Nguyễn Thị Vân Anh
Giới thiệu về bản thân
Tìm kiếm người đồng hành để cùng nhau tự giám sát, khích lệ trong quá trình nỗ lực. * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau – Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. – Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. – Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1 (0,5 điểm). Những phương thức biểu đạt trong bài thơ: Biểu cảm, miêu tả. Câu 2 (0,5 điểm). Đề tài: Nỗi buồn/ Sự đau khổ. Câu 3 (1,0 điểm). – HS xác định được một hình ảnh mang tính tượng trưng trong bài thơ. Chẳng hạn như một số hình ảnh: mặt nhựt tan thành máu, hồn (một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ), bông phượng nở trong màu huyết, giọt châu. – Nhận xét: HS nêu cảm nhận cá nhân về hình ảnh đó và đưa ra lí giải hợp lí. Ví dụ: Hình ảnh hồn tượng trưng cho cái tôi cá nhân, cho sự cô đơn, tuyệt vọng của chính thi nhân gắn liền với mặc cảm chia lìa. Khát khao yêu và được yêu, nhưng tình yêu của Hàn Mặc Tử vẫn tan vỡ, người kia vẫn ra đi, khiến cho thi sĩ ngậm ngùi, đau đớn, thất vọng. Câu 4 (1,0 điểm). – HS xác định được biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ cuối: Câu hỏi tu từ: Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết,/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu? – Tác dụng: + Thể hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữa trần thế bao la, rộng lớn này. + Thể hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời: Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử. Câu 5 (1,0 điểm). – HS dựa vào nội dung, mạch cảm xúc để rút ra nhận xét về cấu tứ. – Ví dụ: Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thể hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân. Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thể đền đáp nổi những điều trân quý ấy. Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân.
Câu 1 (2.0 điểm). a. Xác định được yêu cầu về hình thức; dung lượng của đoạn văn: − Khoảng 200 chữ. − Có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song,… b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: hình tượng li khách trong bài thơ "Tống biệt hành" (Thâm Tâm). c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận − Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: + Một li khách mang chí lớn, ôm ấp khát vọng lên đường (Chí nhớn chưa về bàn tay không,/Thì không bao giờ nói trở lại!/Ba năm mẹ già cũng đừng mong!), cố nén tình cảm để dửng dưng, dứt khoát giã biệt người thân. + Một li khách nặng lòng, giàu tình cảm, mang trách nhiệm sâu sắc với gia đình, bước chân ra đi mà thẳm sâu trong lòng là biết bao lưu luyến, bịn rịn, đau đớn, nghẹn ngào, không nỡ rời xa những người thân yêu. + Hình tượng li khách được khắc hoạ qua sự thấu hiểu, đồng cảm của nhân vật trữ tình – người ở lại; qua vẻ đối lập giữa thái độ bên ngoài trong buổi chia li và cảm xúc bên trong; qua sự giằng xé giữa chí lớn và trách nhiệm, tình cảm gia đình. Đó là một hình tượng cho thấy vẻ đẹp nhân văn của con người trong mối quan hệ giữa lí trí và tình cảm. + Nghệ thuật: Tác giả đã rất tài tình, tinh tế trong việc sử dụng các hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng, các biện pháp tu từ đặc sắc (ẩn dụ, lặp cấu trúc, câu hỏi tu từ, đối), giọng điệu thơ độc đáo (rắn rỏi, lãng mạn). − Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: − Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. − Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. − Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2 (4.0 điểm).
Câu 1 (0,5 điểm). Nhân vật trữ tình trong bài thơ là "ta" – người đưa tiễn. Câu 2 (0,5 điểm). Cuộc chia tay không xác định không gian. Thời gian là trong chiều hôm nay. Câu 3 (1,0 điểm). − Chỉ ra được hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường là kết hợp từ bất bình thường: "đầy hoàng hôn trong mắt"; "đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả; "hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mở dần. Tác giả đã để cho hoàng hôn rộng lớn, man mác buồn đong đầy đôi mắt của người ra đi. − Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi. Câu 4 (1,0 điểm). Hình ảnh "tiếng sóng" xuất hiện trong hai câu thơ: Đưa người, ta không đưa qua sông, Sao có tiếng sóng ở trong lòng? − "Tiếng sóng" trong lòng tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa. − Gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ. Góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi. Câu 5 (1,0 điểm). − Nêu được một thông điệp mà HS thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống: + Lí trí và tình cảm có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng trong nhiều tình huống, lí trí và tình cảm không thống nhất, khiến con người sẽ hành động, cư xử theo các cách khác nhau, thậm chí đối lập nhau, buộc phải lựa chọn. + Con người và nhất là người trẻ cần phải tự lập và có trách nhiệm với cuộc đời của mình. + Mỗi người cần có ước mơ, hoài bão, lí tưởng và biết cố gắng phấn đấu vì những ước mơ, khát vọng, lí tưởng ấy. + Những cuộc chia li không tránh khỏi buồn thương, nhưng sẽ cho ta hiểu hơn về những tình cảm thật sự chân thành của con người.