Đoàn Thị Gia Linh
Giới thiệu về bản thân
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN TƯỜNG TRÌNH VỤ VIỆC
(Về việc chứng kiến vụ tai nạn giao thông)
Kính gửi: Công an Quận/Huyện [Tên địa phương nơi xảy ra tai nạn].
Tôi tên là: .................................................................................................... Số CCCD: ........................... Ngày cấp: ................... Nơi cấp: .................... Địa chỉ thường trú: ...................................................................................... Số điện thoại liên lạc: ................................................................................
Tôi làm bản tường trình này để thuật lại vụ tai nạn giao thông mà tôi đã chứng kiến vào ngày .../.../2026, cụ thể như sau:
1. Thời gian và địa điểm xảy ra sự việc:
- Thời gian: Khoảng ... giờ ... phút, ngày ... tháng ... năm 2026.
- Địa điểm: Tại [Số nhà, tên đường, hoặc ngã tư/điểm mốc cụ thể], thuộc địa bàn [Phường/Xã/Quận/Huyện].
2. Các phương tiện liên quan:
- Phương tiện 1: Xe [Tên loại xe, ví dụ: xe máy Honda Vision], biển kiểm soát: ..................... do một người [Nam/Nữ, mô tả sơ bộ ngoại hình] điều khiển.
- Phương tiện 2: Xe [Tên loại xe, ví dụ: xe tải], biển kiểm soát: ..................... [Nếu không nhớ biển số, hãy mô tả màu sắc, loại xe].
3. Diễn biến sự việc: Vào thời điểm trên, tôi đang [Đang đi bộ trên vỉa hè/đang dừng đèn đỏ/đang đi cùng chiều...] thì quan sát thấy:
- Xe [Phương tiện 1] đang lưu thông theo hướng từ ................... về ................... với tốc độ [Bình thường/nhanh/chậm].
- Khi đến đoạn [Vị trí cụ thể], xe [Phương tiện 2] từ hướng ................... đi tới đã [Mô tả hành động: va chạm vào đuôi xe/tạt đầu/vượt ẩu/không chấp hành tín hiệu đèn...].
- Cú va chạm mạnh khiến [Mô tả tình trạng sau va chạm: người điều khiển xe máy ngã văng xuống đường, xe tải lao lên vỉa hè...].
4. Hậu quả quan sát được:
- Về người: [Ví dụ: Người điều khiển xe máy bị thương nặng, bất tỉnh; người lái xe tải không bị thương...].
- Về tài sản: [Ví dụ: Xe máy bị biến dạng phần đầu; xe tải bị vỡ đèn pha; một cột điện bên đường bị hư hỏng...].
5. Các biện pháp đã thực hiện tại hiện trường: Sau khi sự việc xảy ra, tôi và những người xung quanh đã:
- [Ví dụ: Gọi điện cho cấp cứu 115 và lực lượng chức năng].
- [Ví dụ: Hỗ trợ đưa người bị nạn vào lề đường/bảo vệ hiện trường...].
6. Lời cam đoan: Tôi cam đoan những nội dung trình bày trên là đúng sự thật, dựa trên những gì tôi trực tiếp quan sát được. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của bản tường trình này.
Tôi sẵn sàng phối hợp với cơ quan công an khi có yêu cầu để làm rõ vụ việc.
Người làm tường trình (Ký và ghi rõ họ tên)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Quảng Ninh, ngày 10 tháng 05 năm 2026
BẢN TƯỜNG TRÌNH VỤ VIỆC
(Về việc hai học sinh xô xát trong lớp học)
Kính gửi: Thầy/Cô giáo chủ nhiệm lớp ..., trường Trung học Cơ Sở Nguyễn Trãi
Tên em là: ..............................................................................Ngày sinh...............................................................................
Em viết bản tường trình này để trình bày lại sự việc diễn ra vào buổi học ngày hôm nay như sau:
1. Thời gian và địa điểm xảy ra sự việc:
- Thời gian: Vào khoảng ... giờ ... phút, ngày ... tháng ... năm ... (trong giờ ra chơi/giờ tự học).
- Địa điểm: Tại phòng học số ..., tầng ..., khu nhà ...
2. Thành phần liên quan:
- Bạn A (Họ và tên): ......................................................................................
- Bạn B (Họ và tên): ......................................................................................
3. Diễn biến sự việc: Vào thời điểm trên, khi em đang ngồi trong lớp thì thấy bạn A và bạn B có lời qua tiếng lại về vấn đề [Nêu nguyên nhân nếu biết, ví dụ: mượn đồ dùng/ hiểu lầm trong lúc nói chuyện].
- Sau một lúc tranh cãi, do không kiềm chế được bình tĩnh, bạn A đã [Mô tả hành động của bạn A, ví dụ: xô đẩy bạn B].
- Ngay sau đó, bạn B đã phản ứng lại bằng cách [Mô tả hành động của bạn B].
- Sự việc diễn ra khá nhanh khiến các bạn xung quanh không kịp can ngăn ngay lập tức. Sau đó, em cùng một số bạn khác trong lớp đã chạy đến can ngăn và tách hai bạn ra hai phía.
4. Hậu quả:
- Về sức khỏe: [Ví dụ: Bạn A bị trầy xước nhẹ ở tay, bạn B không có thương tích rõ rệt].
- Về tài sản: [Ví dụ: Làm đổ một bộ bàn ghế/ hỏng một cuốn sách của bạn C ngồi cạnh].
5. Lời cam đoan: Em xin cam đoan những thông tin trình bày trên đây hoàn toàn đúng sự thật. Nếu có gì sai sót, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước thầy/cô và nhà trường.
Em kính mong thầy/cô sớm xem xét và có biện pháp giải quyết để lớp học ổn định trở lại.
Em xin chân thành cảm ơn!
Văn bản cung cấp cái nhìn toàn diện về phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam trong lịch sử, chia theo hai khu vực địa lý chính. Ở miền núi phía Bắc, phương tiện rất đa dạng: người Kháng, người Thái ven sông Đà sử dụng thuyền đuôi én độc mộc thon dài; người Sán Dìu dùng xe quệt trâu kéo để vận chuyển nông sản; trong khi người Mông, Hà Nhì lại ưu tiên dùng ngựa thồ để vượt qua những cung đường núi đá hiểm trở.
Tại khu vực Tây Nguyên, phương tiện chủ đạo là sức voi và sức ngựa, đặc biệt là nghề thuần dưỡng voi phát triển mạnh ở vùng Bản Đôn. Bên cạnh đó, người dân nơi đây cũng sử dụng thuyền độc mộc được chế tác bằng cách đẽo và đốt lửa từ những thân gỗ lớn. Văn bản không chỉ liệt kê các loại phương tiện mà còn trích dẫn nhiều tài liệu tham khảo uy tín cùng thành ngữ dân gian để khẳng định tay nghề tinh xảo của các dân tộc. Tổng thể bài viết tôn vinh những giá trị văn hóa vật thể và sự gắn bó mật thiết giữa đời sống con người với thiên nhiên, sông nước và rừng núi.
Văn bản "Ghe xuồng Nam Bộ" là một bài thuyết minh khoa học và sinh động về sự đa dạng của các phương tiện di chuyển trên sông nước tại miền Tây và miền Đông Nam Bộ. Trước hết, văn bản giới thiệu về sự phong phú của các loại xuồng như xuồng ba lá, xuồng tam bản, xuồng vỏ lườn... với những đặc điểm riêng biệt về cấu tạo để phù hợp với việc đi lại trong kênh rạch nhỏ. Tiếp theo, tác giả tập trung vào các loại ghe với kích thước lớn và công năng phức tạp hơn như ghe bầu chuyên chở hàng hóa đường dài, ghe chài, ghe lườn, hay loại ghe ngo đặc trưng trong lễ hội của người Khmer. Ngoài ra, bài viết còn đề cập đến các loại phương tiện đặc thù như ghe hầu, ghe câu.
Việc triển khai thông tin theo cách phân loại nhóm đối tượng giúp người đọc dễ dàng nhận thấy ghe xuồng không đơn thuần là công cụ vận tải mà còn là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần, lễ hội và bản sắc văn hóa của cư dân vùng sông nước. Văn bản khẳng định giá trị lịch sử và sự gắn bó bền chặt giữa con người với hệ thống sông ngòi chằng chịt qua bao thế hệ.
Những chí phí cần thiết cần chuẩn bị:
- Con giống
- Chuồng nuôi
- Thức ăn
- Thuốc thú y
- Dụng cụ chăn nuôi
Biểu hiện: ăn ít, ủ rũ, phân lỏng, có màu xanh hay trắng.
Nguyên nhân: do gà bị nhiễm khuẩn từ thức ăn, nước uống hay từ môi trường.
Phòng, trị bệnh:
- Luôn cho gà ăn thức ăn sạch.
- Thường xuyên vệ sinh chuồng nuôi.
- Hàng ngày cần vệ sinh máng ăn, máng uống.
- Khi gà có các biểu hiện trên, cần nhanh chóng liên hệ với cán bộ thú y để có các biện pháp điều trị kịp thời.
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề. Ví dụ: "Uống nước nhớ nguồn" là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta.
- Nêu vấn đề: Cần tôn trọng đạo lí "Uống nước nhớ nguồn".
2. Thân bài:
- Nêu quan điểm về đạo lí "Uống nước nhớ nguồn":
+ Nghĩa đen: Khi được uống, hưởng dòng nước mát thì hãy nhớ tới nơi khởi đầu cho ta dòng nước đó.
+ Nghĩa bóng: Khi được hưởng thành quả nào đó thì hãy nhớ tới người đã tạo ra thành quả.
- Biểu hiện của việc sống "Uống nước nhớ nguồn":
+ Luôn trân trọng những người quan tâm mình.
+ Luôn ghi nhớ công lao của những người đã giúp đỡ mình.
- Phân tích ý nghĩa của việc sống theo đạo lí "Uống nước nhớ nguồn":
+ Giúp ta không bao giờ hổ thẹn với lòng mình.
+ Giúp ta trở thành người đáng tin cậy, các mối quan hệ cũng vì thế trở nên khăng khít, bền chặt hơn.
+ Một số tấm gương chứng minh cho vẻ đẹp của đạo lí "Uống nước nhớ nguồn":
Phạm Sư Mạnh là học trò nổi tiếng của Chu Văn An, làm quan to nức tiếng triều đình, nhưng khi phạm lỗi vẫn phải quỳ gối tạ tội cùng thầy.
Chử Đồng Tử nhà nghèo, sống cùng cha. Hai cha con chỉ có một chiếc khố chia nhau dùng chung. Đến khi cha mất, trước khi đi, ông có nói với Chử Đồng Tử rằng: “Cha chết đi, con giữ lại cái khố mà che thân, cho thiên hạ khỏi chê cười. Con cứ tang trần cho cha là được.” Ấy vậy nhưng chàng không nỡ tang trần cho cha nên đã dùng chiếc khố duy nhất để an táng cha yên nghỉ.
- Liên hệ với bản thân trong việc rèn luyện sống theo đạo lí "Uống nước nhớ nguồn": bản thân đôi lúc còn sống vô tâm, chưa thật sự biết ghi nhớ công lao của những người đã giúp đỡ mình.
3. Kết bài:
- Khẳng định vai trò của việc sống theo đạo lí "Uống nước nhớ nguồn": đây là lối sống đẹp cần có ở mỗi cá nhân.
- Nêu suy nghĩ về hướng rèn luyện của em:
+ Luôn nói lời "cảm ơn", biết ghi nhớ công lao của cha ông ta, của thầy cô, gia đình, bạn bè,... - những người đã giúp ta có được ngày hôm nay.
+ Không chỉ vậy mà còn luôn chủ động giúp đỡ mọi người xung quanh, lan toả giá trị tích cực của đạo lí "Uống nước nhớ nguồn".
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận. Ví dụ: Dẫn dắt từ câu tục ngữ: "Người càng vĩ đại thì càng khiêm tốn" (Tục ngữ Hàn Quốc).
- Nêu vấn đề: cần sống khiêm tốn.
2. Thân bài:
- Nêu quan điểm về lối sống khiêm tốn. Ví dụ: Khiêm tốn là tính nhã nhặn, biết sống một cách nhún nhường, luôn hướng về phía trước.
- Nêu biểu hiện của lối sống khiêm tốn:
+ Người khiêm tốn thường tự cho mình là kém cỏi, cần phấn đấu, trau dồi thêm.
+ Người khiêm tốn không bao giờ chấp nhận thành công của cá nhân mình ở thời điểm hiện tại, luôn tìm cách để thành công hơn nữa.
+ Người khiêm tốn không bao giờ hạ thấp người khác để nâng cao mình.
- Phân tích ý nghĩa của sống khiêm tốn:
+ Giúp ta không ngừng phấn đấu, không ngừng học hỏi để vươn lên mỗi ngày.
+ Giúp ta trở thành một người đáng tin cậy, các mối quan hệ vì thế cũng trở nên khăng khít, bền chặt hơn.
+ Một số tấm gương đã chứng minh cho vẻ đẹp của khiêm tốn:
Nhà bác học vĩ đại Enstein: “Tôi chỉ là một người bình thường như bao người khác thôi, cũng sống và làm việc mình yêu thích, sao gọi tôi là người nổi tiếng?”.
Anh Nguyễn Ngọc Mạnh - người đã đỡ cháu bé rơi từ tầng 12 chung cư - đã từ chối danh xưng "người hùng" khi báo chí phỏng vấn. Anh cho rằng mình chỉ là một người bình thường: “Mọi người gọi tôi là anh hùng thì tôi không dám nhận".
- Liên hệ bản thân trong việc rèn luyện lối sống khiêm tốn: bản thân tự nhận thấy đôi lúc mình còn "ngủ quên trong chiến thắng", coi thường người khác,...
3. Kết bài:
- Khẳng định vai trò của lối sống khiêm tốn: Khiêm tốn là đức tính cần có ở mỗi con người.
- Nêu suy nghĩ về hướng rèn luyện của em:
+ Tự ý thức được tầm quan trọng của sống khiêm tốn.
+ Luôn luôn không ngừng học hỏi, tiến lên phía trước, không được tự cao, tự mãn.
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận. Ví dụ: Những nhân vật vĩ đại thường sống giản dị: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Tôn Đức Thắng,...
- Nêu vấn đề: Cần hình thành lối sống giản dị.
2. Thân bài:
- Nêu quan niệm về lối sống giản dị. Ví dụ: Giản dị là lối sống đơn giản, cần kiệm.
- Nêu biểu hiện của lối sống giản dị trong đời sống:
+ Ăn uống: tiết kiệm, không lãng phí, không bày vẽ.
+ Ăn mặc: đơn giản, không rườm rà, không kiểu cách.
+ Lời nói, cử chỉ: hoà nhã, thân thiện.
+ ...
- Phân tích ý nghĩa của lối sống giản dị:
+ Giúp tiết kiệm tiền bạc, thời gian, công sức.
+ Tạo nên sự hoà đồng, kết nối, cảm thông lớn với mọi người.
+ Một số tấm gương đã chứng minh vẻ đẹp của lối sống giản dị: chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ tịch Tôn Đức Thắng,...
- Liên hệ với bản thân trong việc rèn luyện lối sống giản dị: về cơ bản, bản thân đã có ý thức sống tiết kiệm nhưng vẫn có đôi khi vô tình sống lãng phí (quên tắt đèn khi không sử dụng, mua những món đồ ít sử dụng,...)
3. Kết bài:
- Khẳng định vai trò của lối sống giản dị: là phẩm chất cao quý cần có ở mỗi con người.
- Nêu suy nghĩ về hướng rèn luyện của em: học cách sống giản dị từ những biểu hiện nhỏ nhất, tự nhắc bản thân luôn cần kiệm,...
Sau khi đọc bài thơ của Vũ Quần Phương, em cảm thấy lòng mình lắng lại trong một không gian yên ả, man mác buồn nhưng rất đỗi ấm áp. Bài thơ không có những cảm xúc mãnh liệt hay hình ảnh rực rỡ, mà chậm rãi, nhẹ nhàng như chính nhịp trôi của một buổi tối làng quê, nơi tình mẫu tử hiện lên âm thầm mà sâu sắc.Hình ảnh em bé ngồi nhìn ra ruộng lúa trong buổi tối đầu hè gợi lên cảm giác cô đơn, trống trải. Trên đầu em là “nửa vầng trăng non”, ánh trăng mờ nhạt càng làm không gian thêm tĩnh lặng. Em bé nhìn trăng nhưng chưa nhìn thấy mẹ – một chi tiết nhỏ mà khiến người đọc không khỏi xót xa. Mẹ đang “lẫn trên cánh đồng”, hòa vào bóng đêm và đồng lúa, cho thấy sự vất vả, lam lũ của người mẹ nông thôn. Mẹ gần đó thôi, nhưng lại xa trong cảm nhận của đứa trẻ đang chờ đợi.Cảnh vật trong bài thơ được miêu tả rất giản dị: căn nhà tranh chưa nhen bếp lửa, đom đóm bay ngoài ao rồi vào nhà. Tất cả đều gợi lên sự tĩnh mịch, hiu quạnh của buổi tối khi thiếu vắng bàn tay người mẹ. Ngọn lửa bếp chưa cháy cũng giống như hơi ấm gia đình đang tạm thời vắng bóng. Trong không gian ấy, em bé chỉ biết “chờ tiếng bàn chân mẹ”, chờ âm thanh quen thuộc của sự yêu thương và chở che. Chính sự chờ đợi ấy đã làm nổi bật tình cảm gắn bó, phụ thuộc rất tự nhiên của đứa con đối với mẹ.Đến khi hình ảnh “bàn chân mẹ lội bùn ì oạp phía đồng xa” xuất hiện, em cảm thấy vừa thương vừa kính trọng người mẹ. Chỉ bằng một chi tiết nhỏ, nhà thơ đã khắc họa rõ nét sự nhọc nhằn, vất vả của mẹ trên cánh đồng đêm. Mẹ hiện lên không lời than vãn, không kêu ca, mà lặng lẽ làm việc, lặng lẽ trở về với con. Cảnh khuya với “vườn hoa mận trắng” lung linh càng làm cho khoảnh khắc mẹ về thêm dịu dàng, giàu chất thơ.Câu thơ cuối “Mẹ đã bế vào nhà nỗi đợi vẫn nằm mơ” khiến em đặc biệt xúc động. Nỗi chờ đợi của em bé dường như dài đến mức đi vào giấc mơ, nhưng cũng chính vòng tay mẹ đã khép lại tất cả cô đơn, lo lắng. Bài thơ khép lại nhẹ nhàng, không nói trực tiếp đến tình yêu thương, nhưng lại khiến người đọc cảm nhận rất rõ hơi ấm của tình mẹ.Đọc xong bài thơ, em thấy thương mẹ mình hơn. Em hiểu rằng phía sau những bữa cơm, những buổi tối bình yên là biết bao nhọc nhằn thầm lặng của mẹ. Bài thơ của Vũ Quần Phương không chỉ gợi lại một khung cảnh làng quê quen thuộc, mà còn đánh thức trong em sự trân trọng đối với tình mẫu tử giản dị, bền bỉ và vô cùng thiêng liêng.