉ bào mòn thể xác mà còn đe doạ tước đoạt cả nhân phẩm, lòng tự trọng; buộc người ta phải đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: Giữ lấy lương tâm mà chết đói hay làm liều để tồn tại. Câu 1. (0,5 điểm) Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù. Câu 2. (0,5 điểm) Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công. Câu 3. (1,0 điểm) − Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền: + Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật"). + Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!"). − Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội: + Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền. + Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng. Câu 4. (1,0 điểm) Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận: − Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà. + Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói. + Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố". − Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng. + Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: "... chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?". + Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình. Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh đưa ra suy nghĩ của bản thân về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người. Gợi ý: − Bi kịch của gia đình ông lão mù là lời cảnh tỉnh đau xót về sức tàn phá khủng khiếp của gánh nặng "cơm áo gạo tiền". − Khi bị dồn vào bước đường cùng của sự đói nghèo, con người dễ bị tha hoá, đánh mất niềm tin vào những giá trị tốt đẹp (như anh Cả mất niềm tin vào Giời Phật, pháp luật, sự lương thiện). − Cái nghèo không chỉ bào mòn thể xác mà còn đe doạ tước đoạt cả nhân phẩm, lòng tự trọng; buộc người ta phải đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: Giữ lấy lương tâm mà chết đói hay làm liều để tồn tại Bài 2 Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản "Không một tiếng vang". Câu 2. Bi kịch của gia đình ông lão mù gợi lên vấn đề chăm sóc và hỗ trợ những người yếu thế trong xã hội. Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn luận về sự cần thiết của tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng. Hướng dẫn giải: Câu 1. (2,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): − Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. − Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích bi kịch của gia đình ông lão mù trong văn bản "Không một tiếng vang". c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm): Gợi ý: – Bi kịch nghèo đói cùng cực: + Gia đình từ trung lưu rơi xuống đáy xã hội sau trận hoả hoạn. + Nợ nần chồng chất, tiền thuê nhà bị thúc ép; không có gạo, không có thuốc, không có cả thứ để cúng người đã khuất. + Chi tiết "chiếc chậu thau cũ" không ai mua là biểu tượng cho sự khánh kiệt, không còn gì để bấu víu. – Bi kịch của sự tha hoá và đánh mất niềm tin: + Nhân vật Anh Cả: Từ một người hiền lành rơi vào phẫn uất, hoài nghi tất cả đạo đức, công lí ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật"). Đây là bi kịch tinh thần đau đớn khi con người phải chọn giữa "lương tâm" và "miếng ăn". + Hành động "làm càn" (đi ăn trộm) của Anh Cả là bước đường cùng của một người con muốn cứu gia đình nhưng lại đẩy gia đình vào vực thẳm. – Bi kịch của tình yêu thương lại biến thành nỗi đau: + Người cha mù loà vì quá thương con, không muốn làm gánh nặng nên đã chọn cái chết. + Sự hi sinh này không đem lại lối thoát mà dẫn đến hiệu ứng dây chuyền: Con dâu chết theo, con trai vào tù. + Tình yêu thương trong nghịch cảnh lại trở thành nhát dao kết liễu toàn bộ gia đình. => Khẳng định: Bi kịch gia đình trong tác phẩm không chỉ là nỗi đau cá nhân mà còn là tiếng tố cáo mạnh mẽ xã hội bất công, đồng thời khơi gợi lòng trắc ẩn và khát vọng về một cuộc sống nhân đạo hơn. Câu 2. (4,0 điểm) a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận: Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ). b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Bàn luận về sự cần thiết của tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng. c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu: HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý: * Mở bài: Dẫn dắt từ văn bản "Không một tiếng vang" và giới thiệu vấn đề nghị luận. * Thân bài: – Giải thích: + Người yếu thế: Là những cá nhân hoặc nhóm người gặp khó khăn về thể chất, tinh thần hoặc hoàn cảnh kinh tế (người già neo đơn, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, người nghèo,...) khiến họ không có khả năng tự bảo vệ hoặc mưu sinh. + Tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng: Là tình yêu thương giữa người với người và ý thức tự nguyện của các cá nhân, tổ chức trong việc chung tay xây dựng mạng lưới an sinh, giúp đỡ những người khó khăn. – Ý nghĩa, tầm quan trọng của tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng đối với người yếu thế: + Ngăn chặn những bi kịch cùng đường: Trong văn bản, nếu lão Thông Xạ có một chút nhân ái, nếu cộng đồng lúc đó có quỹ hỗ trợ người nghèo, gia đình ông lão mù đã không phải chọn cái chết. Sự hỗ trợ kịp thời giúp họ giữ được hi vọng và sự sống. + Giữ gìn phẩm giá con người: Khi bị dồn vào ngõ cụt, con người dễ bị tha hoá (như Anh Cả phải đi ăn trộm). Sự hỗ trợ từ cộng đồng giúp họ không phải đánh đổi lương tâm lấy miếng cơm manh áo, từ đó giữ vững đạo đức xã hội. + Thước đo sự văn minh của xã hội: Sự tiến bộ của một quốc gia không chỉ nằm ở các toà nhà chọc trời mà nằm ở cách xã hội đó đối xử với những người yếu thế nhất. Tình người là sợi dây gắn kết, tạo nên một cộng đồng bền vững và nhân văn. – Biểu hiện của tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng: + Giúp đỡ người gặp nạn: bệnh tật, nghèo đói, thiên tai. + Tham gia các hoạt động thiện nguyện, hiến máu, ủng hộ quỹ xã hội. + Không thờ ơ với bất công, lên tiếng bảo vệ người yếu thế. + Xây dựng môi trường sống văn minh: Tôn trọng luật pháp, hỗ trợ người khó khăn trong khu dân cư. – Bàn luận, mở rộng: + Phê phán sự vô cảm: Lối sống "sống chết mặc bay", ích kỉ chỉ biết mình (như nhân vật lão Thông Xạ) chính là liều thuốc độc giết chết xã hội. + Lưu ý về cách cho đi: Hỗ trợ người yếu thế cần sự chân thành và tôn trọng, tránh thái độ ban ơn hay làm từ thiện để đánh bóng tên tuổi. "Của cho không bằng cách cho". + Khuyến khích sự tự lực: Hỗ trợ không có nghĩa là bao cấp hoàn toàn mà là trao cho họ "cần câu" để họ có thể tự đứng trên đôi chân của mình nếu có thể. * Kết bài: – Khẳng định lại vấn đề: Tinh thần nhân ái và trách nhiệm cộng đồng không chỉ là một lựa chọn đạo đức mà là nhiệm vụ tất yếu để duy trì sự sống còn của tình người. – Liên hệ bản thân/Thông điệp: Đừng để những bi kịch "không một tiếng vang" lặp lại quanh ta. Mỗi người hãy là một đốm lửa nhỏ để sưởi ấm cho những cuộc đời đang trong băng giá của sự khốn cùng.
Câu 1. (0,5 điểm) Nhân vật Thông Xa là chủ nợ của gia đình ông lão mù. Câu 2. (0,5 điểm) Xung đột cơ bản của đoạn trích "Không một tiếng vang" là sự mâu thuẫn gay gắt giữa khát vọng sống, nhu cầu tồn tại tối thiếu của người dân nghèo với thực tế xã hội nghiệt ngã, bất công. Câu 3. (1,0 điểm) − Quan điểm của anh cả Thuận về đồng tiền: + Đồng tiền là thế lực tối thượng, thay cả thần thánh ("Chỉ có đồng tiền là Giời, là Phật"). + Đồng tiền có sức mạnh vạn năng, đứng trên cả đạo đức và pháp luật ("Lương tâm à? Còn thua đồng tiền! Luật pháp à? Chưa bằng đồng tiền!"). − Quan niệm của anh cả Thuận đã phản ánh hiện thực xã hội: + Thực trạng xã hội thối nát, nơi các giá trị đạo đức bị đảo lộn, công lý bị bóp méo dưới sức mạnh của đồng tiền. + Xã hội "kim tiền" tàn bạo, nơi kẻ ác, kẻ giàu có thì sung sướng, còn người hiền lành và lương thiện nhưng nghèo khó thì bị chà đạp, dồn vào bước đường cùng. Câu 4. (1,0 điểm) Phẩm chất đáng quý của nhân vật chị cả Thuận: − Tấm lòng hiếu thảo, giàu tình yêu thương: Giữa cảnh cùng quẫn, chị luôn là người quan tâm đến sức khoẻ và cảm giác của người cha già mù loà. + Vội vàng chạy đi bán chậu vì muốn mua bát cháo và lọ dầu vì lo bố chồng đói. + Khi thấy cha ngã thì hoảng loạn, nâng đỡ và hỏi han đầy xót xa: "Thầy ơi, thầy ngã có đau không?", "tay run lẩy bẩy, hết sức dìu bố". − Kiên cường, không cam chịu, buông xuôi trước số phận: Khác với sự bất lực, than trời trách đất của người chồng, chị Thuận có bản năng sống mãnh liệt và tư duy thực tế hơn. Chị không chấp nhận ngồi chờ chết mà cố gắng xoay xở tình hình đến giây phút cuối cùng. + Chị cố gắng xốc lại tinh thần mọi người: "... chẳng nhẽ cứ để mặc nó muốn nghiêng thì nghiêng, muốn ngửa thì ngửa, đành bó tay chịu chết?". + Hành động chị "tất tả vào bếp, xách ra một chiếc chậu thau" định đem bán cho bác phó để kiếm vài hào mua cháo cho bố cho thấy chị luôn nỗ lực tìm kiếm tia hi vọng sống, dù là mong manh nhất, để cứu vãn gia đình. Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh đưa ra suy nghĩ của bản thân về sức ép của "cơm áo gạo tiền" đối với nhân phẩm con người. Gợi ý: − Bi kịch của gia đình ông lão mù là lời cảnh tỉnh đau xót về sức tàn phá khủng khiếp của gánh nặng "cơm áo gạo tiền". − Khi bị dồn vào bước đường cùng của sự đói nghèo, con người dễ bị tha hoá, đánh mất niềm tin vào những giá trị tốt đẹp (như anh Cả mất niềm tin vào Giời Phật, pháp luật, sự lương thiện). − Cái nghèo không chỉ bào mòn thể xác mà còn đe doạ tước đoạt cả nhân phẩm, lòng tự trọng; buộc người ta phải đứng trước những lựa chọn nghiệt ngã: Giữ lấy lương tâm mà chết đói hay làm liều để tồn tại
Đề số 2 Bài GV giao Bài 1 Đọc văn bản dưới đây. KIM TIỀN (Trích) (Tóm tắt vở kịch: Trần Thiết Chung vốn là một người có tài, quyết chí sống thanh bạch bằng nghề văn, coi khinh mọi sự phú quý ở đời. Cự Lợi − một chủ thầu − là bạn thân thiết với Trần Thiết Chung, đã năm lần bảy lượt đến nhà và khuyên Trần Thiết Chung nên dùng tài năng của mình để kiếm tiền, nhằm lo cho vợ con đỡ khổ...) ÔNG CỰ LỢI – Lúc nào tôi cũng chỉ thấy bác sống ở trong cõi mơ mộng. Ở đời này, không thể thế được đâu, bác ạ. Bác nghe tôi, chớ có mơ hồ mãi như vậy. Bao giờ tôi cũng thấy bác túng bần… Bác ơi! Bác phải nhớ cho rằng anh em mình sống ở nhị thập thế kỉ, không thể như ông Nhan Hồi(1) ăn cơm nguội, uống nước lã, gối đầu khuỷu tay được… ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG – Sung sướng thay những người không cần thiết gì hết! ÔNG CỰ LỢI – Tôi xin cãi câu ấy: Sung sướng thay những người muốn gì được nấy! Bác cứ cố chấp quá thành ra ương, gàn. Bác giận tôi xin chịu, tôi cứ nói. Không những tôi mà mọi người trên mặt đất này ai cũng phải nhận rằng tiền là huyết mạch. Không có tiền không thể sống được. Mà bác ạ, tiền vị tất đã là xấu xa, bỉ ổi? Tiền mà biết dùng là một cái lợi khí, có thể làm được chán vạn việc từ thiện, danh nghĩa, cao thượng. ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG – Vâng, tôi biết thế lắm chứ, nhưng như ý tôi, ở cái đất nước này, nếu muốn cho có tiền, muốn làm giàu, trừ phi bóc lột kẻ nghèo khó, hút máu hút mủ kẻ túng thiếu, không còn có cách gì nữa. ÔNG CỰ LỢI – Giời ơi! Bác cố chấp đến thế thì tôi cũng không còn nói thế nào được nữa. Nhưng này, bác này, còn cái thuyết này, bác bảo sao: người ta sinh ra ở đời, đội trời đạp đất, ai cũng phải có cái chí phấn đấu. Trước hết phấn đấu để sống đã này, sau phấn đấu để có một cái địa vị hơn người. Trong sự cạnh tranh, tiền là một sức mạnh vô cùng. Bác nghĩ kĩ mà xem, bao nhiêu tài năng của bác sẽ vì sự túng quẫn mà tiêu ma hết. Bác nghe tôi, đổi chí hướng đi… ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG – Tôi nghe bác nói từ nãy đến giờ thì hình như hôm nay bác đến để cảm hoá tôi có phải không ạ? ÔNG CỰ LỢI – Không những một hôm nay mà lần nào tôi gặp bác, tôi cũng đều rắp tâm như thế cả, ấy cũng chỉ vì tôi tiếc cái tài của bác. Nếu bác không câu nệ, cố chấp thì ngày nay, công danh, sự nghiệp của bác cũng chẳng kém gì ai rồi. Tôi nói thật, bao nhiêu công việc bác trù tính, chỉ vì tiền mà thất bại. Bao nhiều điều thất vọng của bác chỉ vì tiền mà ra cả. Thế mà bác cứ khinh rẻ tiền, không chịu kiếm tiền. Bác nghe tôi, không có tiền việc gì cũng hỏng hết. ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG – Thế nghĩa là mục đích ở cái đời này là kiếm tiền, có phải không thưa bác? ÔNG CỰ LỢI – Vâng, chính thế. Phải có tiền trước đã rồi muốn làm gì mới có thể làm được. Tôi biết, bác coi tiền là phân, là bẩn, là rác, nhưng bác ơi, phân, bẩn, rác là những vật ô uế bẩn thỉu thật đấy, nhưng phân, bẩn, rác cũng lại là những vật liệu rất quý. Bác chớ có khư khư đứng về một phương diện mà nhầm to. Không nhờ phân, nhờ bẩn, nhờ rác thì làm gì có những bông lúa nặng trĩu, những tàu rau xanh ngát, những bông hoa ngào ngạt. ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG – Vâng, vâng, bác ví đúng lắm, tôi xin bái phục cái tài biện bạch của bác. Ai dám bảo bác không phải là một nhà thi sĩ của kim tiền. Vâng, có thể dùng phân bẩn để bón những bãi đất hoang, những đồng cỏ xanh để làm thành vườn, thành ruộng phì nhiêu được. Có thể đem tiền mà vãi lên những hoang đảo để làm ra những tỉnh thành nguy nga, rực rỡ được. Tôi biết lắm chứ. Nhưng đối với tôi, phân bẩn tuy dùng được việc đấy, chỉ hiềm rằng kiếm ra nó, thu nhập được nó thì nhơ lắm, nhớp lắm. Sao cho tránh khỏi không dấn thân vào chỗ hôi tanh, u ám. ÔNG CỰ LỢI (Hơi phật ý vì thấy bạn nói tràn không nể mặt mình) – Tôi xin lỗi bác, bác nói thế khó quá. (Cười gằn) Có lẽ vì bác đã gặp nhiều việc bất đắc chí thành ra chua chát. ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG – Không, không, tôi chả cay đắng, chua chát gì hết. Ý tưởng của tôi thế nào, tôi nói thế. Bao giờ cũng vậy, hễ mình càng tham muốn nhiều thì cái gánh hệ luỵ càng nặng. [...] Tôi nhất quyết tránh xa cái vòng cầu danh, trục lợi. ÔNG CỰ LỢI – Vâng, tôi xin bái phục cái gan của bác. Nhưng bác này, giá bác chỉ có một mình bác thì tôi chả dám phản đối, nhưng bác không có quyền để những người thân yêu của bác cực nhọc. Bác nghe tôi, đừng mơ hồ, ngang ngạnh nữa… ÔNG TRẦN THIẾT CHUNG – Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi, chúng ta cứ cãi vã với nhau như thế này, không bao giờ có thể xong được. Âu là bác thích giàu có, sang trọng, bác đã được toại chí rồi đấy; còn tôi, tôi ưa cái đời giản dị tầm thường, bác cứ mặc tôi… (1) Nhan Hồi: Học trò xuất sắc của Khổng Tử, luôn sống vui vẻ với cảnh nghèo khó của mình. (Trích vở kịch Kim tiền, Vi Huyền Đắc, in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, Tr.412-414) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5. Câu 1. Xác định thể loại của văn bản "Kim tiền". Câu 2. Theo ông Cự Lợi, vì sao ông Trần Thiết Chung thất bại trong sự nghiệp và các dự định của mình? Câu 3. Phân tích ý nghĩa của hình ảnh so sánh "phân, bẩn, rác" với "tiền" mà nhân vật Cự Lợi sử dụng. Qua hình ảnh này, Cự Lợi muốn thuyết phục Trần Thiết Chung điều gì? Câu 4. Kết thúc của cuộc trò chuyện giữa ông Trần Thiết Chung và ông Cự Lợi đã diễn ra như thế nào? Từ đó, hãy nêu ý nghĩa của kết thúc này đối với việc thể hiện chủ đề của văn bản. Câu 5. Em có đồng ý với quan điểm của ông Trần Thiết Chung: "Bao giờ cũng vậy, hễ mình càng tham muốn nhiều thì cái gánh hệ luỵ càng nặng." hay không? Vì sao? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng) Hướng dẫn giải: Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. (0,5 điểm) Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền. Câu 3. (1,0 điểm) − Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền": + Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát. + "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời. − Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung: + Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân. + Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp. Câu 4. (1,0 điểm) − Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình. − Ý nghĩa của kết thúc này: + Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền). + Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống. + Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế. Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh đưa ra ý kiến đồng tình với quan điểm của ông Trần Thiết Chung và đưa ra lí giải hợp lí. Gợi ý: − Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn. − Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích. − Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân. Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. (0,5 điểm) Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền. Câu 3. (1,0 điểm) − Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền": + Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát. + "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời. − Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung: + Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân. + Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp. Câu 4. (1,0 điểm) − Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình. − Ý nghĩa của kết thúc này: + Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền). + Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống. + Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế. Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh đưa ra ý kiến đồng tình với quan điểm của ông Trần Thiết Chung và đưa ra lí giải hợp lí. Gợi ý: − Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn. − Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích. − Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân. Bài 2 Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Trần Thiết Chung trong đoạn trích "Kim tiền". Câu 2. Từ nội dung văn bản, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về sự cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Hướng dẫn giải: Câu 1. (2,0 điểm) a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm): − Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. − Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Phân tích nhân vật Trần Thiết Chung trong đoạn trích "Kim tiền". c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm): Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: – Người trí thức có tài năng và lí tưởng sống trong sạch: + Trần Thiết Chung là người có học vấn, có tài, đủ khả năng tạo dựng công danh nếu muốn, nhưng ông chủ động lựa chọn đời sống giản dị, thanh bạch. Câu nói "Sung sướng thay những người không cần thiết gì hết!" cho thấy ông đề cao giá trị tinh thần hơn vật chất, coi sự thanh thản trong tâm hồn là niềm hạnh phúc đích thực. + Lối sống này thể hiện một lí tưởng sống cao đẹp, hiếm có trong xã hội mà đồng tiền đang ngày càng trở thành thước đo giá trị con người. Đó không chỉ là sự lựa chọn theo cảm xúc hay nhất thời, Trần Thiết Chung quyết tâm giữ lối sống đơn giản nhưng sạch sẽ, không ham cầu danh lợi ("Tôi nhất quyết tránh xa cái vòng cầu danh, trục lợi."). – Có cái nhìn tỉnh táo và sắc sảo về bản chất đồng tiền trong xã hội đương thời: + Trần Thiết Chung không phủ nhận vai trò của tiền bạc, nhưng ông nhìn thẳng vào bản chất đen tối của việc làm giàu trong xã hội đương thời. Ông cho rằng để có tiền, con người thường phải "bóc lột kẻ nghèo khó", cho thấy sự nhận thức rõ ràng và thái độ phê phán mạnh mẽ đối với đồng tiền phi đạo đức. + Trần Thiết Chung không mơ mộng hão huyền mà chấp nhận lựa chọn và hài lòng với cuộc sống thanh bạch, không mong cầu hay đòi hỏi những thứ xa vời. Qua đó, nhân vật bộc lộ một lập trường đạo lí vững vàng, sẵn sàng sống nghèo chứ không chấp nhận làm giàu bằng sự nhơ nhớp. – Sự kiên định và cũng chính là sự bi kịch của người trí thức: + Trước những lời khuyên đầy thực dụng của Cự Lợi, Trần Thiết Chung vẫn giữ vững quan điểm, không dao động, không thoả hiệp với kim tiền. Việc ông "nhất quyết tránh xa cái vòng cầu danh, trục lợi" cho thấy bản lĩnh và lòng tự trọng của một người trí thức chân chính. + Sự kiên định ấy cũng tạo nên bi kịch nội tâm, bởi ông hiểu rằng lựa chọn của mình có thể khiến vợ con chịu cảnh túng thiếu; qua đó làm nổi bật những éo le của cuộc sống và nỗi day dứt thầm lặng của người sống đúng nhưng không hề dễ dàng. – Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật: + Xây dựng nhân vật chủ yếu qua lời đối thoại và độc thoại, giúp bộc lộ trực tiếp suy nghĩ, quan điểm sống và lập trường đạo đức của Trần Thiết Chung. + Sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu tính biểu cảm và triết lí. + Đặt nhân vật trong tình huống đối lập (giữa Trần Thiết Chung và Cự Lợi) làm nổi bật xung đột tư tưởng => Nhân vật Trần Thiết Chung là hình ảnh tiêu biểu cho người trí thức sống có lí tưởng, có nhân cách và giàu lòng tự trọng. Qua nhân vật này, Vi Huyền Đắc không chỉ phê phán xã hội tôn thờ đồng tiền mà còn bày tỏ sự thấu hiểu, trân trọng đối với những con người dám giữ gìn phẩm giá giữa vòng xoáy kim tiền. Câu 2. (4,0 điểm) a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn nghị luận: Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ). b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Bàn luận về sự cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần. c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu: HS biết triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. Sau đây là một số gợi ý: * Mở bài: Dẫn dắt từ văn bản "Kim tiền" và giới thiệu vấn đề nghị luận. * Thân bài: – Giải thích: + Giá trị vật chất: Là những điều kiện hữu hình phục vụ đời sống con người (tiền bạc, nhà cửa, tiện nghi,...). Đây là nền tảng để duy trì sự sống. + Giá trị tinh thần: Là thế giới nội tâm, đạo đức, niềm tin, tri thức và sự thanh thản trong tâm hồn (như Trần Thiết Chung theo đuổi: "Sống thanh bạch", "tránh xa vòng cầu danh"). – Vai trò của từng giá trị: + Vai trò vật chất: ++ Nền tảng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người. ++ Tạo điều kiện cho giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, cơ hội nghề nghiệp. ++ Giúp con người tự tin, chủ động trong cuộc sống. + Vai trò của tinh thần: ++ Là mục đích sâu xa của đời sống: Yêu thương, niềm vui, sẻ chia, cống hiến. ++ Quyết định chất lượng hạnh phúc: Người giàu chưa chắc hạnh phúc, nhưng người có đời sống tinh thần tốt thường lạc quan hơn. ++ Tinh thần là động lực thúc đẩy sáng tạo, vượt qua khó khăn. – Ý nghĩa của việc cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần: + Nếu quá coi trọng vật chất thì dễ chạy theo tiền bạc, cạnh tranh quá mức, đánh mất đạo đức, rơi vào lối sống thực dụng. + Nếu chỉ thiên về tinh thần thì thiếu thực tế, thiếu khả năng tự lo cho cuộc sống, khó hội nhập xã hội. + Sự hài hoà giúp con người vừa có điều kiện sống tốt, vừa giữ được ý nghĩa, nhân văn và giá trị tự thân. – Bài học nhận thức và hành động: + Nhận thức: Tiền bạc không xấu, quan trọng là cách kiếm và cách dùng. Sự thanh cao không có nghĩa là chối bỏ trách nhiệm vật chất. + Hành động: ++ Nỗ lực lao động, kiếm tiền chân chính bằng tài năng của bản thân (không để tài năng "tiêu ma vì túng quẫn"). ++ Phân biệt nhu cầu – mong muốn; ưu tiên điều cần thiết. ++ Biết "đủ" trong nhu cầu vật chất để dành khoảng trống cho tâm hồn. ++ Học cách chịu trách nhiệm với gia đình trước khi theo đuổi lý tưởng cá nhân. * Kết bài: – Khẳng định lại: Sự cân bằng giữa vật chất và tinh thần là chìa khoá để sống hạnh phúc trọn vẹn. – Mỗi người cần tìm cho mình một điểm cân bằng phù hợp để vừa sống đủ đầy, vừa sống có ý nghĩa và giá trị
Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. (0,5 điểm) Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền. Câu 3. (1,0 điểm) − Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với "tiền": + Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát. + "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời. − Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông Trần Thiết Chung: + Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân. + Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp. Câu 4. (1,0 điểm) − Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình. − Ý nghĩa của kết thúc này: + Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền). + Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống. + Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế. Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh đưa ra ý kiến đồng tình với quan điểm của ông Trần Thiết Chung và đưa ra lí giải hợp lí. Gợi ý: − Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn. − Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích. − Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Thông Thu đoạn trích "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long. Câu 2. Từ thực trạng "tiêu hoang ném tiền qua cửa sổ" dẫn đến cảnh khánh kiệt của nhân vật Thông Thu, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về thói quen tiêu xài thiếu kiểm soát của một bộ phận giới trẻ hiện nay. Bạn chưa trả lời câu hỏi
Câu 1. Văn bản Chén thuốc độc thuộc thể loại Chén thuốc độc kịch nói. Câu 2. Đoạn trích chủ yếu được triển khai bằng hình thức đối thoại và độc thoại của nhân vật, đặc biệt là độc thoại nội tâm của thầy Thông Thu. Câu 3. Một số lời chỉ dẫn sân khấu trong văn bản: “(Bóp trán nghĩ ngợi)” “(Một mình, thở dài)” “(Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ…)” “(Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.)” → Vai trò: Giúp thể hiện rõ hành động, tâm trạng, trạng thái tâm lí của nhân vật. Làm cho tình huống kịch trở nên sinh động, chân thực và giàu kịch tính. Hỗ trợ người đọc, người xem hình dung diễn biến câu chuyện và sự giằng xé nội tâm của thầy Thông Thu. Câu 4. Trong hồi thứ Hai, thầy Thông Thu rơi vào trạng thái ân hận, đau đớn khi nhận ra mình đã ăn chơi sa đọa, tiêu tán gia sản của cha mẹ. Nhân vật tự trách bản thân, ý thức được sự “nhơ nhuốc”, vô dụng của mình đối với gia đình và xã hội. Đây là giai đoạn thức tỉnh lương tâm. Sang hồi thứ Ba, tâm lí nhân vật trở nên tuyệt vọng hơn khi đối diện nguy cơ vào tù. Thầy Thông Thu chán chường, muốn tìm đến cái chết để giải thoát. Tuy nhiên, trong lúc định uống thuốc độc, nhân vật nhiều lần do dự, nghĩ đến mẹ, vợ, em trai. Điều đó cho thấy dù bế tắc nhưng thầy vẫn còn tình thương và trách nhiệm với gia đình. Diễn biến tâm lí ấy thể hiện sự giằng xé dữ dội giữa khát vọng giải thoát và tình thân. Câu 5. Em không đồng tình với quyết định tìm đến cái chết của thầy Thông Thu. Bởi cái chết không thể giải quyết được vấn đề mà chỉ khiến người thân đau khổ hơn. Dù phạm sai lầm, con người vẫn có thể sửa chữa và làm lại cuộc đời nếu biết thức tỉnh và cố gắng. Tuy nhiên, em cũng cảm thông với tâm trạng tuyệt vọng của thầy Thông Thu khi rơi vào cảnh khánh kiệt, mất danh dự và bế tắc. Qua đó, tác giả muốn cảnh tỉnh con người về lối sống ăn chơi, sa ngã và thiếu trách nhiệm.
Tìm kiếm người đồng hành để cùng nhau tự giám sát, khích lệ trong quá trình nỗ lực. * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1 (0,5 điểm). Những phương thức biểu đạt trong bài thơ: Biểu cảm, miêu tả. Câu 2 (0,5 điểm). Đề tài: Nỗi buồn/ Sự đau khổ. Câu 3 (1,0 điểm). – HS xác định được một hình ảnh mang tính tượng trưng trong bài thơ. Chẳng hạn như một số hình ảnh: mặt nhựt tan thành máu, hồn (một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ), bông phượng nở trong màu huyết, giọt châu. – Nhận xét: HS nêu cảm nhận cá nhân về hình ảnh đó và đưa ra lí giải hợp lí. Ví dụ: Hình ảnh hồn tượng trưng cho cái tôi cá nhân, cho sự cô đơn, tuyệt vọng của chính thi nhân gắn liền với mặc cảm chia lìa. Khát khao yêu và được yêu, nhưng tình yêu của Hàn Mặc Tử vẫn tan vỡ, người kia vẫn ra đi, khiến cho thi sĩ ngậm ngùi, đau đớn, thất vọng. Câu 4 (1,0 điểm). – HS xác định được biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ cuối: Câu hỏi tu từ: Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết,/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu? – Tác dụng: + Thể hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữa trần thế bao la, rộng lớn này. + Thể hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời: Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử. Câu 5 (1,0 điểm). – HS dựa vào nội dung, mạch cảm xúc để rút ra nhận xét về cấu tứ. – Ví dụ: Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thể hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân. Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thể đền đáp nổi những điều trân quý ấy. Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân.
Câu 1 (2.0 điểm). a. Xác định được yêu cầu về hình thức; dung lượng của đoạn văn: − Khoảng 200 chữ. − Có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song,… b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: hình tượng li khách trong bài thơ "Tống biệt hành" (Thâm Tâm). c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận − Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Một li khách mang chí lớn, ôm ấp khát vọng lên đường (Chí nhớn chưa về bàn tay không,/Thì không bao giờ nói trở lại!/Ba năm mẹ già cũng đừng mong!), cố nén tình cảm để dửng dưng, dứt khoát giã biệt người thân. + Một li khách nặng lòng, giàu tình cảm, mang trách nhiệm sâu sắc với gia đình, bước chân ra đi mà thẳm sâu trong lòng là biết bao lưu luyến, bịn rịn, đau đớn, nghẹn ngào, không nỡ rời xa những người thân yêu. + Hình tượng li khách được khắc hoạ qua sự thấu hiểu, đồng cảm của nhân vật trữ tình – người ở lại; qua vẻ đối lập giữa thái độ bên ngoài trong buổi chia li và cảm xúc bên trong; qua sự giằng xé giữa chí lớn và trách nhiệm, tình cảm gia đình. Đó là một hình tượng cho thấy vẻ đẹp nhân văn của con người trong mối quan hệ giữa lí trí và tình cảm. + Nghệ thuật: Tác giả đã rất tài tình, tinh tế trong việc sử dụng các hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng, các biện pháp tu từ đặc sắc (ẩn dụ, lặp cấu trúc, câu hỏi tu từ, đối), giọng điệu thơ độc đáo (rắn rỏi, lãng mạn). − Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: − Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. − Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. − Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2 (4.0 điểm).
Câu 1 (0,5 điểm). Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" – người đưa tiễn. Câu 2 (0,5 điểm). Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay. Câu 3 (1,0 điểm). − Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; "đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả; "hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần. Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi. − Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi. Câu 4 (1,0 điểm). Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ: Đưa người, ta không đưa qua sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng? − "Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa. − Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi. Câu 5 (1,0 điểm). − Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống: + Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn. + Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình. + Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy. + Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.